Tin nông nghiệp CN ngày 07 tháng 7 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp CN ngày 07 tháng 7 năm 2019

 

6 tháng năm 2019, xuất khẩu rau quả thu về hơn 2 tỷ USD

Nguồn tin: Báo Công Thương

Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) vừa cho biết, 6 tháng năm 2019, xuất khẩu rau quả ước đạt 2,06 tỷ USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Cụ thể, giá trị xuất khẩu rau quả tháng 6/2019 ước đạt 298 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu rau quả 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 2,06 tỷ USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, mặt hàng rau có giá trị xuất khẩu ước đạt 272 triệu USD, tăng 1,1% và mặt hàng trái cây có giá trị là 1,6 tỷ USD, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm ngoái.

6 tháng 2019, xuất khẩu rau quả thu về hơn 2 tỷ USD

Tính trong 5 tháng đầu năm 2019, Trung Quốc đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu rau quả của Việt Nam với 73,11% thị phần. Xuất khẩu rau quả sang thị trường này trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt 1,31 tỷ USD, tăng 1,05% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Tiếp đến là Mỹ với 58,53 triệu USD, chiếm 3,25%, Hàn Quốc với 55,48 triệu USD, chiếm 3,08%, Nhật Bản với 49,98 triệu USD, chiếm 2,77%. Ngoài ra, các thị trường có giá trị xuất khẩu rau quả tăng mạnh là Iceland (gấp 10,3 lần), Panama (gấp 7,6 lần), Guam (gấp 5,1 lần), Lào (gấp 2,9 lần), Hồng Kông (tăng 52,09%), Hà Lan (tăng 37,21%).

Ở chiều ngược lại, giá trị nhập khẩu mặt hàng rau quả tháng 6/2019 ước đạt 147 triệu USD, đưa tổng giá trị mặt hàng rau quả nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2019 đạt 991 triệu USD, tăng 34,7% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, mặt hàng rau ước đạt 254 triệu USD, tăng 35,2% và mặt hàng quả đạt 699 triệu USD, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm 2018. Thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất trong 5 tháng đầu năm 2019 là thị trường Thái Lan (chiếm 42,66% thị phần), Trung Quốc (chiếm 20,31%), Mỹ (chiếm 11,01%), Úc (7,88%). Trong 5 tháng đầu năm 2019 giá trị nhập khẩu rau quả tăng nhiều nhất là thị trường Iceland (gấp 2,37 lần).

Hội đồng châu Âu (EC) đã thông qua quyết định ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA) giữa Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam. Cả hai hiệp định trên đã được ký vào ngày 30/6/2019 tại Hà Nội dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chỉnh phủ Nguyễn Xuân Phúc. Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản nhận định, đây là cơ hội cho ngành rau quả mở rộng thị trường xuất khẩu, tham gia chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh và hàng rào phi thuế quan của các thị trường nhập khẩu. Khi hàng rào thuế dần được cắt giảm thì mức độ cạnh tranh càng gia tăng mạnh, các quy định về truy xuất nguồn gốc của các nước nhập khẩu ngày càng chặt chẽ và cao hơn.

Nguyễn Hạnh

Đổ xô trồng bưởi, sầu riêng: Vừa trồng vừa lo

Nguồn tin: Báo Tây Ninh

Các sản phẩm nông nghiệp đầu ra phần lớn chưa ổn định, còn phụ thuộc vào thương lái khi chưa có sự liên kết với doanh nghiệp chế biến khiến nông dân vừa trồng vừa lo.

Nhiều diện tích đất trồng lúa được chuyển sang trồng cây ăn quả.

Gần đây, giá các loại trái cây như sầu riêng, bưởi liên tục ở mức cao, lợi nhuận thu về mỗi năm gấp vài chục lần trồng lúa và cao su nên người dân nhiều nơi trong tỉnh “đua nhau” trồng mới, mà không quan tâm tìm hiểu điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng vùng đất có phù hợp với cây trồng hay không. Thêm vào đó, việc mua bán trái cây chỉ là thoả thuận miệng giữa người dân và thương lái nên về lâu dài vẫn là nỗi lo của nông dân?

Ông Nguyễn Thanh mới trồng hơn 1,2 ha sầu riêng xen 50 gốc bưởi tại ấp Thuận Bình, xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu cho biết, vài năm trở lại đây, việc canh tác lúa và hoa màu ngày càng khó khăn do thiếu đầu ra ổn định, giá cả bấp bênh nên hiệu quả rất kém. Ðược người quen chỉ dẫn, ông quyết định đầu tư trồng sầu riêng và bưởi. Tương lai của cây trồng ra sao thì khó mà biết được vì không có gì bảo đảm hiệu quả kinh tế ổn định lâu dài.

Ông Út (ấp Cây Xoài, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu) đã trồng gần 1 ha sầu riêng 2 năm tuổi cho biết, ông đã đầu tư vào vườn sầu riêng khá nhiều tiền hy vọng giá sầu riêng tiếp tục ở mức cao, để 2 năm sau ông có thể lấy lại vốn, trả nợ ngân hàng và cửa hàng vật tư nông nghiệp.

Vài năm trở lại đây, nhiều người cùng trồng sầu riêng và bưởi nên tạo ra cơn sốt về cây giống. Theo chủ một đại lý cây giống sầu riêng tại xã Bàu Ðồn, cách đây hơn 2 năm, giá cây giống sầu riêng Ri-6 chỉ khoảng vài chục ngàn đồng. Nguồn cung có hạn trong khi nhu cầu trồng mới tăng cao nên giá mỗi gốc cây giống này lên đến gần 180.000 đồng nhưng vẫn nhiều người hỏi mua.

Theo một nông dân chuyên trồng cây sầu riêng tại ấp 7, xã Bàu Ðồn, hiện nhiều người đổ xô vào trồng sầu riêng và bưởi nhưng không hề biết là hai loại cây này thích hợp với loại đất nào, khí hậu, thổ nhưỡng ra sao nên rất dễ thất bại. Ông cũng lo ngại có ngày sầu riêng và bưởi sẽ đi vào “vết xe đổ” của cây cao su vì ồ ạt trồng mà đầu ra chưa thật sự bền vững.

Sầu riêng dù giá cao nhưng vẫn phụ thuộc thương lái trung gian, đầu ra vẫn chưa bền vững.

Ông Nguyễn Văn Mánh, ngụ ấp 7, xã Bàu Ðồn cho biết, sầu riêng tại địa phương được bán cho thương lái với giá ổn định trên 45.000 đồng/kg. Với mức giá này, sau khi trừ chi phí đầu tư, người nông dân có lãi từ 800 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/ha. Trong khi đó, bưởi cũng thu về khoảng 500 triệu đồng/ha/năm.

Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Gò Dầu, trong những năm gần đây, huyện đã và đang tập trung triển khai thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, trong đó chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ các loại kém hiệu quả sang các loại cây ăn trái cho thu nhập cao như sầu riêng, bưởi, thanh long, mít thái, nhãn…

Tính từ năm 2017 đến nay, trên địa bàn huyện có khoảng 860 ha lúa được chuyển đổi canh tác sang sầu riêng, nhãn và bưởi, tập trung chủ yếu tại các xã Bàu Ðồn, Hiệp Thạnh và Cẩm Giang. Cùng với đó, việc nhà máy chế biến rau quả Tanifood tại xã Thạnh Ðức đi vào hoạt động sẽ tạo sự liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân, góp phần cùng huyện chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Tuy nhiên, hiện nay đa số nông dân trên địa bàn huyện vẫn phải bán các sản phẩm cây ăn trái cho thương lái mà chưa có đầu ra bền vững. Nhiều diện tích chuyển đổi tự phát, không theo quy hoạch dẫn đến hiệu quả còn thấp. Ðối với cây sầu riêng, Phòng Nông nghiệp huyện đã xúc tiến thành lập tổ hợp tác đăng ký thực hiện để được cấp giấy chứng nhận VietGAP và truy xuất nguồn gốc, hướng tới sẽ thành lập hợp tác xã trồng sầu riêng với mục tiêu xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ, bảo đảm chất lượng và thương hiệu sầu riêng Bàu Ðồn.

Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, việc chuyển đổi các loại cây trồng kém hiệu quả sang các loại cây ăn trái như chuối già Nam Mỹ, bưởi da xanh, mãng cầu… đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất. Các mô hình đang thực hiện có chi phí ban đầu khá cao, từ 70 - 350 triệu đồng/ha. Tuy nhiên, lợi nhuận khi thu hoạch hằng năm cao hơn hẳn so với các loại cây trồng truyền thống tại địa phương như mì, mía, cao su.

Việc người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ các loại cây có hiệu quả kinh tế thấp sang các loại cây có giá trị kinh tế cao là điều đáng mừng. Tuy nhiên, các sản phẩm nông nghiệp đầu ra phần lớn chưa ổn định, còn phụ thuộc vào thương lái khi chưa có sự liên kết với doanh nghiệp chế biến khiến nông dân vừa trồng vừa lo.

Minh Dương

Đồng Tháp: Mô hình ruộng nhà mình sử dụng máy bay phun thuốc bảo vệ thực vật

Nguồn tin: Báo Đồng Tháp

Mô hình “Ruộng nhà mình” hay còn gọi là cánh đồng thông minh 4.0 được xem là hướng đi hiệu quả ở huyện Cao Lãnh.

Vụ lúa thu đông năm 2019 là vụ thứ tư mô hình “Ruộng nhà mình” sản xuất lúa theo hướng VietGAP, với quy mô 24ha/7 hộ, loại giống ST 24, hiện lúa đã được 34 ngày tuổi, phát triển tốt. Đặc biệt trong vụ này, mô hình còn phối hợp sử dụng máy bay phun thuốc bảo vệ thực vật. Qua đánh giá bước đầu cho thấy, thiết bị có đầu phun nhỏ, thuốc trừ sâu được tán ra thành những hạt nhỏ, máy bay phun 20 lít nước/ha, độ cao phun so với mặt lúa được lập trình hoặc điều khiển thấp cao phù hợp, thời gian phun nhanh gấp 40 lần so với phun bằng tay, với giá công phun 160.000 đồng/ha.

Được biết, mô hình “Ruộng nhà mình” được sản xuất tại vùng trồng lúa theo hướng VietGAP của Hợp tác xã Thuận Tiến (huyện Cao Lãnh) thuộc dư án VnSAT - Đồng Tháp. Không chỉ áp dụng các biện pháp “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”, sử dụng phân bón thông minh, đơn vị đã ứng dụng công nghệ 4.0 trong quản lý đồng ruộng, giúp nông dân giảm hơn 15% chi phí sản xuất và được Công ty lương thực Đồng Tháp liên kết tiêu thụ, giá gạo trong mô hình “Ruộng nhà mình” cao hơn bên ngoài 100 đồng/kg.

Thành Sơn

Sóc Trăng: Giá ớt tăng cao, người trồng ớt chỉ biết tiếc hùi hụi

Nguồn tin: Báo Sóc Trăng

Mấy ngày qua, nhiều người trồng ớt chỉ thiên rất phấn khởi khi được thương lái đến thu mua tại rẫy với giá vượt mốc 100.000 đồng/kg. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là dù giá ớt tăng mạnh nhưng hiện nay bà con không có nhiều ớt để bán như mọi năm.

Giá ớt tăng mạnh

Ông Lâm Văn Phấn ở ấp Tắc Gồng, xã Tham Đôn (Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng) cho biết: “Do đây là mùa nghịch nên ớt bán được giá hơn so với mùa thuận. Hiện tôi đang trồng giống ớt thái và đã cho trái thu hoạch được 3 đợt, thương lái đến thu mua tại rẫy với giá 80.000 đồng/kg. Mức giá thu mua này là rất cao chưa từng có từ trước đến nay”.

Nhận thấy trồng ớt vào mùa nghịch bán được giá cao, sau khi thu hoạch xong cải bẹ dún vào tháng 4-2019, ông Phấn đã tận dụng diện tích khoảng 3.000m2 để trồng ớt. Sau thời gian gần 3 tháng ươm cây giống và trồng, hiện rẫy ớt của ông Phấn phát triển rất tốt, chỉ mới thu hoạch 3 đợt mà ông đã thu được hơn 10 triệu đồng và sẽ còn thu hoạch liên tục đến cuối năm.

Hiện nay, thương lái thu mua ớt tại rẫy với giá hơn 100.000 đồng/kg.

Dẫn chúng tôi ra tham quan rẫy ớt của gia đình, ông Phấn chia sẻ: “Đây là năm đầu tiên tôi quyết định trồng ớt mùa nghịch, hy vọng là giá ớt luôn giữ ở mức ổn định như bây giờ thì mới có lãi, do trồng ớt vụ này chi phí bỏ ra nhiều hơn so với mùa thuận, thêm nữa là hiện nay mưa nhiều làm ảnh hưởng đến năng suất rất nhiều”.

Hiện nay, giá ớt đang lên “cơn sốt” từng ngày, riêng giống ớt chỉ thiên chỉ trong vòng một tháng nay đã tăng từ 30.000 đồng/kg lên đến hơn 100.000 đồng/kg. Chị Hà Thu Nguyên – tiểu thương bán rau củ tại chợ TP. Sóc Trăng cho hay: “Khoảng hơn nửa tháng nay, giá ớt tăng cao, có khi lên tới 150.000 đồng/kg nhưng cũng không dễ gì mua được số lượng nhiều để bán”.

… nhưng nhiều diện tích ớt bị thiệt hại

Dọc theo các tuyến đường bờ kênh ấp Đại Ân, xã Đại Tâm (Mỹ Xuyên), hình ảnh mà chúng tôi bắt gặp là những cây ớt khô héo đã bị nhổ bỏ và nhiều cây ớt cho trái nhưng đã bị hư thối. Cùng chúng tôi đi đến chỗ rẫy trồng ớt bị thiệt hại, ông Trầm Phương Đại ở ấp Đại Ân cho biết: “Có một hộ dân trồng ớt ở địa phương bị thiệt hại hoàn toàn khoảng 2 công. Không chỉ riêng rẫy ớt này bị thiệt hại mà ở đây bà con trồng ớt vụ này đều bị ảnh hưởng do thời tiết mưa nhiều liên tục mấy ngày qua. Hiện thương lái đến tìm thu mua ớt chỉ thiên có giá rất cao nhưng bà con không có ớt để bán. Có hộ trồng khoảng 2.000m2 mà mỗi đợt thu hoạch chỉ được 5 – 6 kg, cho nên cây ớt bị bệnh cho năng suất thấp thì họ phải nhổ bỏ và chuyển sang trồng lại các loại cây màu khác”.

Theo bà con nông dân trồng ớt ở huyện Mỹ Xuyên, sở dĩ giá ớt tăng cao là do mưa nhiều trong những ngày qua khiến các loại rau màu bị ảnh hưởng, đặc biệt là trồng cây ớt gặp mưa nhiều trái sẽ bị hư thối; đồng thời, trong năm 2018, giá ớt giảm mạnh nên nhiều bà con không mặn mà với cây ớt nữa mà chuyển sang trồng các loại cây màu khác.

Theo số liệu thống kê của ngành Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, đầu năm 2019 đến nay, trên địa bàn có khoảng 14ha diện tích trồng ớt, giảm nhiều so với năm 2018. Hiện nay, giá ớt đang tăng cao là do nhu cầu thị trường, trong khi diện tích và năng suất giảm do điều kiện thời tiết bất lợi. Thế nên điệp khúc “được giá mất mùa” hay “được mùa mất giá” luôn lặp đi lặp lại và dường như đã trở thành quen thuộc với bà con nông dân. Vì vậy, hiện nay ớt đang “nóng giá” nhưng nông dân trồng ớt vẫn không được lãi cao.

Tuyết Xuân

Dân tin, cùng làm nông nghiệp thông minh. Kỳ 1: Nông sản ‘sạch’ lên ngôi

Nguồn tin:  Báo ảnh Đất Mũi

Những năm gần đây, các cụm từ “dưa hấu VietGAP”, “tôm VietGAP”, “tôm sạch”, “lúa sạch”… không còn xa lạ với nông dân Cà Mau nữa - đây là minh chứng cho hiệu quả bước đầu của một nền nông nghiệp thông minh hình thành trên đất mũi. Khi nông dân đã có niềm tin và làm chủ được công nghệ thì làm nông nghiệp sạch là điều không khó. Vấn đề cốt lõi là làm sao giải quyết triệt để những tồn tại, để chấm dứt điệp khúc “được mùa - mất giá”, nạn “cò tôm”, “cò lúa”… Khi những khó khăn, rào cản không còn, ngành Nông nghiệp của tỉnh sẽ phát huy tốt hơn chức năng trong nền nông nghiệp 4.0.

KỲ 1: Nông sản “sạch” lên ngôi

Để sản xuất nông nghiệp đạt chất lượng cao, mang lại thu nhập ổn định cho nhà nông, ngành Nông nghiệp tỉnh Cà Mau đã không ngừng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế, tiến tới phát triển theo hướng nông nghiệp công nghệ cao. Nhiều mô hình được triển khai hiệu quả cao: Tôm - lúa kết hợp; trồng lúa, trồng rau, trồng dưa hấu theo tiêu chuẩn VietGAP…

Lúa sạch theo chuẩn VietGAP đã lấy được lòng tin của nông dân xã Lý Văn Lâm (TP. Cà Mau).

Ứng dụng công nghệ

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Sử: “Việc thành lập Liên minh sản xuất tôm sạch và bền vững được đánh giá là một trong những xu thế tất yếu trong bối cảnh ngành tôm Việt Nam nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng. Xu hướng thị trường ngày càng thay đổi, buộc chúng ta phải thay đổi để thích nghi, chú trọng vào chất lượng thay vì số lượng. Tới đây, khi tham gia vào Liên minh, Cà Mau sẽ đẩy mạnh tổ chức sản xuất chuỗi một cách chặt chẽ hơn nữa, qua đó xây dựng các vùng nuôi chứng nhận quốc tế; đồng thời đẩy mạnh giám sát cộng đồng trong lĩnh vực này...”.

Cà Mau đang tích cực triển khai thực hiện dự án ứng dụng khoa học công nghệ xây dựng mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo tiêu chuẩn VietGAP cho hệ canh tác lúa - tôm. Đây là dự án thuộc Chương trình nông thôn miền núi, được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt và ủy quyền địa phương quản lý. Mô hình được triển khai tại xã Lý Văn Lâm (TP. Cà Mau).

Anh Phan Hoàng Minh, cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết: “Vụ lúa vừa qua, người dân trong vùng dự án thu hoạch hơn 7 tấn/ha, tăng hơn 2 tấn/ha so với cùng kỳ. Càng phấn khởi hơn khi Dự án đã được Trung ương phê duyệt; 120ha trong dự án đã hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch và hướng tới sẽ nhân rộng”.

Mục tiêu của Dự án là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và xây dựng thành công mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo tiêu chuẩn VietGAP cho hệ canh tác lúa - tôm tỉnh Cà Mau, nhằm tạo ra sản phẩm lúa gạo có chất lượng tốt, nâng cao hiệu quả sản xuất. Anh Minh thông tin: “Trên đà thắng lợi đã qua, đến tháng 8 tới, khi vào mùa vụ sẽ triển khai tiếp mô hình với 80ha”.

Kỹ sư Phạm Văn Mịch, Giám đốc Trung tâm Giống nông nghiệp tỉnh, chia sẻ: “Dự án VietGAP trên lúa đối với tỉnh Cà Mau còn rất mới, nhưng với sự cố gắng và hỗ trợ chuyển giao khoa học công nghệ của Viện Khoa học - Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, bước đầu đã thực hiện theo đúng tiến độ về khối lượng, đảm bảo chất lượng sản phẩm dự án và ứng dụng ngay vào sản xuất nông nghiệp của tỉnh”.

Thống kê sơ bộ, Cà Mau hiện có khoảng 168ha đất trồng đạt chuẩn VietGAP, trong đó có khoảng 120ha lúa. Theo ngành Nông nghiệp, hệ canh tác lúa mùa đặc sản rất phù hợp điều kiện biến đổi khí hậu, nhất là trong điều kiện xâm nhập mặn ngày càng tăng ở các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL. Trong hệ thống lúa - tôm, giống lúa mùa đặc sản địa phương có tính thích ứng cao do có kiểu hình thích nghi vùng trũng thấp, chịu mặn tốt và chống chịu sâu bệnh.

Kỹ sư Nguyễn Văn Tranh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết lúa gạo là một trong 4 ngành hàng chủ lực được chọn để triển khai Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp. Hiện, Sở đang triển khai mô hình sản xuất lúa an toàn. Trên cơ sở đó, tỉnh sẽ quy hoạch các điểm đang sản xuất lúa chất lượng cao, sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP để xây dựng vùng sản xuất lúa sạch.

“Ngày kết nối doanh nghiệp ngành thủy sản và Lễ ký kết tham gia Liên minh sản xuất tôm sạch và bền vững Việt Nam” đã được diễn ra, là cơ hội cho ngành tôm Cà Mau.

Cơ hội cho ngành tôm

Tỉnh Cà Mau có trên 280.000ha nuôi tôm, chiếm 40% diện tích, 30% giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm của cả nước; phấn đấu đến năm 2025, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 3 tỷ USD và đến năm 2030 đạt 4 tỷ USD. Hiện nay, tỉnh có trên 30 nhà máy chế biến, với công suất khoảng 200.000 tấn/năm, trong đó chế biến tôm là chủ yếu. Giá tôm có chứng nhận bình quân cao hơn giá thị trường khoảng 20%. Sản phẩm tôm Cà Mau đã có mặt trên 90 quốc gia; trong đó thị trường xuất khẩu chính gồm Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc.

Mới đây, UBND tỉnh Cà Mau phối hợp với Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân cùng Chương trình SeafoodWatch và Quỹ Carnegie vì hòa bình quốc tế tổ chức “Ngày kết nối doanh nghiệp ngành thủy sản và Lễ ký kết tham gia Liên minh Sản xuất tôm sạch và bền vững Việt Nam”. Các “ông chủ lớn” của ngành tôm, các hợp tác xã nuôi tôm công nghiệp hiệu quả, các hộ nông dân, các doanh nghiệp công nghệ trong nông nghiệp đã có tiếng nói chung và đồng thuận ký kết tham gia Liên minh sản xuất tôm sạch và bền vững Việt Nam. Điều này không chỉ đảm bảo việc lựa chọn các nhà nuôi tôm, cung ứng thức ăn, cơ sở hạ tầng mà còn tạo thành một chuỗi khép kín theo quy trình chuẩn, tất cả vì mục tiêu hướng đến sự phát triển bền vững của ngành tôm Việt Nam trong thời gian tới.

Nông nghiệp thông minh, hay nông nghiệp thời đại 4.0, không còn xa lạ với nông dân Cà Mau nữa. Chuyện nông dân tự chế tạo, cải thiện dụng cụ, máy móc, hay lướt Internet học hỏi khoa học công nghệ là chuyện thường ngày; cùng với đó là những chính sách ưu việt từ phía Nhà nước. Tin rằng ngành Nông nghiệp thông minh sẽ ngày càng trụ vững trong nền kinh tế, ngay thời điểm tái cơ cấu ngành Nông nghiệp như hiện nay.

Nông dân vùng nuôi tôm kết hợp trồng một vụ lúa - tôm của tỉnh Cà Mau đứng trước “cơ hội vàng” để tăng thu nhập. Trên những cánh đồng này, hạt lúa sắp được công nhận là sản phẩm sạch, được bao tiêu toàn bộ đầu ra với giá cao. Con tôm trên cánh đồng lúa - tôm cũng sớm trở thành “tôm sạch”, tôm hữu cơ, phục vụ chế biến, xuất khẩu…

Nhờ tăng cường các giải pháp chuyển giao kỹ thuật mà giờ đây, nông dân Cà Mau hiểu biết và chủ động lựa chọn những cách thức sản xuất mới mang tính bền vững, ít rủi ro và thân thiện với môi trường, trong đó lúa - tôm là một trong những lựa chọn được ưu tiên. Thực tế sản xuất đã qua cho thấy, gieo trồng vụ lúa trên đất nuôi tôm không xảy ra xung đột mà bổ trợ cho nhau, giúp lúa ít bệnh hơn so với độc canh cây lúa và ngược lại, con tôm cũng ít bệnh hơn so với chỉ chuyên nuôi tôm.

Từ sự chủ động của toàn hệ thống chính trị, con tôm và cây lúa đã khẳng định vai trò chủ lực trong tái cơ cấu ngành Nông nghiệp thời điểm này và trong tương lai.

PHÚ HỮU

Dân tin, cùng làm nông nghiệp thông minh - Kỳ 2: Chuỗi liên kết chưa chặt

Nguồn tin:  Báo ảnh Đất Mũi

Cà Mau là tỉnh tiên phong trong huy động sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ tham gia trong xây dựng và quảng bá thương hiệu tôm trên thị trường trong nước và thế giới. Chuỗi liên kết đã được triển khai đến tận đầm tôm của người dân, tuy vậy, các “nhà” trong chuỗi liên kết vẫn chưa tìm được tiếng nói chung, chuỗi chưa liên kết thật bền vững.

Dân tin vào liên kết

Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ Nuôi trồng thủy sản Cái Bát (xã Hòa Mỹ, huyện Cái Nước) thành lập hơn 6 năm trước, gồm 12 thành viên, với 47ha. Đến năm 2016, tham gia Dự án “Chuỗi giá trị tôm công bằng bền vững tại Việt Nam”, số thành viên HTX tăng lên 57 người và hiện tại là 127 thành viên, với 430ha đất nuôi tôm, trong đó có 90ha nuôi thâm canh, 10ha nuôi bán thâm canh, còn lại là quảng canh.

Trước đây, hoạt động nuôi tôm hầu hết là “mạnh ai nấy làm”, nhưng từ khi được Dự án hỗ trợ tập huấn về kỹ thuật nuôi tôm, nông dân được doanh nghiệp liên kết thực hiện chuỗi giá trị ngành tôm hỗ trợ 500 ngàn đồng/ha đối với nuôi quảng canh và 8 triệu đồng/ha đối với nuôi thâm canh. Ngoài ra, doanh nghiệp còn hỗ trợ HTX bảo hiểm an toàn điện, xây dựng nhà kho và thuê tư vấn tập huấn nâng cao năng lực cho thành viên HTX.

Ông Nguyễn Văn Lâm, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, kiêm Giám đốc HTX Cái Bát, cho biết: “Thông qua dự án, HTX liên kết với các doanh nghiệp cả đầu vào lẫn đầu ra rất hiệu quả. Ngoài những hỗ trợ trên, thành viên HTX còn được mua con giống với giá rẻ hơn 15 đồng/con, thức ăn rẻ hơn 5.000 - 7.000 đồng/kg và thuốc thú y, chế phẩm sinh học… đều giảm 20 - 25% so với bên ngoài. Tôm nuôi khi thu hoạch được doanh nghiệp Thanh Đoàn thu mua với giá tương đương thị trường hoặc cao hơn 2.000 - 5.000 đồng/kg”. Chính từ hiệu quả và sự công khai, minh bạch trong tất cả các khâu hoạt động của ban lãnh đạo HTX, người nuôi bắt đầu nhận thức được những lợi ích khi tham gia sản xuất hợp tác, nên số lượng thành viên tăng lên rất nhanh.

Hiệu quả của liên kết, được kiểm chứng ở một góc nhìn khác về những khó khăn khi kinh tế hợp tác chưa phát huy vai trò, như chia sẻ của ông Lâm Thanh Dũng, Chủ nhiệm HTX Đoàn Kết (ấp Tân Long, xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi), cho biết: “Dù mang tiếng là HTX nhưng trước giờ chủ yếu bán cho thương lái, chứ không hợp đồng được doanh nghiệp trực tiếp thu mua tôm, nên giá cả thường bị ép, thiệt thòi rất nhiều cho người nuôi tôm. Thậm chí có khi lên đầm, tìm thương lái không kịp, khiến tôm “rớt” nhiều, giảm lợi nhuận rất lớn”.

Hiện nay, nông dân Cà Mau đã tin và sản xuất theo chuỗi liên kết, hướng đến sản xuất công nghệ cao.

Lợi thế lớn, nhưng chưa “dành” cho người nuôi tôm

Theo thống kê của Chi cục Nuôi trồng thủy sản, trung bình hàng năm tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của tỉnh khoảng 225.000 tấn, riêng tôm khoảng 120.000 tấn. Toàn tỉnh có 28 công ty với 38 xí nghiệp chế biến thủy sản trực thuộc, tổng công suất thiết kế 190.000 tấn/năm.

Năng lực chế biến xuất khẩu thủy sản và thị trường xuất khẩu ngày càng được nâng cao và mở rộng. Hiện mặt hàng tôm Cà Mau đã có mặt tại 82 quốc gia và vùng lãnh thổ; các điều kiện về an toàn vệ sinh thực phẩm đều được tổ chức quốc tế chứng nhận; sản phẩm tôm chế biến đa dạng và phong phú theo yêu cầu của từng khách hàng. Đặc biệt, tôm sinh thái Cà Mau đã được Tổ chức Naturland (Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Đức)chứng nhận và giá trị được nâng lên hơn 10% so với giá thị trường.

Kết quả là vậy, nhưng trên thực tế người nuôi tôm không làm giàu từ chính nguồn lợi này, mà luôn “bấp bênh” bởi chuỗi liên kết giá trị chưa có sự phối hợp giữa các chủ thể là các doanh nghiệp. Doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, cung ứng giống, thuốc, thức ăn, chế phẩm sinh học và các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản hầu hết chỉ phát triển theo lĩnh vực của mình, chưa có sự liên kết với nhau. Đối với doanh nghiệp sản xuất giống, phải qua đại lý mới đến người nuôi. Còn doanh nghiệp chế biến thức ăn, hóa chất, chế phẩm sinh học, đến đại lý cấp 1, rồi cấp 2 mới đến tay người tiêu dùng dưới dạng hợp đồng.

Nhìn vào mô hình liên kết hiện nay, có thể thấy từ người nuôi đến xuất khẩu phải trải qua 4 giai đoạn. Cũng có nghĩa là số lợi nhuận mà người nuôi tôm thực sự nhận được giảm dần qua các giai đoạn ấy. Cuối cùng, người trực tiếp sản xuất ra con tôm, chịu nhiều vất vả, rủi ro nhất, lại chính là người chịu thiệt thòi nhiều nhất trong mô hình liên kết như hiện nay. Ông Châu Công Bằng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thừa nhận: “Lợi thế thì nhiều, nhưng chuỗi liên kết trong sản xuất thủy sản còn nhiều bất cập. Phải mất 3 - 4 công đoạn, nông dân mới có thể đưa con tôm tiếp cận được thị trường xuất khẩu. Tất nhiên, qua mỗi giai đoạn ấy, người nuôi tôm sẽ mất dần lợi nhuận và người được lợi trực tiếp không ai khác lại chính là những người trung gian”.

Cà Mau được mệnh danh là “thủ phủ” ngành tôm của cả nước, nhưng liên kết sản xuất còn chưa chặt chẽ.

Xây dựng mô hình liên kết mới

Từ những thực tế đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng mô hình liên kết mới, trong đó có sự tham gia tích cực và gắn trách nhiệm từ các bên trong chuỗi giá trị. Đối với người nuôi tôm: Một đơn vị diện tích đất nuôi tôm công nghiệp phải góp tối thiểu 25% vốn (qua máy móc, trang thiết bị, con giống, lao động, nhiên liệu…); doanh nghiệp cung cấp vật tư hỗ trợ người nuôi tôm tối thiểu 35% thông qua hình thức bán hàng trả sau không tính lãi. Còn về phía ngân hàng cho vay tối thiểu 40% vốn qua hình thức cho vay thế chấp.

Chuỗi liên kết mới sẽ là người nuôi tôm được mua trực tiếp con giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản từ doanh nghiệp với mức giá ưu đãi. Người nuôi tôm sẽ được bán trực tiếp con tôm cho doanh nghiệp chế biến, đóng gói bỏ qua 2 trung gian đầu mối. Theo đó, mô hình mới sẽ đặt trách nhiệm cho mỗi bên tham gia cùng có lợi.

Giải pháp được ngành chuyên môn đặt ra trong lúc này là đẩy mạnh doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tăng cường sự liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp; tăng cường từng khâu trong chuỗi liên kết này; tăng cường công tác cải cách hành chính, cải cách thể chế, chính sách; cải thiện môi trường đầu tư trong nông nghiệp; khuyến khích các ngân hàng tham gia vào chuỗi liên kết này.

Từ liên kết “4 nhà”, rồi mở rộng lên “6 nhà” là một chiến lược cho tương lai bền vững, bao gồm các thành viên của chuỗi: Nhà nông - nhà nước - ngân hàng - doanh nghiệp - người nuôi tôm - nhà phân phối. Quan trọng hơn hết là doanh nghiệp xuất khẩu cần minh bạch trong việc cung cấp các thông tin thị trường và yêu cầu chất lượng sản phẩm của khách hàng cho người sản xuất, nuôi trồng thủy sản để tổ chức sản xuất ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường và khách hàng; góp phần đảm bảo chuỗi liên kết thủy sản phát triển bền vững, ổn định.

Tầm nhìn xa hơn, để mời gọi đầu tư vào ngành Nông nghiệp công nghệ cao, tỉnh Cà Mau còn ban hành nhiều chính sách ưu đãi khác: Tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất; tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng các dịch vụ cung ứng đầu vào; ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, giá thuê đất… nhằm đạt mục tiêu vùng nông nghiệp công nghệ cao đã đề ra.

PHÚ HỮU

Dân tin, cùng làm nông nghiệp thông minh - Kỳ 3: ‘Cò’ kích ‘cầu’

Nguồn tin:  Báo ảnh Đất Mũi

Thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh Cà Mau xuất hiện tình trạng “cò” thu mua lúa, tôm, gây ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất và tiêu thụ nông sản, nhất là trong việc liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp (DN) và nông dân. “Cò” xuất hiện nhiều, bị cho là lực lượng thao túng thị trường và bị mang tiếng là lợi dụng sự thiếu hiểu biết của nông dân để ép giá, gây ra nhiều khó khăn và thiệt thòi cho nông dân… Thế nhưng, vai trò của lực lượng này cần có sự nhìn nhận thấu đáo, ở góc nhìn xa hơn trong bài toán về liên kết sản xuất.

“Cò” theo cách nghĩ của người dân

“Cò” thu mua lúa tại Cà Mau thường thực hiện cách thức là khi lúa của nông dân còn khoảng nửa tháng sẽ thu hoạch, lực lượng “cò” này sẽ đến đặt cọc với giá cao hơn giá DN ký kết hợp đồng. Điều này đã khiến nhiều nông dân Cà Mau sẵn sàng phá vỡ hợp đồng ký kết với DN và bán lúa cho “cò”.

Theo nhiều DN hợp đồng bao tiêu lúa cho nông dân trên địa bàn tỉnh thời gian qua, thực tế có hiện tượng “cò lúa” đang thao túng thị trường thu mua lúa trong dân, bằng việc liên kết với các chủ máy gặt đập liên hợp. Hình thức hoạt động của “cò lúa” là khi nông dân còn khoảng nửa tháng nữa sẽ bắt đầu thu hoạch lúa thì các “cò” đến thương thảo về giá thu mua, ấn định ngày cắt và tiến hành đặt tiền cọc trước với nông dân (thông thường tiền cọc là 300.000 đồng/công) và tất cả các công việc này đều được thương thảo bằng miệng. Trường hợp cả cánh đồng nếu có nhiều người đồng ý bán cho “cò lúa” với giá lúa nhất định, thì những hộ khác dù không chịu cũng phải bán theo, bởi không bán thì không có máy cắt đến thu hoạch và không có thương lái khác đến mua.

 

Người dân và doanh nghiệp cần có cái nhìn thân thiện, thấy được mặt tích cực của lực lượng “cò” và phải cùng nhau hợp tác trong chuỗi sản xuất.

Điều đáng nói hơn là tình trạng này diễn ra ngay cả những vùng mà trước đó đã có công ty, DN tiến hành ký kết bao tiêu với nông dân và có những chính sách đầu tư. Tuy nhiên, chỉ vì thời điểm ra giá mua của công ty thường cận với ngày cắt lúa (thường 5 ngày trước khi thu hoạch) nên khi có “cò lúa” đến đưa ra giá trước thì bà con sẵn sàng “bẻ kèo” với DN mà bán cho “cò”. Có trường hợp “cò lúa” sẵn sàng đặt cọc cao hơn nếu chỗ nào có công ty, DN đã đưa tiền cọc rồi, để bà con thấy hấp dẫn và “bẻ kèo” với DN sau đó. Vô hình trung, vì lợi nhuận trước mắt mà nông dân đã phá vỡ chuỗi sản xuất đã được liên kết, gây không ít khó khăn cho DN.

Để phần nào tháo gỡ tình trạng trên, nhiều hợp tác xã và nông dân đề xuất các công ty, DN cần thay đổi chính sách thu mua lúa trong dân, đồng thời ngành chức năng cũng cần có giải pháp nhằm tránh tình trạng “cò lúa” thao túng thị trường. Còn nông dân thì chưa hẳn an tâm, vì đã xảy ra nhiều trường hợp khi giá lúa thấp thì “cò” đặt nhiều lý do để giảm giá thu mua so với thỏa thuận ban đầu, hoặc sẵn sàng bỏ cọc nếu giá lúa rớt.

Đối với người nuôi tôm, họ cho rằng hiện nay mình phải chịu quá nhiều sức ép: Giá con giống, vật tư đầu vào tăng cao nhưng chất lượng không đảm bảo; giá tôm thương phẩm lên - xuống bấp bênh… Và thêm một nỗi lo nữa, đó là cảnh ép giá và những chiêu trò “bẩn” của thương lái khi thu mua tôm. Đầu tiên là “ép cỡ” tôm, đây là chiêu phổ biến nhất và hầu như đã thành “bản năng” của các thương lái thu mua tôm. Thông thường, khi thương lái đến ngả giá mua tôm với chủ ao thì hai bên tiến hành xác định cỡ tôm, sau đó thương lượng giá cả. Bên cạnh đó, “chêm cân” là cách thương lái “ăn gian” số lượng tôm lớn. Đó là lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ đầm tôm, các đối tượng này chêm vào cây cân một đoạn thép nhỏ nhằm giảm trọng lượng của các giỏ tôm khi cân. Nếu chiêu này áp dụng thành công thì 1 tấn tôm, thương lái có thể “lời” được 15 - 30kg tôm.

Người nuôi tôm cần đề cao cảnh giác, “cập nhật” liên tục và phổ biến rộng rãi các cách thức gian lận của thương lái cho nhiều người cùng biết để phòng tránh.

Góc nhìn của nhà quản lý

Nói về vấn đề này, Kỹ sư Nguyễn Trần Thức, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, đánh giá cao vai trò trung gian của lực lượng “cò lúa” trong quá trình sản xuất, vì lực lượng này là đầu mối kết nối người dân với DN, bởi DN thường không đủ nhân lực để tiếp cận từng hộ dân, không am hiểu địa hình vùng nuôi để tiến hành thu mua lúa của dân; có những “cò” là “thổ địa” ở đây thì việc mua lúa sẽ thuận lợi và dễ dàng hơn. Với địa bàn chằng chịt sông ngòi như Cà Mau thì việc tiếp cận của các DN thu mua lúa ngoài tỉnh vào đây là rất khó và khi ấy lực lượng được xem là “cò” này sẽ giúp họ tìm nguồn nguyên liệu.

DN càng không thể nắm được đâu là vùng nguyên liệu lớn để khai thác và hơn hết là không biết được chất lượng lúa của những vùng sản xuất này, đặc biệt là khó tiếp cận dân. Hơn ai hết, lực lượng được xem là “cò” này sẽ dễ dàng tiếp cận dân, làm trung gian giải quyết hết nhu cầu của DN đặt ra trong lúc này và đương nhiên, giá lúa thu mua trong dân sẽ cao hơn và người dân sẽ có được lợi nhuận tốt hơn.

Từ đó, có thể khẳng định rằng, “cò lúa” là trung gian giúp dân tiêu thụ lúa với giá tốt và thuận tiện hơn; DN thì có nguyên liệu tốt hơn theo đúng đơn đặt hàng của mình. “Từ dịch vụ này, lực lượng “cò” hưởng lợi từ phần chênh lệch là hoàn toàn hợp lý”, ông Nguyễn Trần Thức khẳng định và mong muốn người dân và DN nên xem và có cái nhìn tốt hơn về lực lượng “cò lúa”, bởi đây là cầu nối, là đối tác trong chuỗi sản xuất này, có vai trò kích thích cung - cầu trong quá trình sản xuất.

Về giải pháp lâu dài, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh sẽ tổ chức lại hệ thống cò lái. Hơn ai hết, DN, thương lái và người dân phải liên kết nhau trong sản xuất. Trong chuỗi giá trị này, phải xác định rõ nhu cầu của DN, thương lái chính là người cung cấp thông tin cho người dân để chủ động đáp ứng tốt nhất nhu cầu đó và mang lại hiệu quả cao nhất trong mỗi mùa vụ. Hoạt động này phải đảm bảo tính chặt chẽ là dân bán lúa và thương lái sẽ thu mua và cung cấp cho DN.

Về thực trạng “cò tôm”, thanh tra ngành Nông nghiệp khuyến cáo, cách ngăn chặn tốt nhất là người nuôi tôm cần đề cao cảnh giác, “cập nhật” liên tục và phổ biến rộng rãi các cách thức gian lận của thương lái cho nhiều người cùng biết để phòng tránh. Bên cạnh đó, các ngành chức năng và nhất là các địa phương phải triệt để xử lý, có biện pháp mạnh tay hơn, xem đây như một tệ nạn, một kiểu gian lận thương mại tinh vi ở nông thôn mà nông dân “tay lấm chân bùn” là người gánh chịu, phải được loại trừ.

Về góc độ chính quyền địa phương, bà Nguyễn Thị Loan, Bí thư Đảng ủy xã Khánh Bình (huyện Trần Văn Thời), cho biết: “Xã thường xuyên chỉ đạo cán bộ chuyên môn và lực lượng công an xã tăng cường công tác kiểm tra tạm trú, tạm vắng lực lượng thương lái, đặc biệt cao điểm mùa vụ. Định hướng cho người dân, đặc biệt là các hợp tác xã, tham gia chặt chẽ và có hiệu quả vào chuỗi sản xuất giá trị ngành hàng và sản xuất theo đúng quy hoạch vùng như ban đầu”.

Cùng với cải tiến hệ thống thủy nông nội đồng phục vụ tốt cho hoạt động giao thương, buôn bán, chính quyền địa phương phải xây dựng hệ thống thương lái đưa vào chuỗi sản xuất. Tất cả cùng chung sức làm kinh tế, nêu cao vai trò thành viên của chuỗi. Có vậy thì chi phí sản xuất sẽ thấp hơn, giá lúa sẽ cao và người dân sẽ hưởng lợi nhiều hơn; đương nhiên DN sẽ hoạt động hiệu quả hơn khi đã “với” tới nông dân, thông qua hệ thống thương lái này. Nhìn xa hơn là liên kết sản xuất chuỗi sẽ không còn “nghẽn” như trước nữa, khi các “nhà” đã có tiếng nói chung.

PHÚ HỮU

Dân tin, cùng làm nông nghiệp thông minh Kỳ cuối: Giải pháp hơn là ‘giải cứu’

Nguồn tin:  Báo Đất Mũi

Nông dân Cà Mau đã quá ngán ngẩm với điệp khúc “được mùa - mất giá”, “đụng hàng - dội chợ”, bởi nó cứ lặp đi lặp lại mỗi khi đến mùa thu hoạch nông sản. Chưa thể nói trước tình trạng này còn tiếp diễn hay không, nhưng những mô hình sản xuất mới thành công và có đầu ra ổn định bằng việc liên kết sâu theo chuỗi và ứng dụng công nghệ cao, sẽ là “giải pháp vàng” để nông sản Việt Nam phát triển sạch và nông nghiệp tỉnh nhà phát triển bền vững.

Sau nhiều nỗ lực, một tin vui từ ngành chuyên môn là giá thực phẩm tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành là thị trường tiềm năng trong khu vực ĐBSCL có xu hướng tăng thời gian qua. Nắm bắt xu thế đó, nông dân Cà Mau đã bắt đầu áp dụng những mô hình nông nghiệp sạch: Dưa hấu VietGAP, tôm VietGAP, tôm sạch, lúa sạch, rau thủy canh… mang lại hiệu quả cao và là những mô hình điểm đang được nhân rộng.

Giải pháp được ngành chuyên môn đặt ra trong lúc này là đẩy mạnh mời gọi doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; tăng cường sự liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp; tăng cường từng khâu trong chuỗi liên kết…

Xây dựng “thương hiệu” cho lúa gạo Cà Mau

Nền nông nghiệp thông minh đang dần hình thành được coi là giải pháp cốt lõi, nhằm giải quyết triệt để những tồn tại, hạn chế để chấm dứt điệp khúc “được mùa - mất giá” đối với các sản phẩm nông nghiệp. Với mục tiêu các sản phẩm nông nghiệp của địa phương phải đáp ứng được những nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường, Cà Mau đang tích cực triển khai thực hiện dự án ứng dụng khoa học công nghệ xây dựng mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo tiêu chuẩn VietGAP cho hệ canh tác lúa - tôm.

Kỹ sư Phạm Văn Mịch, Giám đốc Trung tâm Giống nông nghiệp tỉnh chia sẻ, dự án VietGAP trên lúa đối với tỉnh Cà Mau còn rất mới, nhưng với sự cố gắng và hỗ trợ chuyển giao khoa học công nghệ của Viện Khoa học - Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, bước đầu đã thực hiện theo đúng tiến độ về khối lượng, đảm bảo chất lượng sản phẩm dự án và ứng dụng ngay vào sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

Cà Mau hiện có khoảng 168ha đất trồng đạt chuẩn VietGAP, trong đó có khoảng 120ha lúa. Hệ canh tác lúa mùa đặc sản rất phù hợp điều kiện biến đổi khí hậu, nhất là trong điều kiện xâm nhập mặn ngày càng tăng ở các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL. Trong hệ thống lúa - tôm, giống lúa mùa đặc sản địa phương có tính thích ứng cao do có kiểu hình thích nghi vùng trũng thấp, chịu mặn tốt và chống chịu sâu bệnh.

Kỹ sư Nguyễn Văn Tranh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, lúa gạo là một trong 4 ngành hàng chủ lực được chọn để triển khai Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp. Hiện, Sở đang triển khai mô hình sản xuất lúa an toàn. Trên cơ sở đó, tỉnh sẽ quy hoạch các điểm đang sản xuất lúa chất lượng cao, sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP để xây dựng vùng sản xuất lúa sạch.

Người dân Cà Mau đã bắt đầu áp dụng những mô hình nông nghiệp sạch: Dưa hấu VietGAP, tôm VietGAP, tôm sạch, lúa sạch, rau thủy canh… mang lại hiệu quả cao và là những mô hình điểm đang được nhân rộng.

Tập trung ngành hàng tôm chủ lực

Với ngành tôm, từ những định hướng đã được vạch ra về sản xuất sạch, có chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế, các chuyên gia nông nghiệp đánh giá, từ đây sẽ mở ra những cơ hội to lớn đối với ngành tôm địa phương. Bởi tỉnh Cà Mau có trên 280.000ha nuôi tôm, chiếm 40% diện tích, 30% giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm của cả nước; phấn đấu đến năm 2025 giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 3 tỷ USD và đến năm 2030 đạt 4 tỷ USD. Ngoài ra, tỉnh còn có trên 30 nhà máy chế biến, với công suất khoảng 200.000 tấn/năm, trong đó chế biến tôm là chủ yếu. Giá tôm có chứng nhận bình quân cao hơn giá thị trường khoảng 20%. Sản phẩm tôm Cà Mau đã có mặt trên 90 quốc gia; trong đó, thị trường xuất khẩu chính gồm: Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc.

Để hướng đến mục tiêu tạo nên vùng nuôi tôm sạch, an toàn và bền vững, UBND tỉnh Cà Mau phối hợp với Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân cùng Chương trình SeafoodWatch và Quỹ Carnegie Vì hòa bình quốc tế tổ chức “Ngày kết nối doanh nghiệp ngành thủy sản và ký kết tham gia Liên minh Sản xuất tôm sạch và bền vững Việt Nam”.

Điều này không chỉ đảm bảo việc lựa chọn các nhà nuôi tôm, cung ứng thức ăn, cơ sở hạ tầng mà còn tạo thành một chuỗi khép kín theo quy trình chuẩn, tất cả vì mục tiêu hướng đến sự phát triển bền vững của ngành tôm Việt Nam trong thời gian tới.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Sử cho biết, việc thành lập Liên minh sản xuất tôm sạch và bền vững được đánh giá là một trong những xu thế tất yếu trong bối cảnh ngành tôm Việt Nam nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng phải thay đổi để thích nghi với xu hướng thị trường thay đổi, buộc chú trọng vào chất lượng thay vì số lượng. Tới đây, khi tham gia vào liên minh, Cà Mau sẽ đẩy mạnh tổ chức sản xuất chuỗi một cách chặt chẽ hơn nữa, qua đó xây dựng các vùng nuôi chứng nhận quốc tế, đồng thời đẩy mạnh giám sát cộng đồng...

Những giải pháp chiến lược

Từ thực tế đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng mô hình liên kết mới, trong đó có sự tham gia tích cực và gắn trách nhiệm từ các bên trong chuỗi giá trị. Đối với người nuôi tôm: Một đơn vị diện tích đất nuôi tôm công nghiệp phải góp tối thiểu 25% vốn (qua máy móc, trang thiết bị, con giống, lao động, nhiên liệu…). Doanh nghiệp cung cấp vật tư hỗ trợ người nuôi tôm, góp tối thiểu 35% thông qua hình thức bán hàng trả sau không tính lãi. Còn về phía ngân hàng, cho vay tối thiểu 40% vốn qua hình thức cho vay thế chấp.

Để thực hiện chuỗi liên kết mới này, người nuôi tôm sẽ được mua trực tiếp con giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản từ doanh nghiệp với mức giá ưu đãi. Người nuôi tôm sẽ được bán trực tiếp con tôm cho doanh nghiệp chế biến, đóng gói, bỏ qua 2 trung gian đầu mối. Theo đó, mô hình mới sẽ đặt trách nhiệm cho mỗi bên tham gia cùng có lợi.

Giải pháp được ngành chuyên môn đặt ra trong lúc này là đẩy mạnh doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; tăng cường sự liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp; tăng cường từng khâu trong chuỗi liên kết này. Tiếp tục cải cách hành chính, thể chế, chính sách; cải thiện môi trường đầu tư trong nông nghiệp; khuyến khích các ngân hàng tham gia vào chuỗi liên kết. Từ liên kết “4 nhà”, rồi mở rộng lên “6 nhà” là một chiến lược cho tương lai bền vững, bao gồm các thành viên của chuỗi: Nhà nông - nhà nước - ngân hàng - doanh nghiệp - người nuôi tôm - nhà phân phối.

Để mời gọi đầu tư vào ngành nông nghiệp công nghệ cao, tỉnh Cà Mau tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất; tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng các dịch vụ cung ứng đầu vào; ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, giá thuê đất… nhằm đạt mục tiêu phát triển thành vùng nông nghiệp công nghệ cao.

Nhiều giải pháp đã được triển khai thực hiện đồng loạt và có kế hoạch dài hơi, tin rằng chúng ta không hụt hơn giữa chừng và chuỗi liên kết theo đó cũng thông suốt hơn trước và những bài toán khó về đầu ra cho nông sản Cà Mau sẽ được giải, từ những giải pháp mang tầm chiến lược này.

PHÚ HỮu

Đưa thêm 2 con voi nhà vào rừng sinh sống

Nguồn tin: Báo Đắk Lắk

Tổ chức Động vật Châu Á cho biết đã ký thỏa thuận hợp tác với Chi nhánh công ty TNHH Ánh Dương - Khu Du lịch sinh thái Bản Đôn để chăm sóc, cải thiện sức khỏe hai cá thể voi nhà thuộc sỡ hữu của đơn vị.

Theo đó, Tổ chức Động vật Châu Á sẽ trả cho chủ voi một khoản kinh phí, đổi lại hai cá thể voi cái P'Lú (60 tuổi) và Bun Kon (37 tuổi) của đơn vị sẽ giao lại cho Tổ chức Động vật Châu Á đưa vào VQG Yok Đôn cho voi tự do kiếm ăn, đi lại, sinh sống trong rừng tự nhiên; không còn phải chở khách, làm các trò tiêu khiển mua vui cho khách du lịch.

Hai con voi tham gia hoạt động du lịch thân thiện của VQG Yok Đôn tự do đi lại, kiếm ăn trong rừng.

Trước khi được Tổ chức Động vật Châu Á đưa vào rừng, hai cá thể voi này có tình trạng sức khỏe yếu, khả năng tiêu hóa thức ăn kém. Nếu sống trong điều kiện nuôi nhốt, phải phục vụ khách du lịch hằng ngày thì sức khỏe, tuổi thọ của voi sẽ rất kém. Theo các chuyên gia của Tổ chức Động vật Châu Á, voi được thả vào rừng tự do kiểm ăn sẽ giúp chúng cải thiện thể trạng, khỏe mạnh, sống lâu hơn.

Minh chứng là voi H’Non (hơn 60 tuổi) được Tổ chức Động vật Châu Á thuê lại của một đơn vị làm du lịch ở huyện Buôn Đôn trong tình trạng sức khỏe yếu, đi lại chậm chạp, mắt mờ, bị bệnh ngoài da. Sau gần 1 năm được thả tự do trong rừng VQG Yok Đôn, hiện nay sức khỏe voi H’Non đã được cải thiện rất nhiều, voi mập mạp, nhanh nhẹn hơn nhiều so với trước, bệnh ngoài da cũng đã hết.

Du khách tham gia tuor du lịch ngắm voi của VQG Yok Đôn đang chụp hình voi kiếm ăn trong rừng.

Đi đôi với việc cải thiện sức khỏe cho voi, việc thuê voi thả vào rừng của Tổ chức Động vật Châu Á cũng góp phần hỗ trợ cho VQG Yok Đôn phát triển, mở rộng hoạt động du lịch thân thiện với voi mà đơn vị này đang triển khai, nâng tổng số voi tham gia hoạt động này lên 6 con.

Trước đó, vào tháng 7-2018, Tổ chức Động vật Châu Á và VQG Yok Đôn ký kết thỏa thuận hỗ trợ chuyển mô hình du lịch cưỡi voi sang mô hình du lịch thân thiện với voi. Theo đó, Tổ chức Động vật Châu Á sẽ hỗ trợ khoản kinh phí 65.000 USD cho VQG Yok Đôn để triển khai mô hình này trong khoảng thời gian từ tháng 7-2018 đến tháng 7-2023, còn phía VQG Yok Đôn cam kết không sử dụng 3 con voi thuộc sở hữu của Vườn để tham gia các hoạt động du lịch ảnh hưởng đến sức khỏe của voi, đưa voi trở lại rừng để chúng tự do đi lại, kiếm ăn và khai thác du lịch thông qua việc quan sát, tìm hiểu cuộc sống của voi trong thiên nhiên hoang dã.

Vạn Tiếp

Khai thác thế mạnh ngành chăn nuôi

Nguồn tin: Báo An Giang

Câu nói dân gian “muốn giàu nuôi cá, muốn khá nuôi heo” cho thấy giá trị lớn của ngành chăn nuôi mang lại. Nếu có các doanh nghiệp (DN) lớn tham gia, xây dựng được chuỗi liên kết cung ứng giống, tiêu thụ sản phẩm, đầu tư hợp lý cho nghiên cứu thì thế mạnh ngành chăn nuôi An Giang sẽ được vực dậy.

Sụt giảm tổng đàn

An Giang từng nổi tiếng với thương hiệu bò Bảy Núi nhưng những năm gần đây, 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên lại là những địa phương có số lượng đàn bò giảm nhanh. ThS Trần Tiến Hiệp, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y (CN&TY) An Giang cho biết, thống kê đến đầu năm 2019, tổng đàn bò toàn tỉnh chỉ còn chưa tới 70.000 con, giảm gần 12.000 con so cùng kỳ, giảm mạnh nhất là Tri Tôn (còn 10.749 con, giảm 2.318 con) và Tịnh Biên (còn 15.015 con, giảm 1.563 con). Toàn tỉnh hiện chỉ có 1 DN chăn nuôi bò là Công ty TNHH MTV SD (Tri Tôn) với số lượng 567 con. Đối với hộ nuôi bò có quy mô từ 30 con trở lên, cũng chỉ được 13 hộ.

Theo ông Hiệp, nguyên nhân khiến đàn bò giảm là do giá thịt bò hơi giảm thấp trong thời gian dài, lợi nhuận nuôi bò thấp (từ 0,65 - 1 triệu đồng/con/tháng) nên không hấp dẫn người nuôi. Trong khi đó, giá thịt bò hơi nhập khẩu rẻ hơn từ 30-40% so bò nội địa càng ảnh hưởng đến phát triển đàn. Đối với đàn trâu, cũng giảm mạnh, hiện chỉ còn 2.580 con (giảm 685 con so cùng kỳ).

Bà Nguyễn Thị Xoàn, Phó Chi cục trưởng Chi cục CN&TY cho biết, bình quân mỗi năm, An Giang tiêu thụ khoảng 550.000 con heo nhưng chỉ tự sản xuất được khoảng 150.000 con, còn 400.000 nhập từ các tỉnh khác về giết mổ. Đây là một trong những nguyên nhân khiến việc kiểm soát, ngăn chặn bệnh dịch tả heo Châu Phi lây lan vào tỉnh gặp nhiều khó khăn. Tín hiệu khả quan là có một số DN đã và đang phát triển đàn heo giống, heo thịt với quy mô lớn. Trong đó, Công ty TNHH Giống chăn nuôi Việt Thắng đang phát triển 8.000 con heo ở trại An Giang 1 (xã Lương An Trà, Tri Tôn) với nguồn con giống cụ kỵ nhập từ Đan Mạch, trong khi trại An Giang 2 (xã Lương Phi, Tri Tôn) nhân giống ra ông bà, bố mẹ. Ở trại chăn nuôi Vĩnh Khánh (thuộc Công ty Afiex) đang nuôi 3.000 con giống. Đối với nuôi gia công, trại Hoàng Vĩnh Gia (Tri Tôn) đang nuôi 7.500 con heo thịt/lứa, trại An Khang (Tịnh Biên) nuôi 3.000 con/lứa, cung ứng cho Tập đoàn CP (Thái Lan). “Ngành CN&TY đang tập trung bảo vệ đàn heo giống 9.000 con của Việt Thắng và trại Vĩnh Khánh. Khi tình hình bệnh dịch tả heo Châu Phi được kiểm soát, đây sẽ là những nơi cung cấp nguồn heo giống chất lượng để tái đàn” - bà Xoàn thông tin.

Phát triển chăn nuôi lớn

Trong bối cảnh đàn gia súc gặp khó khăn thì đàn gia cầm lại có sự phát triển khá, đặc biệt là chăn nuôi quy mô lớn. Ông Trần Tiến Hiệp cho biết, tính đến đầu năm 2019, đàn gia cầm toàn tỉnh có 4,51 triệu con (tăng 1,98% so cùng kỳ), gồm 1,3 triệu con gà và 3,2 triệu con vịt. Có 15 hộ nuôi đàn gà với quy mô lớn (từ 1.000 con trở lên). Riêng Công ty TNHH Chăn nuôi công nghệ cao An Khang nuôi đàn gà 30.000 con, cung cấp cho thị trường 348 tấn thịt hơi trong năm 2018. Đối với đàn vịt, ngoài hình thức nuôi vịt chạy đồng thì trại nuôi vịt quy mô lớn, áp dụng tiêu chuẩn an toàn sinh học cũng phát triển đáng kể. Hiện nay, đàn vịt chăn nuôi quy mô lớn có 217.800 con (bình quân 990 con/hộ). Riêng nuôi quy mô đàn từ 2.000 con trở lên, có 38 hộ tham gia. Bên cạnh đàn gà và vịt thì một loại hình mới đang phát triển nhanh là nghề nuôi chim yến lấy tổ. Từ nhà yến đầu tiên xuất hiện ở An Giang năm 2008, đến nay toàn tỉnh đã phát triển hơn 600 nhà yến. Đây là loại hình có giá trị kinh tế cao nhưng phát triển tự phát. Chi cục CN&TY đang rà soát, quản lý và định hướng phát triển nhà yến theo Quyết định số 48/2018/QĐ-UBND, ngày 27-11-2018 của UBND tỉnh (ban hành quy định về quản lý nuôi chim yến trên địa bàn tỉnh An Giang).

Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý nhà nước, tiềm năng phát triển đàn gia súc trên địa bàn An Giang là rất lớn khi nguồn thức ăn là phụ phẩm nông nghiệp rất phong phú, điều kiện tự nhiên phù hợp. Tuy nhiên, việc tổ chức chăn nuôi nhỏ lẻ ngày càng tỏ ra không còn phù hợp khi khó áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật để giảm giá thành chăn nuôi, tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Tín hiệu vui là đang có một số DN quan tâm đầu tư chăn nuôi lớn và xây dựng chuỗi liên kết với người nuôi vệ tinh. Trong đó, Tập đoàn TH đang xúc tiến triển khai dự án nuôi 20.000 con bò sữa ở Tri Tôn, nghiên cứu mở rộng thêm 10.000 con theo hình thức hợp tác với người dân địa phương…

Bài, ảnh: NGÔ CHUẨN

Chuyển đổi chăn nuôi theo chuỗi giá trị

Nguồn tin: Sài Gòn Giải Phóng

Chăn nuôi gia súc, gia cầm là một trong những thế mạnh ở ĐBSCL. Tuy nhiên, thời gian qua, việc chăn nuôi luôn gặp khó khăn vì giá cả sụt giảm, nhất là dịch bệnh trên đàn heo lan rộng gây thiệt hại lớn. Tái cơ cấu lĩnh vực chăn nuôi nhằm giảm thiểu rủi ro và hướng đến phát triển bền vững là vấn đề cấp bách đang được đặt ra.

Nuôi heo theo quy mô công nghiệp, mô hình mà nông dân ĐBSCL cần liên kết

Nuôi heo quá bấp bênh

Huyện Châu Thành và TP Sa Đéc là nơi nuôi heo trọng điểm của tỉnh Đồng Tháp nhiều năm qua. Chị Dương Thị Bé, ngụ xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, bộc bạch: “Nuôi heo bây giờ quá bấp bênh, dịch tả heo châu Phi hoành hành trên diện rộng khiến nông dân điêu đứng”.

Mỗi năm, chị Bé nuôi hàng trăm con heo thương phẩm và hàng chục con heo giống. Trong quý 1- 2019, chị Bé xuất chuồng 2 đợt, bán với giá 40.000 - 50.000 đồng/kg, đảm bảo lợi nhuận; tuy nhiên, đợt thứ 3 ngay vào thời điểm dịch tả heo châu Phi khiến giá giảm xuống khoảng 30.000 đồng/kg, xem như không lời.

Cùng nỗi buồn trên, anh Trần Hoàng Nam, ngụ xã Mỹ Phong, TP Mỹ Tho (Tiền Giang), băn khoăn: “Còn nhớ những tháng đầu năm 2017, giá heo hơi giảm thê thảm và khó tiêu thụ. Dù ngành chức năng phát động nhiều đợt “giải cứu”, nhưng người nuôi vẫn bị lỗ nặng 6.000 - 12.000 đồng/kg. Năm 2018, nhiều hộ chăn nuôi nỗ lực gầy lại đàn heo và giá có cải thiện; song niềm vui chưa duy trì được lâu thì nay dịch tả heo châu Phi bao trùm, đẩy người nuôi rơi vào khốn đốn”.

Theo Sở NN-PTNT các tỉnh ĐBSCL, dịch bệnh lây lan nhanh và số lượng heo phải tiêu hủy ngày càng nhiều. Hiện các tỉnh vừa tập trung phòng chống dịch, vừa nhanh chóng hỗ trợ người nuôi giảm bớt thiệt hại. Ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, yêu cầu Sở NN-PTNT tỉnh này phối hợp với các địa phương tập trung phòng bệnh cho số lượng heo khỏe mạnh còn lại; khuyến cáo người dân không nên tái đàn khi chưa công bố hết dịch bệnh.

Tại An Giang, người chăn nuôi heo cũng mất ăn mất ngủ vì dịch bệnh và lo lắng trước những rủi ro của nghề. UBND tỉnh An Giang cũng đã chỉ đạo các ngành chức năng và các huyện cố gắng hạn chế lây lan và phát sinh những ổ dịch mới...

Số lượng heo giảm mạnh

Theo Sở NN-PTNT các tỉnh ĐBSCL, chăn nuôi heo là nghề truyền thống của không ít hộ dân nông thôn. Tuy nhiên, việc chăn nuôi vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại và chậm chuyển đổi. Ông Cao Văn Hóa, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Tiền Giang, cho rằng: “Là địa phương có số lượng đàn heo lớn nhất khu vực ĐBSCL, nhưng thực trạng chăn nuôi của Tiền Giang đa phần nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm, thiếu kết nối với thị trường… Bên cạnh đó, giá cả lên xuống không ổn định, dịch bệnh thường xảy ra, khiến đàn heo của tỉnh từ hơn 700.000 con trước đây, nay giảm khá nhiều”.

Tại Đồng Tháp, ông Võ Bé Hiền, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh, cũng thừa nhận: “Nhiều bất lợi đang vây quanh nghề nuôi heo. Lúc cao điểm, Đồng Tháp có khoảng 600.000 con heo, nhưng giờ đây chỉ còn hơn 200.000 con và nếu dịch bệnh còn kéo dài thì nguy cơ đàn heo tiếp tục giảm”.

Cũng theo ông Hiền, thực trạng chăn nuôi hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu, chậm ứng dụng mô hình mới, công nghệ cao… Nguyên nhân là do chi phí đầu tư lớn, người nuôi dạng hộ gia đình không theo nổi.

Trao đổi với PV Báo SGGP, ông Nguyễn Thành Đức, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Kiên Giang, cho biết: “Hiện Kiên Giang còn khoảng 200.000 - 300.000 con heo, về cơ bản không đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ của tỉnh; nhất là 2 huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải, gần như nhập toàn bộ heo từ đất liền đưa ra. Thời gian qua, tỉnh cũng khuyến khích người dân nuôi công nghệ cao, công nghệ sinh học, an toàn…, nhưng sự chuyển biến còn chậm; đến nay chỉ có khoảng 22 cơ sở nuôi trang trại. Đối với những hộ không tiếp tục nuôi heo, các địa phương hỗ trợ chuyển sang nuôi vịt chạy đồng, bởi Kiên Giang có nhiều diện tích lúa”.

Ở các tỉnh khác, dự báo đàn heo sẽ giảm và gà, vịt, bò là những vật nuôi được khuyến cáo chuyển đổi theo điều kiện phù hợp từng nơi. Về lâu dài, các tỉnh ĐBSCL tổ chức lại ngành chăn nuôi theo hướng trang trại, công nghiệp, bán công nghiệp (gắn với chăn nuôi truyền thống và chăn nuôi hữu cơ), giảm dần nuôi nhỏ lẻ; đồng thời xây dựng hệ thống giết mổ, chế biến tập trung công nghiệp.

HUỲNH PHƯỚC LỢI

Kiến Xương (Thái Bình): Tiêu hủy 1.025 con gia cầm do mắc dịch cúm tuýp A/H5N6

Nguồn tin: Báo Thái Bình

Trước diễn biến phức tạp của dịch cúm gia cầm, sáng ngày 5/7, UBND huyện Kiến Xương (tỉnh Thái Bình) đã tổ chức họp khẩn để triển khai các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm.

Gia cầm bị mắc dịch bệnh được tiêu huỷ theo đúng quy định của các ngành chuyên môn.

Qua thống kê, tổng đàn gia cầm của huyện Kiến Xương có 1.571.000 con, trong đó có trên 1,1 triệu con vịt; trên 400 nghìn con gà và 30 nghìn con ngan. Hiện nay dịch dịch cúm gia cầm tuýp A/H5N6 đã xuất hiện tại xã Bình Minh với tổng số 1.025 con gia cầm mắc bệnh và đã được tiêu huỷ.

Để hạn chế lây lan dịch bệnh trên diện rộng và giảm thiểu thiệt hại đối với người chăn nuôi, UBND huyện Kiến Xương đã yêu cầu 37 xã, thị trấn cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân về tác hại và sự nguy hiểm của bệnh cúm gia cầm. Khi xuất hiện vật nuôi chết bất thường, chưa rõ nguyên nhân cần báo với các cơ quan chuyên môn để xử lý theo quy định. Hạn chế việc tái đàn trong thời gian dịch bệnh đang diễn biến phức tạp. Tổ chức tiêm phòng bổ sung vắc xin cho đàn gia cầm để tăng cường sức đề kháng kết hợp với thực hiện tốt công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng; chú trọng tới các khu vực có nguy cơ cao có thể lây nhiễm dịch bệnh như khu vực chăn nuôi, các chợ và các điểm buôn bán, các cơ sở ấp nở và giết mổ gia cầm…

Vũ Đông (Đài TT-TH Kiến Xương, tỉnh Thái Bình)

Hiếu Giang tổng hợp

 

 

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop