Tin nông nghiêp CN ngày 01 tháng 12 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiêp CN ngày 01 tháng 12 năm 2019

Dầu Tiếng (Bình Dương): Phát triển mạnh nông nghiệp công nghệ cao

Nguồn tin:  Báo Bình Dương

Để tạo ra nguồn nông sản chất lượng, nâng cao giá trị và bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, huyện Dầu Tiếng (tỉnh Bình Dương) đã và đang tích cực ứng dụng khoa học - kỹ thuật, phát triển nông nghiệp công nghệ cao.

Trang trại lan Mai Quốc Ảnh: XUÂN THI

Nhiều mô hình hiệu quả

Nhận thấy nhu cầu tiêu thụ sản phẩm sạch, chất lượng cao trên thị trường đang rất lớn, chị Nguyễn Như Ngọc ở ấp Đất Đỏ, xã An Lập đã đầu tư trên 1,2 tỷ đồng để xây dựng hệ thống nhà màng trồng dưa lưới Đài Loan trên diện tích 4.480m2. Chị Ngọc cho biết, khác với phương pháp canh tác truyền thống, trồng dưa lưới trong nhà màng có thể hạn chế được sâu bệnh xâm nhập, giúp cây phát triển tốt, cho năng suất cao. Với mô hình này, chị có thể trồng được 2 - 3 vụ mỗi năm mà không phụ thuộc vào tác động của môi trường và biến đổi thời tiết.

Sau khi trừ chi phí, mỗi năm 1 nhà màng chị Ngọc có lãi 35 - 40 triệu đồng/vụ; tính tổng số vụ gieo trồng trong năm chị có lợi nhuận hơn 400 triệu đồng. Đây là mô hình trồng dưa lưới áp dụng công nghệ cao đầu tiên của huyện Dầu Tiếng.

Trang trại trồng lan Mai Quốc ở ấp Hòa Lộc, xã Minh Hòa cũng là đơn vị tiên phong ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại huyện. Trang trại đã mạnh dạn đưa giống lan dendro về trồng với diện tích lớn (6 ha), mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ông Nguyễn Tấn Phước Vinh, chủ trang trại, chia sẻ ở Việt Nam hiện nay ít người trồng loại lan này, vì nó khó trồng hơn so với lan mokara. Khác với những loại lan trồng dưới đất hoặc trồng bằng xơ dừa, vườn lan của ông chủ yếu trồng bằng than và trồng trên giàn, do vậy phải đầu tư khá kỹ để xây dựng hệ thống vỉ đựng, chậu, mái che và cả hệ thống tưới nước tự động.

Trang trại của ông Vinh cung cấp cả hoa và chậu lan trưởng thành cho các chợ đầu mối ở TP.Hồ Chí Minh. Đây là giống cây chịu thời tiết tốt, lại ra hoa quanh năm, thị trường tiêu thụ lớn nên đầu ra ổn định. Dẫu vậy, trang trại đang nỗ lực ký hợp đồng lâu dài với các công ty, tìm đường xuất khẩu sản phẩm sang các nước. Trang trại đang giải quyết việc làm cho 30 công nhân, chủ yếu là người dân địa phương; thu nhập bình quân mỗi công nhân 190.000 đồng/ngày; ngày làm việc 7 giờ. Thu nhập mỗi năm của trang trại hơn 4 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Phương Linh, Chủ tịch UBND huyện Dầu Tiếng, cho biết thực hiện Chương trình số 18 của Huyện ủy về kế hoạch phát triển nông nghiệp - nông thôn trên địa bàn, UBND huyện đã cụ thể hóa, triển khai lồng ghép và kịp thời quy hoạch chi tiết ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Thời gian qua, huyện đã giữ vững diện tích cây trồng, tăng chất lượng và thay thế bằng giống mới.

Sớm tháo gỡ khó khăn

Tuy vậy, theo ghi nhận, việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện vẫn còn gặp không ít khó khăn. Khó khăn trước hết là chi phí đầu tư phát triển ứng dụng công nghệ cao cao gấp 3 - 4 lần so với phương pháp truyền thống. Mặc dù Chính phủ đã ban hành Quyết định 68 nhằm tạo điều kiện cho người dân vay vốn ưu đãi phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch nhưng trên thực tế người dân vẫn gặp khó để tiếp cận được nguồn vốn này.

Bên cạnh đó, để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đòi hỏi phải có nguồn nhân lực am hiểu về khoa học - kỹ thuật, tuy nhiên nguồn nhân lực có chuyên môn, được đào tạo trong lĩnh vực nông nghiệp của huyện vẫn đang còn thiếu.

Vừa qua, tại buổi làm việc với Ban Chỉ đạo Phát triển kinh tế tập thể tỉnh, lãnh đạo huyện đã báo cáo một số khó khăn về việc giải ngân nguồn vốn vay và một số vấn đề liên quan khác. Ban Chỉ đạo Phát triển kinh tế tập thể tỉnh đã ghi nhận, cam kết sẽ giúp huyện tháo gỡ những khó khăn trong thời gian tới.

Theo đó, Ban Chỉ đạo sẽ giúp địa phương tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi; đổi mới công nghệ, ứng dụng khoa học - kỹ thuật gắn với đẩy mạnh xúc tiến thương mại, giới thiệu quảng bá sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh trên thị trường.

Hiện toàn huyện có hơn có 660 ha cây ăn quả, trong đó có 102 ha nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đặc biệt, trên địa bàn đã hình thành vùng sản xuất chuối nuôi cấy mô với diện tích 117.08 ha do Công ty TNHH MTV Cao su Dầu Tiếng đầu tư và 27 ha do người dân tự đầu tư. Công ty cũng đang chuẩn bị đầu tư 2.300 ha cây có múi ứng dụng công nghệ cao. Bên cạnh đó, số lượng trang trại chăn nuôi tập trung trên địa bàn huyện phát triển nhanh chóng, với 216 trang trại gia súc, gia cầm, trong đó có 147 trang trại ứng dụng công nghệ cao.

HỒNG NGA

Phạt đến 500 triệu đồng nếu sử dụng đất trồng lúa vào mục đích khác không được phép

Nguồn tin:  Báo Chính Phủ

Theo Nghị định 91/2019/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, sử dụng đất trồng lúa vào mục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các điểm a và d khoản 1 Điều 57 của Luật đất đai sẽ bị phạt tiền đến 500 triệu đồng.

Ảnh minh họa

Cụ thể, chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng (trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 14 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 11 Điều 2 của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) thì sẽ bị xử phạt từ 2-50 triệu đồng tủy thuộc vào diện tích đất chuyển mục đích trái phép.

Chuyển đất trồng lúa sang đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì sẽ bị phạt tiền từ 3-70 triệu đồng tùy thuộc vào diện tích đất chuyển mục đích trái phép.

Chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn thì sẽ bị phạt tiền từ 3-250 triệu đồng tủy thuộc vào diện tích đất chuyển mục đích trái phép. Chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị thì hình thức và mức xử phạt bằng hai 2 lần mức phạt này.

Nghị định quy định mức phạt sử dụng đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất vào mục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các điểm c và d khoản 1 Điều 57 của Luật đất đai.

Cụ thể, chuyển đất rừng đặc dụng là rừng trồng, đất rừng phòng hộ là rừng trồng, đất rừng sản xuất là rừng trồng sang mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp thì sẽ bị phạt tiền từ 3-50 triệu đồng tùy thuộc vào diện tích đất chuyển mục đích trái phép (2).

Chuyển đất rừng đặc dụng là rừng trồng, đất rừng phòng hộ là rừng trồng, đất rừng sản xuất là rừng trồng sang đất phi nông nghiệp thì phạt tiền từ 3-250 triệu đồng (3).

Trường hợp chuyển đất rừng đặc dụng là rừng tự nhiên, đất rừng phòng hộ là rừng tự nhiên, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên sang mục đích khác thì hình thức và mức xử phạt được thực hiện bằng 02 lần mức phạt tương ứng với từng trường hợp chuyển mục đích tại (2), (3) nêu trên.

Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất phi nông nghiệp sẽ bị phạt đến 400 triệu đồng

Nghị định cũng quy định mức phạt sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất rừng phòng hộ, không phải là đất rừng đặc dụng, không phải là đất rừng sản xuất vào mục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các điểm b và d khoản 1 Điều 57 của Luật đất đai.

Cụ thể, chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm thì sẽ bị phạt tiền từ 2-50 triệu đồng tùy thuộc diện tích đất chuyển mục đích trái phép.

Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn thì sẽ bị phạt tiền từ 3-200 triệu đồng tủy thuộc diện tích đất chuyển mục đích trái phép (*).

Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị thì hình thức và mức xử phạt bằng 2 lần mức phạt quy định tại (*) nêu trên.

Chí Kiên

Vĩnh Long: Ít nguồn cung, giá chanh tăng mạnh

Nguồn tin: Báo Vĩnh Long

Theo nhiều tiểu thương, vài tháng nay giá chanh tăng 20- 30% so cùng kỳ. Hiện, chanh có hạt và chanh không hạt được thương lái mua tại vườn với giá từ 14.000- 17.000 đ/kg, giá chanh tại chợ cũng ở mức 20.000- 25.000 đ/kg.

Một số thương lái cho hay, giá chanh tăng và đứng ở mức cao là do thời tiết thay đổi thất thường, năng suất chanh giảm. Thêm vào đó, vài năm trước giá chanh liên tục ở mức thấp, nhiều người đã chuyển sang cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn, dẫn đến thời gian gần đây nguồn cung không có nhiều.

Chị Nguyễn Thị Lệ- tiểu thương chợ Phường 2 (TP Vĩnh Long) cho hay: Nhiều tháng nay chanh ít có hàng, trái cũng ít đẹp, không to. Giá cao xấp xỉ mùa cao điểm vào tháng nóng. Lúc trước bán rau còn có thể khuyến mãi thêm chanh nhưng giờ bán lẻ 1.000- 2.000 đ/trái chanh.

THẢO NGUYÊN

Thất thu vụ chuối bán Tết

Nguồn tin: Báo Phú Yên

Vườn chuối xã An Lĩnh (huyện Tuy An) ngã đổ do mưa bão. Ảnh: LÊ TRÂM

Cơn bão số 5 và số 6 vừa qua làm ngã đổ nhiều diện tích chuối trồng bán Tết của nông dân ở các xã An Xuân, An Lĩnh (huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên). Bên cạnh đó, nhiều diện tích chuối còn đứng nhưng lo sợ bão ngã đổ nên người trồng chặt phạt tàu làm cho chuối mất sức, dẫn đến không ra buồng vào dịp Tết.

Gió bão làm hư hại chuối

Xã An Lĩnh có 6 thôn, xóm nông dân trồng chuối trải một màu xanh từ nhà ra tận rẫy. Người dân ở đây chủ yếu thu nhập chính từ cây chuối, nhà ít nhất cũng có gần trăm cây chuối. Thế nhưng sau đợt mưa bão vừa qua, ngoài diện tích chuối ngã đổ, số còn lại do người dân chặt phạt tàu làm cho cây chuối mất sức, dẫn đến không ra buồng vào dịp Tết.

Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Phú Yên, với những vườn chuối bị ảnh hưởng do mưa bão thì nông dân dựng lại cây bị nghiêng, cắt tỉa lá bị gãy rách, khi đất đã se mặt, cần bón phân với liều lượng thích hợp để kích thích cây hồi phục, mọc rễ mới. Đối với những vườn bị gãy thân chính, nông dân dọn và xử lý tàn dư cây gãy đổ, chọn 1-2 cây con khỏe nhất trong khóm để chăm sóc thành cây thay thế cây chính đã gãy đổ.

Bà Mạnh Thị Trang ở xã An Lĩnh, trồng 2ha chuối để bán vào dịp Tết nhưng bão số 5 vừa qua làm ngã đổ 2/3 vườn chuối. Sau bão, vợ chồng bà Trang dùng cây có nạng chống đỡ cho chuối đứng vững. Bà Trang cho hay: Hai năm qua, vào dịp Tết, giá chuối dao động từ 10.000-12.000 đồng/kg, một nải chuối thường gần 2kg, còn một buồng chuối trung bình 10 nải bán từ 180.000-200.000 đồng.

Riêng gia đình tôi, hàng năm trung bình thu 30 triệu đồng từ tiền bán chuối Tết; với 2ha chuối ngã đổ, nếu chống đỡ cây nào gượng được thì buồng chuối nhẹ ký bán giá thấp, gia đình thất thu mùa chuối Tết năm nay trên 20 triệu đồng.

Còn ông Trần Văn Tiến, nông dân trồng chuối ở xã An Lĩnh, chia sẻ: Vườn chuối của tôi rộng 1ha, bão số 5 làm ngã đổ hết một nửa, những cây còn lại tôi dùng cây đỡ cho chuối đứng vững. Chưa kịp xong thì nghe tin bão số 6 đổ bộ, tôi lo sợ chuối ngã đổ nên phải chặt phạt tàu. Vì vậy, vườn chuối nhà tôi khi bị mất sức khó ra buồng đúng dịp Tết.

Theo kinh nghiệm của người trồng chuối, để chuối ra buồng bán đúng vào dịp Tết thì cứ tháng 4 bứng chuối con trồng chăm sóc đến tháng Chạp thu hoạch. Khi chuối ra buồng hết nải đến khi chín trong vòng 1 tháng. Thế nhưng khi chuối ngã hoặc bị phạt tàu thì cây chuối mất sức khó trổ buồng, nếu trổ buồng thì bị lép, nhẹ ký.

Tập trung chăm sóc chuối con

Thôn 1 là vựa chuối lớn nhất xã An Xuân, mỗi dịp Tết có gia đình thu nhập từ 30-40 triệu đồng từ vườn chuối. Chuối là cây mang lại thu nhập chính, từ thân, bắp đến buồng chuối đều được nông dân tận thu bán. Tuy nhiên, 2 cơn bão liên tiếp vừa qua đã quật ngã nhiều diện tích chuối. Gia đình bà Bùi Thị Nhung có 5 sào chuối bị bão làm ngã đổ bật gốc. Từ chỗ dự kiến dịp Tết này thu hoạch khoảng 10 triệu đồng, thì nay chỉ còn biết ra rẫy mót lại những buồng chuối còi bán kiếm tiền.

Chuối là cây trồng chính của người dân miền núi xã An Lĩnh, An Xuân, vì vậy số diện tích bị bão quật ngã nằm dài, xiêu vẹo khó khôi phục, nông dân chặt bỏ rồi bứng chuối con trồng mới. Ông Bùi Văn Dũng ở thôn 3, xã An Xuân cho hay: Cây chuối thân mềm gặp gió bão dễ gãy, khi gãy thời gian sau lột bẹ dẫn đến mất nước. Vì vậy, khi chuối bị bão ngã, dù vẫn xanh nhưng cây chuối khó ra buồng, người dân chặt bỏ trồng mới.

Theo thống kê của UBND huyện Tuy An, vùng trồng chuối tại xã An Xuân, An Lĩnh có hơn 600ha, cơn bão số 5 vừa qua làm ngã đổ 43ha chuối. Ngoài diện tích chuối ngã đổ thì có gần 100ha chuối do nông dân lo sợ bão quật ngã nên chặt tàu... Vì vậy, Tết này người dân thất thu mùa chuối.

Theo ông Cao Văn Tiên, Phó Phòng NN-PTNT huyện Tuy An, vùng trồng chuối của địa phương tập trung tại xã An Xuân, An Lĩnh và số ít ở xã An Thọ. Đất sản xuất ở đây chủ yếu là đất đá pha sạn cốm trên vùng gò đồi nên lâu nay người dân chỉ trồng cây chuối, hầu hết trồng bán dịp Tết. Sau bão, ngành Nông nghiệp cùng với địa phương đã vận động nhân dân khôi phục sản xuất, đầu tư trồng mới, chăm sóc tái tạo vườn chuối bị hư hại do mưa bão.

MẠNH LÊ TRÂM

Mãng cầu xiêm đầu vụ giá cao, nhà vườn phấn khởi

Nguồn tin: VOV

Trái mãng cầu xiêm được thu mua với giá tương đối cao (loại 1 ở mức 18.000 - 20.000 đồng/kg), khiến cho nhà vườn ở Hậu Giang vô cùng phấn khởi.

Hiện nay nhà vườn Hậu Giang đang bước vào thu hoạch trái mãng cầu xiêm. Trái mãng cầu xiêm được thu mua với giá tương đối cao, khiến cho nhà vườn vô cùng phấn khởi.

Hiện thương lái vào tận vườn thu mua mãng cầu xiêm loại 1 ở mức 18.000 - 20.000 đồng/kg, loại 2 ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, bình quân tăng hơn 3.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái.

Mãng cầu xiêm loại 1 hiện được thu mua ở mức 18.000 - 20.000 đồng/kg.

Với giá này, cùng với năng suất dao động từ 25-30 tấn/ha, sau khi trừ hết chi phí, nhà vườn Hậu Giang thu lợi nhuận hơn 200 triệu đồng/ha.

Nhiều nhà vườn cho biết, giá mãng cầu xiêm hiện nay đang ở mức cao là do mới vào vụ thu hoạch, sản lượng ít. Khi vào thu hoạch rộ, giá thường giảm khoảng 2.000 - 3.000 đồng/kg. Tuy nhiên chỉ cần mãng cầu được thương lái thu mua xô ở mức 10.000 đồng/kg là nhà vườn đã có lợi nhuận.

Vài năm trở lại đây, cây mãng cầu xiêm phát triển mạnh trên vùng đất Hậu Giang bởi đây là loại cây ăn trái dễ trồng, ít phải chăm sóc. Theo thống kê toàn tỉnh Hậu Giang hiện có gần 800 ha trồng mãng cầu xiêm, tập trung nhiều tại huyện Phụng Hiệp Châu Thành, Long Mỹ và Thị xã Ngã Bảy, trong đó có gần 550 ha đang cho trái./.

Tấn Phong/VOV-ĐBSCL

Cam sạch Hưng Yên

Nguồn tin: Báo Hưng Yên

Cam Hưng Yên đang vào vụ. Vị ngon, ngọt, thơm mát đặc trưng mà cam ở các vùng khác khó có thể so sánh. Những quả cam chín vàng, mọng nước bày bán khắp nơi, từ bình dân trong chợ, trên những sọt thồ đơn sơ hay sang trọng trên kệ của cửa hàng hoa quả sạch, trong siêu thị…

Và giá cả cũng chênh lệch khá lớn, thậm chí gấp đôi cho mỗi cân cam chỉ vì nơi bày bán hay nhờ có cái tem nho nhỏ dán trên quả.

Nhiều vườn cam tại xã Quảng Châu (thành phố Hưng Yên) quả đã chín vàng, căng mọng

Nhưng giờ đây, giá mỗi cân cam không còn là điều quan tâm duy nhất và trước tiên của nhiều người tiêu dùng. Với họ, điều ưu tiên hàng đầu là tiêu chí “sạch và an toàn”. Sở dĩ như vậy là vì niềm tin của người tiêu dùng đối với thị trường hoa quả sạch ngày càng teo tóp cùng với nỗi ám ảnh “chưa ăn đã ... no” do sợ mất an toàn thực phẩm.

Tự hào chất lượng cam thơm ngon đặc trưng trồng ở quê hương mình, xã Tam Đa (Phù Cừ), nhưng ông Trần Quang Vinh, người sở hữu vườn cam rộng hơn 1ha cũng xác nhận: “Những năm gần đây, do diện tích cam mở rộng, nguồn cung dồi dào nên giá cam thấp hơn trước. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm và yêu cầu khắt khe về cam sạch, an toàn”.

“Lối đi để chiếm lĩnh thị trường đầy cạnh tranh như hiện nay được địa phương xác định là sản xuất cam theo hướng hữu cơ, người tiêu dùng có thể truy xuất được nguồn gốc sản phẩm”, anh Trần Văn Bính, Giám đốc HTX nông nghiệp Ngũ Phúc - mái nhà chung của gần 50 thành viên dày dạn kinh nghiệm sản xuất cam ở xã Tam Đa, chia sẻ với chúng tôi.

Xã Tam Đa hiện đã quy hoạch vùng trồng cam rộng 51ha, trong đó trên 20 ha cam được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap. Năm nay, các thành viên của HTX nông nghiệp Ngũ Phúc được nhà nước hỗ trợ 60 nghìn tem truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm cam…

Cam Quảng Châu - thành phố Hưng Yên đã được chứng nhận nhãn hiệu tập thể từ năm 2017. Xã Quảng Châu cũng xác định sản xuất cam theo hướng sạch và an toàn. Hiện nay xã đã hình thành vùng trồng cam sạch theo quy mô lớn với khoảng 90 mẫu, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap đang cho thu hoạch.

“Toàn xã hiện có 150 hộ dân trồng cam với tổng diện tích gần 180 ha được sản xuất theo hướng VietGap. Cùng với nhãn lồng, cam là cây chủ lực mang lại cho nông dân hiệu quả cao về kinh tế, hàng năm cho lãi trên 400 triệu đồng/ha”, Chủ tịch UBND xã Quảng Châu Phan Văn Toan phấn khởi.

Cây cam đã bén rễ hàng chục năm trên động ruộng Quảng Châu đem lại cơm no, áo ấm, còn giúp người dân làm giàu. Để “phục vụ” cho cây cam, khoảng 1000 lao động thường xuyên và thời vụ xoay vần với công việc, lĩnh “lương” từ 7 - 7,5 triệu đồng/người/tháng.

Anh Trần Văn Cần, thôn I xã Quảng Châu (thành phố Hưng Yên) đang thu hoạch quả

HTX sản xuất và tiêu thụ cam Quảng Châu được thành lập, trên cơ sở thống nhất của 45 thành viên là những hộ trồng cam tiêu biểu của xã. Để bảo đảm sản phẩm cam an toàn, HTX hướng dẫn các thành viên làm theo đúng tiêu chuẩn, ghi chép đầy đủ nhật ký từ lúc sử dụng thuốc BVTV đến thu hái theo quy trình VietGAP. Trong đó, HTX sử dụng 100% thuốc BVTV sinh học. Sử dụng loại thuốc gì, định kỳ bao nhiêu ngày mới cho thu hái được đều được ghi chép tỉ mỉ. Và quan trọng nhất là trước thu hoạch HTX tiến hành cách ly đúng theo hướng dẫn.

“Thành phố cũng quy hoạch và mở rộng diện tích trồng cam theo tiêu chuẩn VietGap tại các xã Tân Hưng, Hoàng Hanh, Phú Cường, Hùng Cường... nhằm hình thành vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ổn định và bền vững”, Trưởng phòng kinh tế thành phố Hưng Yên Nguyễn Văn Oanh khẳng định.

Giống như những địa phương trên, xã Đồng Thanh (Kim Động) mỗi năm cung cấp ra thị trường hàng trăm tấn cam các loại, được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh ưa chuộng. Cam Đồng Thanh đã được công nhận nhãn hiệu tập thể từ năm 2018. HTX sản xuất rau quả và dịch vụ thương mại xã Đồng Thanh đã tập hợp được các hộ sản xuất cam có kinh nghiệm, đồng thời khởi xướng, nhân rộng và duy trì việc sản xuất cam theo quy trình VietGap. Đến mùa cam năm nay, xã đã có 30ha cam được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGap.

Cam Vietgap trồng tại Đồng Thanh tuân thủ quy trình từ khi chăm sóc đến thu hoạch và tiêu thụ. Cam sau khi được thu hái không sử dụng chất bảo quản, được dán tem chống hàng giả, khi quét mã khách hàng sẽ truy xuất được nguồn gốc, thông tin sản phẩm...

Hiện nay, toàn tỉnh đang tích cực mở rộng vùng trồng cam theo tiêu chuẩn VietGap, nhằm thay đổi tư duy, trình độ và cách thức tổ chức sản xuất của nông dân, tạo ra sản phẩm chất lượng, hình thành vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn và bảo đảm ổn định đầu ra của sản phẩm.

Nhiều HTX và doanh nghiệp trong tỉnh đã được cấp chứng nhận VietGap trên diện tích gần 100ha như: HTX sản xuất và tiêu thụ cam Quảng Châu, HTX sản xuất rau quả dịch vụ thương mại xã Đồng Thanh, HTX dịch vụ thương mại nông sản hữu cơ Hồng Tiến, HTX nông nghiệp Đức Vinh, Công ty TNHH Đầu tư và phát triển TTM Farm…

Theo Sở Nông nghiệp và PTNT, cam là một trong những loại quả chủ lực của Hưng Yên, từ lâu đã được người tiêu dùng ưa thích. Toàn tỉnh hiện có khoảng 2000 ha cam, sản lượng ước đạt trên 35 nghìn tấn. Thời điểm nay, những quả cam sạch và an toàn, chín vàng, căng mọng nước trồng ở Hưng Yên đang được hối hả vận chuyển đến thị trường trong và ngoài tỉnh.

Minh Huệ

Đắk Nông: Nông dân Đắk Ru thu hái cà phê chín muồi: Lợi ích kép

Nguồn tin: Báo Đắk Nông

Bằng việc liên kết với doanh nghiệp thu mua cà phê, nhiều người dân ở xã Đắk Ru (Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông) đã thu hoạch cà phê chín muồi để bán với giá cao hơn so với thị trường, đồng thời đây cũng là cách sản xuất cà phê bền vững, đem lại lợi ích kép.

Thu hoạch cà phê chín tỉ lệ cao mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất

Ông Nguyễn Thanh Phong, ở thôn 8, xã Đắk Ru có hơn 3 ha cà phê. Hơn 4 năm nay ông liên kết với doanh nghiệp thu mua cà phê nên năm nào ông cũng đợi cà phê có tỉ lệ quả chín cao mới bắt đầu hái. Cách hái cà phê của gia đình là chia thành nhiều đợt, lựa cây cà phê có tỷ lệ quả chín cao để hái.

Ông Phong cho biết, trước đây ông chỉ thu hái cà phê có tỉ lệ quả chín cao rồi về phơi nhưng từ khi liên kết được với công ty thu mua cà phê chín ông hái và bán tươi. Mỗi vụ thu hoạch ông chia thành 3 đợt. Đợt 1 và đợt 2 ông lựa những cây cà phê có tỉ lệ quả chín cao để hái, còn đợt 3 hái đồng loạt.

Việc hái cà phê chín tốn công hơn, nên ông phải thuê nhân công cao hơn thị trường từ 20 ngàn đồng/ngày công. Nếu thuê khoán thì ông trả cho nhân công 1.500 đồng/kg cà phê tươi, cao hơn 500 đồng/kg so với giá đại trà. Hiện nay, doanh nghiệp đang thu mua cà phê tươi chín với giá khoảng 10.500 đồng/kg, cao hơn từ 3.500 - 4.000 đồng/kg so với giá trị trường.

"Tính ra trừ công hái tôi thu tầm 9.000 đồng/kg cà phê tươi. Trong khi bán xô theo giá thị trường chỉ thu được tầm 5.500 đồng/kg sau khi trừ công cán. Tôi thấy hái cà phê chín hiệu quả hơn nhiều so với hái cà phê xanh. Năm vừa qua, diện tích cà phê của gia đình tôi thu được 20 tấn cà phê tươi chín 100%, tính ra tôi đã có thu nhập cao hơn giá bán xô trên thị trường 70 triệu đồng sau khi trừ chi phí", ông Phong cho biết.

Lựa cà phê chín 100% để chế biến giúp nâng cao chất lượng cà phê

Tương tự, anh Mai Văn Nguyên, ở thôn 8, xã Đắk Ru, có 2 ha cà phê. 3 năm nay, gia đình anh đều hái cà phê chín 100% vì có sự liên kết với doanh nghiệp thu mua cà phê. Mỗi vụ thu hoạch, anh Nguyên chia thành nhiều đợt để bảo đảm việc hái cà phê chín. Anh Nguyên cho biết, việc hái chín gặp khó khăn về công hái nhưng đổi lại giá bán cao hơn nhiều, nên giúp gia đình khắc phục khó khăn về nhân công bằng cách trả công cao hơn thị trường. "Tôi thấy việc hái cà phê quả chín mang lại hiệu quả kinh tế cao nên đã cố gắng khắc phục khó khăn về công hái. Bù lại gia đình có thu nhập cao hơn", anh Nguyên chia sẻ.

Hiện nay Công ty Cổ phần cà phê chất lượng cao Đắk Nông, thôn 8, xã Đắk Ru, đang liên kết thu mua cà tươi hái chín của 40 hộ dân trên địa bàn, với diện tích 50 ha, sản lượng khoảng 120 tấn quả cà phê tươi mỗi năm. Quy trình sản xuất cà phê của công ty yêu cầu người dân chăm sóc cây bằng các loại phân, thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Việc dùng thuốc bảo vệ thực vật phải cách thời gian thu hoạch từ 2 - 3 tháng và không sử dụng thuốc xịt cỏ trong quá trình chăm sóc cà phê. Cà phê tươi hái chín 100% sẽ được công ty thu mua với giá 10.000 - 10.500 đồng/kg, cao hơn giá thị trường từ 3.500 - 4.000 đồng/kg.

Tỷ lệ quả cà phê chín phải đạt trên 80%: Theo Tiêu chuẩn ngành 10TCN 478:2001 về quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cà phê do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành ngày 9/1/2002, sản phẩm cà phê sau thu hoạch tỷ lệ quả chín phải đạt từ 90 - 95%; tỷ lệ tạp chất không quá 0,5%. Vào đợt tận thu tỷ lệ quả chín phải đạt trên 80%, tỷ lệ tạp chất không quá 1%. Việc thu hái cà phê trong một vụ được thực hiện ít nhất 2 lần trở lên. Các biện pháp sơ chế, bảo quản cà phê sau thu hoạch cũng được Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn khá chi tiết để người dân áp dụng, không làm giảm chất lượng cà phê.

Theo ông Trần Văn Phú, Giám đốc Công ty Cổ phần cà phê chất lượng cao Đắk Nông, việc liên kết thu mua cà phê chín đã giúp công ty có được vùng nguyên liệu đầu vào chất lượng để sản xuất cà phê chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Công ty đang thực hiện chế biến theo dòng sản phẩm cà phê honey. Hiện nay công ty đang có nhu cầu liên kết với các hộ sản xuất cà phê trên địa bàn tỉnh để mở rộng diện tích vùng nguyên liệu. Các hộ liên kết chỉ cần đáp ứng quy trình sản xuất của công ty, giảm thuốc bảo vệ thực vật, không dùng thuốc trừ cỏ, sử dụng phân hữu cơ, thu hoạch cà phê chín 100%.

"Về phía người sản xuất sẽ được lợi về giá, công thu hái cà phê tươi chín được tính vào tiền thu mua làm sao để người dân có lợi nhất để người sản xuất gắn bó lâu dài với công ty", ông Phú cho biết.

Bài, ảnh: Đức Hùng

Phát triển cây dược liệu ở Hà Nội: Thúc đẩy, nhân rộng các mô hình

Nguồn tin: Hà Nội Mới

Cây dược liệu được coi là cây trồng mũi nhọn của ngành trồng trọt trong quá trình thực hiện tái cơ cấu bởi hiệu quả kinh tế cao, nhu cầu thị trường lớn… Những năm gần đây, Hà Nội đã quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển cây dược liệu. Tuy nhiên, để thúc đẩy, nhân rộng các mô hình trồng cây dược liệu, cần có thêm nhiều giải pháp từ các cấp, ngành chức năng và các doanh nghiệp.

Thành công từ những mô hình điểm

Khu trồng dược liệu hữu cơ tại xã Bắc Sơn (huyện Sóc Sơn) được coi là vùng trồng dược liệu lớn nhất của Hà Nội. Theo Giám đốc Hợp tác xã Bảo tồn và phát triển dược liệu Sóc Sơn Nguyễn Thanh Tuyền, từ 5ha ban đầu hình thành vào năm 2015, đến nay, hợp tác xã đã phát triển quy mô trồng lên tới 21ha tại xã Bắc Sơn và 5ha tại xã Xuân Giang. Ngoài những loại dược liệu như: Xuyên khung, khôi tía, bán chi liên, phúc bồn tử, kỳ tử…, hợp tác xã đang trồng và bảo tồn loài trà hoa vàng pagoda - một loại dược liệu quý của Việt Nam.

Nói về mô hình trồng dược liệu trên địa bàn, Phó Chủ tịch UBND huyện Sóc Sơn Vi Thị Bình Anh cho biết, trước kia, việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các xã vùng đồi, núi rất khó khăn bởi địa chất vùng đồng kém…

Thế nhưng, cây dược liệu sinh trưởng và phát triển tốt, đến nay, Sóc Sơn đã có 66ha trồng dược liệu, chủng loại đa dạng, có giá trị kinh tế đạt 370-500 triệu đồng/ha/năm. Đây là hướng chuyển đổi mới của nông nghiệp Sóc Sơn.

Khu vườn trồng dược liệu của Hợp tác xã Bảo tồn và phát triển dược liệu Sóc Sơn.

Tương tự, dù mới bắt tay vào trồng cây dược liệu chưa lâu nhưng các sản phẩm được bào chế từ cây dược liệu của Hợp tác xã Tâm An (huyện Thường Tín) đã có mặt tại các hệ thống siêu thị lớn. Giám đốc Hợp tác xã Tâm An Nguyễn Thị Thu cho hay, chùm ngây, cà gai leo, húng chanh, đinh lăng… là những cây trồng chính. Với quy mô sản xuất gần 2ha tại xã Khánh Hà (huyện Thường Tín), ngoài bán nguyên liệu thô, hợp tác xã đã chế biến các loại trà đóng gói từ cây dược liệu…

Những năm gần đây, việc trồng cây dược liệu đã, đang được mở rộng tại một số địa phương trên địa bàn Hà Nội. Theo thống kê của Sở NN&PTNT, toàn thành phố hiện có 673ha trồng cây dược liệu. Cụ thể, huyện Sóc Sơn có 171ha, Mỹ Đức 61,2ha, Ba Vì 30ha…

“Cây dược liệu là nguồn thuốc quý của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi nhiều dịch, bệnh nguy hiểm đã và đang xuất hiện. Nhiều người dân đã quay lại sử dụng các loại thuốc bào chế từ dược liệu truyền thống. Xét về thị trường, đây là nguồn “cầu” dồi dào cho cây dược liệu phát triển”, Giám đốc Trung tâm Phát triển cây trồng Hà Nội Hoàng Thị Hòa nhấn mạnh.

Giải pháp nào để nhân rộng?

Đánh giá về tiềm năng, Tiến sĩ Lê Hưng Quốc, Chủ tịch Hiệp hội Giống cây trồng Hà Nội cho rằng, điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng của Hà Nội phù hợp để phát triển đa dạng các loại cây dược liệu. Các huyện miền núi Ba Vì, Sóc Sơn, Mỹ Đức… có thổ nhưỡng, độ dốc địa hình, điều kiện thời tiết phù hợp với các loại cây như: Khôi tía, trà hoa vàng, trà hoa cúc Nhật… Vùng bán sơn địa Chương Mỹ, Thạch Thất có thể phát triển các loại cây cà gai leo, mật gấu…

Lý giải vì sao cây dược liệu mang lại hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng nhưng đến nay các mô hình trồng dược liệu ở Hà Nội vẫn nhỏ lẻ với diện tích khiêm tốn, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Nguyễn Xuân Đại nhìn nhận, nguyên nhân chính là cơ sở hạ tầng sản xuất hạn chế; kỹ thuật trồng chủ yếu theo kinh nghiệm; thị trường tiêu thụ tiềm năng nhưng chưa được khai thác, quản lý đầy đủ nên chưa phát huy hiệu quả…

Về vấn đề này, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Mỹ Thành (huyện Mỹ Đức) Đinh Tiến Thao cho biết, năm 2015, hợp tác xã đã kết hợp với Công ty Dược Tuệ Linh xây dựng vùng trồng cây dược liệu (chủ yếu là cây cà gai leo). So với lúa, rau màu, cây dược liệu cho hiệu quả kinh tế gấp 4-5 lần.

Tuy nhiên, nếu trồng tự phát thì người dân sẽ không biết tiêu thụ sản phẩm thế nào. Bên cạnh đó, sản xuất cây dược liệu phải tuân thủ nghiêm những quy định về trồng, chăm sóc, nếu không được học tập, tập huấn, nông dân khó có thể trồng, chăm sóc được các loại cây này.

Để phát triển cây dược liệu ở Hà Nội, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Nguyễn Xuân Đại cho hay, Sở NN&PTNT đã kết hợp với Sở Y tế, Sở Khoa học và Công nghệ, Viện Nông nghiệp Việt Nam… tiến hành khảo sát tại các xã miền núi, đồi gò của Hà Nội; xây dựng mục tiêu hình thành các vùng cây dược liệu 600-1.000ha vào năm 2020; 1.500-2.000ha vào năm 2030.

Để hoàn thành mục tiêu đó, đồng thời từng bước nhân rộng các mô hình trồng cây dược liệu, mang lại thu nhập cao cho nông dân, Hà Nội ưu tiên chọn các giống dược liệu bản địa, phù hợp với canh tác lâu đời của địa phương; hỗ trợ các địa phương hình thành vùng dược liệu chuyên canh đạt tiêu chuẩn; xây dựng vùng trồng, chủng loại trồng trên thực tế để có giải pháp đầu tư và phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất...

Cụ thể, Hà Nội phát triển vùng dược liệu hữu cơ tại Sóc Sơn; vùng dược liệu cổ truyền người Dao tại Ba Vì; du nhập và phát triển một số dược liệu quý, giá trị kinh tế cao tại Thạch Thất, Phú Xuyên, Đông Anh...

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Xuân Đại, để phát triển mô hình trồng cây dược liệu rất cần có sự tham gia của các doanh nghiệp, bởi đây là loại hàng hóa đặc thù, bài toán tiêu thụ cần được tính toán kỹ lưỡng. Hà Nội sẽ xây dựng cơ chế thu hút các doanh nghiệp dược có thế mạnh để liên kết cùng nông dân trong phát triển cây dược liệu.

ĐỖ MINH

Phú Yên: Lắp đặt 42 bẫy đèn dự báo, ngăn ngừa sâu bệnh hại

Nguồn tin:  Báo Phú Yên

Ông Nguyễn Văn Minh, Chi Cục phó Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Phú Yên, cho biết trong năm 2019, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật lắp đặt 42 bẫy đèn tại các huyện Tây Hòa, Đông Hòa, Phú Hòa, Tuy An và TP Tuy Hòa.

Kết quả số liệu côn trùng vào đèn mỗi đêm được ghi chép vào sổ số liệu và báo cáo định kỳ vào thứ ba và thứ sáu hàng tuần. Qua đó đã dự báo được các lứa rầy nâu, muỗi năn, sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ có khả năng phát sinh gây hại trên một số trà lúa; kịp thời hướng dẫn nông dân phòng trừ, góp phần hạn chế thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra.

Đồng thời, chi cục chỉ đạo các trạm phối hợp với các hợp tác xã kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, theo dõi diễn biến phát sinh gây hại của từng đối tượng sinh vật hại. Đặc biệt quan tâm những khu vực sinh vật hại thường phát sinh qua nhiều năm, nhiều vụ. Qua đó hướng dẫn các địa phương trong công tác chỉ đạo và tổ chức phòng trừ sâu bệnh khi có dịch hại bùng phát.

TRÂM TRÂN

Nông dân liên kết nuôi bò

Nguồn tin: Báo Bình Phước

Năm 2019, Tân Tiến được chọn là xã điểm thực hiện xây dựng đạt chuẩn nông thôn mới (NTM) nâng cao của huyện Đồng Phú (tỉnh Bình Phước). Bên cạnh tập trung nguồn lực, huy động sức dân nâng chất các tiêu chí đã đạt thì việc đa dạng loại hình phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho người dân được xã đặc biệt chú trọng. Trong đó, mô hình chăn nuôi bò thịt theo chuỗi giá trị với quy mô 100 con của Hợp tác xã (HTX) thương mại, dịch vụ, sản xuất, chăn nuôi Đồng Phú là một minh chứng.

Với điều kiện thuận lợi về đất đai, khí hậu, cơ chế chính sách, thị trường tiêu thụ, người chăn nuôi ở Bình Phước nói chung và chăn nuôi bò thịt nói riêng đang tận dụng lợi thế đầu tư phát triển thông qua biện pháp cải tiến về con giống. Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có 38.685 con bò, tăng 2,48% so cùng kỳ năm 2018, trong đó Đồng Phú có gần 2.400 con.

CẢI TẠO “TẦM VÓC” ĐÀN BÒ

Ngoài nguồn thu chính từ các loại cây công nghiệp, nhiều năm nay, người dân xã Tân Tiến còn tận dụng diện tích đất trống trồng cỏ nuôi bò với mức bình quân 2-3 con/hộ. Tuy nhiên, phần lớn nông dân chăn nuôi theo hình thức nhỏ lẻ, phân tán; đa số con giống kém chất lượng, thể trạng nhỏ, sản lượng thịt thấp nên lợi nhuận thu về không cao. Hướng đến mục tiêu phát triển chăn nuôi bò theo chuỗi giá trị, cải tạo đàn bò giống, năm 2017, anh Lưu Văn Thanh ở ấp Thái Dũng, xã Tân Tiến cùng một số hộ đứng ra thành lập HTX thương mại, dịch vụ, sản xuất, chăn nuôi Đồng Phú.

Mô hình chăn nuôi bò khép kín của gia đình anh Lưu Văn Thanh ở ấp Thái Dũng, xã TânTiến (Đồng Phú) được đánh giá cao về tính thương mại hóa

Từ 8 xã viên ban đầu, sau gần 2 năm hoạt động, số thành viên của HTX tăng lên 50 người với vốn điều lệ 3 tỷ đồng. Trong quá trình hoạt động, HTX đã mạnh dạn chuyển đổi phương pháp truyền thống sang nuôi bò chất lượng cao theo hướng hàng hóa. Với phương châm “chăn nuôi hướng đến nhu cầu của thị trường”, HTX đã áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến vào chăn nuôi, đảm bảo đầu ra ổn định cho sản phẩm.

Anh Lưu Văn Thanh chia sẻ: Giống bò truyền thống phát triển chậm, thời gian nuôi từ 8-12 tháng, nhưng chỉ đạt trọng lượng từ 150-200kg, giá 7-10 triệu đồng/con. Giống bò này còn bị thoái hóa, trùng huyết nên tỷ lệ thịt không cao. Do vậy, HTX đã chủ động lai tạo đàn bò giống, bò thịt theo hướng tăng trọng lượng và chất lượng thịt. Bằng việc sử dụng các giống bò to cao, nhiều thịt, như: 3B, Brahman, Laisindhi, Red angus và Charolais phối giống với đàn bò cái sẵn có tạo đàn bò lai có tốc độ sinh trưởng nhanh, phát triển tốt, tỷ lệ thịt cao; thích nghi điều kiện tự nhiên tại địa phương. Khoảng 6 tháng tuổi, bê đạt từ 180-220kg/con, có giá khoảng 13-16 triệu đồng/con. Anh còn gắn camera tại chuồng để tiện theo dõi bò cái sinh sản. Bê đực đa số được nuôi đến khi đạt trọng lượng từ 850-1.050kg/con xuất bán với giá 45-65 triệu đồng/con, được nhiều hộ chọn làm vật nuôi chính.

Hiện các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện phát triển cả số lượng và chất lượng sản phẩm. Toàn huyện hiện có 41 trang trại, trong đó 12 trang trại nuôi gia cầm, 28 trang trại nuôi heo, 1 trang trại nuôi bò. Nhiều giống vật nuôi mới cho năng suất, chất lượng cao được đưa vào sản xuất, như: bò ngoại, heo ngoại, các giống gia cầm hướng trứng, hướng thịt... tạo ra khối lượng sản phẩm phục vụ nhu cầu trong và ngoài nước. Do đó, thu hút đầu tư chăn nuôi trang trại với quy mô công nghiệp, hiện đại, ứng dụng công nghệ cao là định hướng phát triển của huyện đang góp phần quan trọng thực hiện thành công chương trình đột phá “Tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp” như nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015-2020 đề ra.

HTX còn xây dựng quy chuẩn trong chăn nuôi cho từng hộ xã viên nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh dịch bệnh, tiêm phòng định kỳ. Nhờ chất lượng tốt, bò giống của HTX luôn duy trì giá bán ổn định và cao hơn giá thị trường. “Trước đây, một con bò giống chỉ bán được 8 triệu đồng, nhưng từ khi tham gia HTX giống bò được cải tạo nên phát triển rất tốt. HTX còn là đầu mối tiêu thụ bò thịt của người chăn nuôi vào dịp lễ, tết; cung cấp bò thịt cho thị trường TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận nên người chăn nuôi có nguồn thu ổn định. Giống bò lai dễ nuôi, ít bị bệnh, giá trị kinh tế cao hơn từ 30-40% so với giống bò truyền thống nên kinh tế gia đình tôi cải thiện đáng kể” - ông Tôn Thất Bình ở ấp Minh Hòa, xã Tân Tiến chia sẻ.

Để chủ động nguồn thức ăn chăn nuôi, các xã viên còn xây dựng quy trình chăn nuôi khép kín. Với quy mô chuồng trại luôn duy trì từ 30-50 con tùy thời điểm, anh Thanh đã đầu tư xây dựng chuỗi trồng trọt kết hợp chăn nuôi làm điểm để xã viên học tập. Anh kết hợp trồng cỏ nuôi bò, lấy phân nuôi trùn quế; lấy trùn quế nuôi gà, vịt; phân trùn quế dùng bón cỏ và cây ăn trái. Hiện 3 ha cây ăn trái, gồm dừa xiêm, ổi Đài Loan, quýt đường, bơ, sầu riêng... mỗi năm không chỉ cho gia đình anh Thanh nguồn thu lớn mà còn tiết kiệm khoảng 30 triệu đồng tiền mua phân bón. Anh Thanh cho biết: “Nhu cầu mua bò giống và bò thịt trong tỉnh khá cao, trong khi Bình Phước chưa có nhiều trang trại chăn nuôi bò quy mô lớn. Vì thế, nuôi bò sinh sản cung cấp giống theo nhu cầu cho người dân ở các khu vực lân cận đang là hướng HTX tập trung phát triển trong thời gian tới”.

NÂNG CHẤT ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN

Nuôi bò tuy không phải nghề chính nhưng đang mang lại thu nhập ổn định từ 50-100 triệu đồng/năm nếu các hộ duy trì đàn từ 7-10 con. Nâng chất NTM chính là nâng cao đời sống người dân. Với mục tiêu đến năm 2020 thu nhập bình quân đạt 61,5 triệu đồng/người, UBND xã Tân Tiến đang huy động mọi nguồn lực tập trung phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp. Xã còn đề ra các giải pháp nâng cao thu nhập người dân thông qua đào tạo nghề cho lao động nông thôn, định hướng ngành, nghề phù hợp, tư vấn, giới thiệu việc làm để người dân tham gia học nghề và có việc làm ổn định. Đồng thời, khuyến khích người dân mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất để mang lại hiệu quả kinh tế cao trên cùng đơn vị diện tích...

HTX thương mại, dịch vụ, sản xuất, chăn nuôi Đồng Phú đang hướng đến mục tiêu phát triển chăn nuôi theo chuỗi giá trị, cải tạo đàn bò

Đến nay, xã đã triển khai 6 mô hình nuôi dê sinh sản, 2 mô hình nuôi bò lai sind. Ngoài ra, xã còn thành lập HTX thương mại, dịch vụ, sản xuất rau sạch Thành Phương với vốn điều lệ 10 tỷ đồng; duy trì tổ hợp tác ươm giống cây trồng, chuyên cung cấp giống cây trồng chất lượng cao cho nông dân.

Ngân Hà

Mô hình nuôi lợn an toàn, chủ trại thu trăm triệu đồng mỗi ngày

Nguồn tin: VOV

Áp dụng nghiêm túc phương pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, trại lợn của ông Lê Mạnh Quý (Lào Cai) thu về nguồn lợi lên đến cả trăm triệu mỗi ngày.

Áp dụng nghiêm túc phương pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi là “bí kíp” giúp chuỗi trang trại lợn quy mô lớn ở Lào Cai “sống khỏe” giữa tâm dịch tả châu Phi, mang về nguồn lợi lên đến cả trăm triệu mỗi ngày.

Chủ chuỗi trang trại lợn nói trên là ông Lê Mạnh Quý, Giám đốc Hợp tác xã chăn nuôi Quý Hiền ở Sơn Hà, Bảo Thắng, Lào Cai. Ông Quý từng được nhiều người biết đến nhờ thành công từ những trại gà vạn con áp dụng chăn nuôi công nghệ cao.

Ông Lê Mạnh Quý, Giám đốc Hợp tác xã chăn nuôi Quý Hiền ở Sơn Hà, Bảo Thắng, Lào Cai

Mặc dù mới “bước chân” vào nghề nuôi lợn từ năm 2016, nhưng đến nay ông Quý đã sở hữu trong tay 6 trang trại lợn, gồm 5 trại lợn thịt và 1 trại lợn nái giống, tổng đàn vào trên 7.000 con, với số vốn gần 80 tỷ đồng.

Điều đáng nói, suốt thời gian dài kể từ tháng 4/2019, khi dịch tả châu Phi chính thức xuất hiện và bùng phát chóng mặt ở Lào Cai, 6 trại lợn của ông Quý phân bổ rải rác giữa tâm dịch, nhưng tất cả đều trụ vững, ngay cả khi đàn lợn của hộ cận kề mắc dịch phải tiêu hủy hết.

“Đã xác định làm chăn nuôi thì phải đối mặt với dịch, không dịch này thì dịch khác, nhưng tài sản của mình thì mình phải giữ, chỉ có một là sống hai là chết, nếu không kiểm soát tốt thì sẽ không còn cơ hội, phá sản ngay!” - ông Quý cho biết.

Khu trang trại lợn thịt của ông Quý nhìn từ trên cao

Dịch tả châu Phi là một loại bệnh dịch hoàn toàn mới nên ông Quý khá bỡ ngỡ, ngoài tích cực lắng nghe từ nhiều nguồn thông tin thì cơ bản ông vẫn áp dụng từ kinh nghiệm… nuôi gà và cảm nhận của chính cá nhân.

“Bản thân tôi từng chứng kiến trang trại của một người bạn mắc dịch tả châu Phi và thấy rằng nếu giám sát, ngăn cách tốt mầm bệnh thì thậm chí ngay bên cạnh cũng không ảnh hưởng. Bởi vậy đầu tiên tôi cho rằng, phải áp dụng hàng rào sinh học tốt nhất có thể” - ông Quý chia sẻ.

Từ suy nghĩ đó, hàng rào sinh học do ông Quý lập ra nhằm phân định, ngăn cách giữa vành đai trong và ngoài trang trại. Theo đó, đầu vào trang trại gồm thức ăn, nước, thuốc thú y, con giống… và đầu ra là sản phẩm xuất bán luôn được kiểm soát chặt chẽ cùng các bước khử trùng nghiêm ngặt.

Cổng vào một trang trại lợn của ông Quý.

Trước khi vào trang trại phải lội qua hố khử trùng zic zắc và hệ thống phun sương khử trùng dày đặc.

Ngay đầu đường dẫn vào cổng các trang trại của ông Quý đã rắc trắng vôi bột cũng như thường xuyên phun thuốc khử trùng.

Sau cánh cổng luôn đóng kín là một hố nước sát trùng lớn bố trí thành lối đi kiểu “zic zắc”, bên trên là hệ thống phun suơng khử trùng dày đặc. Bất cứ ai muốn vào trại đều phải lội trực tiếp cả bàn chân qua hố nước, bởi theo ông Quý “bàn chân chính là chỗ dễ mang mầm bệnh từ nơi này qua nơi khác”.

Trong trại là một mô hình chăn nuôi lợn khép kín, biệt lập hoàn toàn với xung quanh. Nếu không được biết trước, ngay cả khi đặt chân vào trại rồi cũng ít ai phát hiện ra có lợn nuôi ở đây, phần vì công tác vệ sinh, khử trùng khá bài bản, phần vì chuồng nuôi “bí mật” như căn cứ quân sự.

Để tiếp cận trực tiếp với lợn trong trại, tiếp tục phải qua một lối đi dài phủ trắng vôi bột dẫn tới khu chăn nuôi riêng, tới đây một lần nữa phải qua cánh cổng phụ có bố trí hố nước khử trùng, tiếp đến phải thay toàn bộ quần áo, đeo ủng mới được vào chuồng – nơi ngay cửa vẫn còn một hố nước cuối cùng phải lội qua.

Hệ thống chuồng nuôi khép kín.

“Đây là đối với trại lợn thịt, còn trại nái - giống thì mọi quy trình phải đảm bảo chặt chẽ hơn nữa vì con nái và con giống vốn dĩ sức đề kháng yếu hơn” - ông Quý cho biết.

Bên trong khu chuồng nuôi lợn thịt, hệ thống đèn điện và quạt điều hòa không khí hoạt động 24/24h, duy trì ánh sáng, không khí thông thoáng cùng nhiệt độ ổn định suốt bốn mùa.

Các ngăn chuồng cũng tách biệt máng ăn, nước tắm. Lợn trong trại không “bị” tắm mà có máng nước tắm riêng để “tự tắm theo sở thích”, nước tắm cũng được thay định kỳ.

Việc vệ sinh, khử trùng vành đai trong tính từ trong chuồng nuôi ra đến cổng phụ do số nhân công bên trong đảm nhiệm 2 lần/ngày. Từ cổng phụ ra cổng chính và đầu đường vào được tính là vành đai ngoài cũng vệ sinh tương tự, nhưng là do một bộ phận nhân công khác thực hiện.

Bên trong chia làm nhiều phân khu và ngăn chuồng khác nhau.

Trong giai đoạn dịch dã, các nhân công cùng các vật nuôi khác trong trại gồm chó, mèo gần như tuyệt đối không tiếp xúc với bên ngoài. Tất cả những gì phục vụ cho sinh hoạt trong trại đều tự cấp tự túc hoặc tiếp tế “nội bộ”.

Theo ông Quý: “Nhân công họ đều hết sức chia sẻ trong hoàn cảnh này. Tôi cũng trả lương họ khá cao, trung bình khoảng 10 triệu một người/tháng, riêng quản lý của các trại thì trên 20 triệu một người/tháng”.

Ở vành đai ngoài, các phương tiện chuyên chở cũng phân định rõ thành xe chở cám, xe chở lợn giống, xe chở lợn thịt… Các phương tiện này thường xuyên phải khử trùng trước và sau mỗi lần làm nhiệm vụ; đồng thời chỉ được phép di chuyển trên những cung đường ngắn và cố định, cuối cùng về tập kết tại nhà ông Quý.

Chuồng nuôi lợn luôn sáng đèn cùng hệ thống điều hòa hoạt động suốt cả ngày.

Ông Quý lưu ý, ngoài kiểm soát tốt hàng rào sinh học, một vấn đề quan trọng không kém là dù tả lợn châu Phi chưa có vaccine phòng bệnh nhưng vẫn phải kiểm soát chặt chẽ quy trình vaccine của các bệnh kế phát như tai xanh, lở mồm long móng, tả cổ điển, suyễn, circo, app… Và để đạt hiệu quả cao nhất thì phải làm ngay từ trên con giống.

“Không biết đúng hay không, nhưng tôi cho rằng cũng giống như người bị nhiễm virus HIV, khi phát bệnh không chết vì HIV mà chết vì bệnh khác thì tả châu Phi cũng vậy, phòng ngừa tốt các bệnh kế phát giúp lợn tăng sức đề kháng, nếu có phát dịch thì tốc độ chắc chắn cũng chậm hơn giúp mình có thời gian kiểm soát” - ông Quý nhấn mạnh.

Ông Quý cho biết, ông đã lường trước cả tình huống nếu có dịch xảy ra, nhưng với quy trình quản lý, kiểm soát chặt chẽ và cách ly theo kiểu “không bỏ hết trứng vào một giỏ” như hiện nay, ông Quý “tự tin rằng mình có thể kiểm soát tốt”.

Lợn tự ăn và tự tắm trong các ngăn chuồng biệt lập.

Khi được hỏi về lợi nhuận, ông Quý “bật mí” với giá lợn khoảng 66.000 – 68.000 đồng/kg lợn hơi như hiện nay, mỗi con lợn thịt xuất chuồng cho lời khoảng 3 triệu đồng. Bình quân mỗi ngày các trại thịt của ông Quý xuất ra 35 – 40 con, mang về tổng nguồn lợi “khủng” tới hơn 100 triệu đồng.

“Bản thân tôi muốn tìm kiếm một sự ổn định hơn, vì số lãi bây giờ vẫn đang phải bù cho thua lỗ hồi năm 2017, khi giá lợn hơi ở Lào Cai rớt xuống chỉ còn 13.000 – 15.000/kg. Sau những biến cố thì thành công nhất của tôi bây giờ chưa phải về tài chính, mà là xây dựng được chuỗi tổ chức sản xuất khá bền vững, dù rằng trong đó luôn có yếu tố may mắn” - ông Quý vui vẻ chia sẻ./.

An Kiên/VOV-Tây Bắc

Đắk Lắk: Ea Drông phát triển mô hình liên kết sản xuất trong chăn nuôi

Nguồn tin: Báo Đắk Lắk

Để phát huy tiềm năng, thế mạnh tại địa phương cũng như hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, Hội Nông dân (HND) xã Ea Drông (thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk) đang triển khai hiệu quả mô hình liên kết sản xuất trong lĩnh vực chăn nuôi.

Xã Ea Drông có hơn 4.800 ha đất canh tác; người dân chủ yếu làm lúa, cà phê, hồ tiêu, chăn nuôi bò, dê, heo… Tuy nhiên, đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn do các mặt hàng nông sản luôn đối mặt với tình trạng mất mùa, xuống giá, còn gia súc, gia cầm thường bị thương lái ép bán với giá thấp. Trước thực trạng trên, năm 2017 ông Hồ Duy Dũng, Chủ tịch HND xã mạnh dạn thành lập tổ hợp tác chăn nuôi dê do ông làm tổ trưởng.

“Ở xã có nhiều hộ chăn nuôi dê và đang gặp khó trong tìm kiếm thị trường đầu ra. Tôi mạnh dạn liên kết với 5 hộ dân có kinh nghiệm chăn nuôi dê để thành lập tổ hợp tác với mục đích hỗ trợ nhau về khoa học kỹ thuật, vay vốn, tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm của mình”, ông Dũng cho hay.

Mô hình nuôi bò của hộ anh Lê Công Sang (thôn 9, xã Ea Drông).

Ngay khi thành lập, tổ hợp tác được Quỹ Hỗ trợ nông dân thị xã Buôn Hồ cho vay 250 triệu đồng để mua con giống, làm chuồng trại chăn nuôi. Cuối năm 2017, tổ tiếp tục được Phòng Kinh tế - Hạ tầng thị xã hỗ trợ mỗi hộ 6 con dê giống với tổng trị giá 130 triệu đồng để chăn nuôi.

Đồng thời, ông Dũng đã tìm đến nhiều nhà hàng trong tỉnh để giới thiệu, chào hàng và được một nhà hàng tại huyện Krông Năng đồng ý thu mua 250 – 300 kg dê thịt/tháng với giá ổn định 140 nghìn đồng/kg.

Ban đầu, các thành viên trong tổ còn lo lắng, chăn nuôi cầm chừng do chưa có nơi bao tiêu nên sản lượng không đáp ứng đủ nhưng sau khi ông Dũng tìm được thị trường tiêu thụ, các thành viên cố gắng mở rộng chăn nuôi và tiếp tục tìm kiếm đầu ra mới.

Hiện nay, ngoài xuất bán hơn 100 - 120 con dê con/năm cho mối hàng tại huyện Krông Năng, các thành viên tổ hợp tác còn bán dê thịt và dê giống cho một số thương lái thu mua nhỏ lẻ trên địa bàn. Nhờ đó, thu nhập của nhiều thành viên tổ hợp tác khá ổn định.

Ông Hồ Duy Dũng, Chủ tịch Hội Nông dân xã Ea Drông (thị xã Buôn Hồ): “Bên cạnh việc vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển kinh tế tập thể, Hội Nông dân xã còn thường xuyên tổ chức các buổi chuyển giao khoa học kỹ thuật, hội thảo, xây dựng mô hình mẫu… thu hút đông người dân tham gia”.

Hai năm trước, gia đình ông Phạm Văn Toàn (thôn 6) bắt đầu tham gia tổ hợp tác chăn nuôi dê. Với số tiền được Quỹ Hỗ trợ nông dân thị xã Buôn Hồ hỗ trợ, gia đình ông Toàn bỏ thêm 20 triệu đồng để mua thêm con giống, mở rộng trang trại lên 500 m2 với hơn 30 con dê giống. Để chủ động nguồn thức ăn, ông trồng 5 sào cỏ. Mỗi năm ông Toàn xuất bán từ 15 - 20 con dê, thu lãi hơn 80 triệu đồng. Chưa kể, gia đình ông còn tiết kiệm được một khoản tiền từ nguồn phân chuồng để chăm sóc vườn cà phê, hồ tiêu. Năm đầu tiên, với thu nhập từ đàn dê gia đình ông đã trả hết số vốn vay từ Quỹ Hỗ trợ nông dân và có thêm kinh phí để mở rộng chăn nuôi. Hiện nay, trang trại dê của ông Toàn và các thành viên trong tổ hợp tác còn được nhiều đơn vị tìm đến thu mua, ít khi phải lo đầu ra.

Nhận thấy việc thành lập tổ hợp tác đem lại nhiều lợi ích, HND xã Ea Drông đang triển khai mô hình liên kết chăn nuôi bò. Anh Lê Công Sang (thôn 9) là nhân viên thị trường làm việc cho một doanh nghiệp ở thị xã Buôn Hồ, năm 2018 thấy địa phương có nhiều lợi thế để phát triển chăn nuôi bò, anh Sang xin nghỉ việc mở trang trại chăn nuôi bò. Anh đã đầu tư 70 triệu đồng mua 5 con bò giống, trồng thêm 2 sào cỏ phục vụ chăn nuôi. Bên cạnh đó, được sự hỗ trợ của HND xã, anh Sang đã liên kết thêm 5 hộ đang nuôi bò tại thôn 9 chuẩn bị thành lập tổ hợp tác chăn nuôi bò để cùng mở rộng quy mô, tăng số lượng để tìm kiếm thị trường lớn.

Mô hình chăn nuôi dê của gia đình ông Phạm Văn Toàn ở thôn 6 (xã Ea Drông).

Đến nay, trên địa bàn xã Ea Drông có 1.700 con bò, 470 con dê, đàn heo 2.700 con… "Việc liên kết trong chăn nuôi đã giúp người dân nâng cao thu nhập, yên tâm phát triển sản xuất " - ông Hồ Duy Dũng, Chủ tịch HND xã Ea Drông cho biết.

Thùy Dung

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop