Tin nông nghiệp CN ngày 08 tháng 9 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp CN ngày 08 tháng 9 năm 2019

Hà Nội: 1 tấn nhãn nhãn chín muộn lên đường sang Australia

Nguồn tin: Báo Công Thương

Sáng 6/9, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Hà Nội phối hợp với UBND huyện Hoài Đức tổ chức Hội nghị Xúc tiến thương mại, tiêu thụ và xuất khẩu nhãn chín muộn Hà Nội và Lễ công bố nhãn chín muộn Hà Nội xuất khẩu đi Australia năm 2019.

Theo đó, lô hàng nhãn đầu tiên từ huyện Hoài Đức, Hà Nội đã được chuyển vào miền Nam để chiếu xạ rồi xuất sang Australia. Dự kiến trong ngày hôm nay (6/9), những quả nhãn của Việt Nam sẽ chính thức có mặt trên các kệ hàng tại Melbourne, Australia. Như vậy, quả nhãn tươi Việt Nam đã có mặt tại hàng chục quốc gia trên thế giới, trong đó có nhiều thị trường khó tính như Australia, Mỹ, Liên minh châu Âu (EU).

Hà Nội: Xuất khẩu nhãn chín muộn sang thị trường Australia

Là doanh nghiệp xuất khẩu những lô nhãn chín muộn đầu tiên của Hà Nội sang thị trường Australia, bà Phùng Thị Thu Hương - Giám đốc Công ty Thương mại và Xuất nhập khẩu Green Path Việt Nam – chia sẻ: Dưới sự hỗ trợ của hai Chính phủ Australia và Việt Nam, cùng với sự nỗ lực từ phía doanh nghiệp trong việc hướng dẫn bà con để có thể sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường Australia, hiện, những container nhãn chín muộn của Hà Nội đầu tiên đã đến với thị trường Australia. Dù số lượng xuất khẩu ban đầu còn khiêm tốn, khoảng 1 tấn nhãn, nhưng việc này sẽ góp sức và khẳng định vị thế của trái nhãn khi chinh phục được các thị trường xuất khẩu, nhất là tại các thị trường khó tính như Australia nói riêng hay EU, Mỹ… Đồng thời, mang lại cho người nông dân trồng nhãn mức thu nhập tốt hơn.

Cùi dày, trái to, cơm khô hơn, nhãn chín muộn của Hà Nội có hương vị đặc trưng của nhãn miền Bắc. Bên cạnh đó, với phương châm tôn trọng giá trị thật của nông sản, Green Path không dùng hóa chất xử lý sáng màu cho trái nhãn mà để màu tự nhiên vốn có. Chấp nhận bỏ ra chi phí lớn hơn, Green Path sử dụng phương tiện vận chuyển là máy bay thay vì đường biển, bà Phùng Thị Thu Hương kỳ vọng nhãn muộn của Hà Nội sẽ đón nhận những tín hiệu tích cực từ người tiêu dùng Australia. “Xuất khẩu thành công là một điều đáng mừng, nhưng giữ được niềm tin của người tiêu dùng hay không là việc mà doanh nghiệp phải nỗ lực hàng ngày. Do đó, Green Path luôn nhấn mạnh hướng đi chọn chất lượng thay vì số lượng”, bà Phùng Thị Thu Hương nhấn mạnh.

Quả nhãn cũng là loại trái cây thứ 4 của nước ta được Australia cấp phép nhập khẩu sau quả vải, xoài và thanh long.

Quả nhãn cũng là loại trái cây thứ 4 của nước ta được Australia cấp phép nhập khẩu sau quả vải, xoài và thanh long. Ông Nguyễn Quốc Toản – Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường Nông sản (Bộ NN&PTNT) – đánh giá, trong những năm gần đây Bộ NN&PTNT đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương và các địa phương trong thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thúc đẩy mở cửa thị trường xuất khẩu và đạt được nhiều kết quả. Tuy nhiên, các thị trường nhập khẩu đang có sự thay đổi về yêu cầu, trong đó, đặc biệt chú trọng đến vấn đề truy xuất nguồn gốc, quản lý chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm thông qua chế biến, đóng gói… Việc trái nhãn muộn Hà Nội xuất khẩu sang thị trường Australia nói riêng và các thị trường khó tính khác là sự nỗ lực của Hà Nội trong suốt 5 năm qua, từ khâu sản xuất, học hỏi kinh nghiệm, thay đổi tư duy sản xuất của người dân, nhà quản lý và sự đồng hành của doanh nghiệp. Cùng với thị trường Australia, hiện Bộ NN&PTNT cũng đang tích cực xúc tiến để xuất khẩu nhãn vào thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc trong thời gian tới.

Giống nhãn chín muộn của Hà Nội chủ yếu là 2 giống HTM1 và HTM2 tập trung trồng tại các huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Chương Mỹ với diện tích khoảng 600 ha

Theo báo cáo của Sở NN&PTNT Hà Nội, diện tích cây ăn quả Hà Nội năm 2018 là 18.796 ha, trong số các cây ăn quả, diện tích nhãn đứng thứ 3 với sản lượng 18.000 tấn. Trong đó, giống nhãn chín muộn của Hà Nội chủ yếu là 2 giống HTM1 và HTM2 tập trung trồng tại các huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Chương Mỹ với diện tích khoảng 600 ha, sản lượng nhãn chín muộn đạt khoảng 9.000 – 10.000 tấn, thu nhập bình quân khoảng 300 – 400 triệu đồng/ha/năm, một số vườn tiêu biểu cho thu nhập trên 700 – 800 triệu đồng/ha/năm. Đây là 2 giống có thời gian thu hoạch dài và muộn nhất trong tất cả các giống từ 20/8 đến 25/9 hàng năm, đáp ứng yêu cầu rải vụ thu hoạch và tiêu thụ. Định hướng đến năm 2020, Hà Nội sẽ tăng diện tích nhãn chín muộn lên khoảng 1.000 ha.

Ông Nguyễn Xuân Đại – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội – cho hay, hiện nay, phần lớn nhãn chín muộn ở Hà Nội tiêu thụ dưới dạng quả tươi, qua sơ chế, chế biến, đóng gói nhãn mác (khoảng 3 - 5% sản phẩm). Sản phẩm nhãn chín muộn chủ yếu do nông dân tự tiêu thụ qua tư thương (60 - 70% sản lượng) nên giá thành bấp bênh, khoảng 30 - 40% sản phẩm quả được tiêu thụ tại các cửa hàng, siêu thị tại các quận nội thành, huyện, thị xã. Thị trường tiêu thụ chủ yếu tại Hà Nội. Ngoài ra, nhãn chín muộn của Hà Nội cũng đã được xuất khẩu sang thị trường Malaysia, Mỹ, Ba Lan. Thương hiệu nhãn chín muộn của Hà Nội đã được người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến. “Nhằm tìm kiếm, phát triển và mở rộng thị trường, thời gian qua, Hà Nội đã quan tâm chỉ đạo các Sở, ngành, thông qua các chương trình quảng bá, xúc tiến thương mại và liên kết với doanh nghiệp… để đưa sản phẩm nhãn chín muộn xuất khẩu sang các thị trường khó tính, trong đó có thị trường Australia”, ông Nguyễn Xuân Đại nhấn mạnh.

Ngày 8/8/2019, Bộ Nông nghiệp Australia đã chính thức công bố các điều kiện nhập khẩu quả nhãn tươi từ Việt Nam. Lễ công bố chính thức và trao chứng nhận xuất khẩu nhãn do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Nguồn nước Australia công bố chính thức tại Hà Nội trong ngày 29/8, khi Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Nguồn nước Australia có chuyến công tác tại Việt Nam.

Theo thông tin từ Đại sứ quán Việt Nam tại Australia, phía Australia yêu cầu quả nhãn xuất khẩu vào thị trường này phải có truy xuất nguồn gốc rõ ràng, sản xuất và xuất khẩu theo quy trình vận hành đáp ứng yêu cầu chất lượng, xác minh tình trạng kiểm dịch thực vật đáp ứng điều kiện nhập khẩu hoa quả tươi vào Australia.

Nguyễn Hạnh

Khám phá ‘thủ phủ’ chuối mật mốc miền Trung

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Với tổng diện tích lên đến trên 3.500ha, trong đó khoảng 1.800ha trồng tại vùng nội địa và chừng đó diện tích người dân thuê đất trồng tại nước bạn Lào, từ lâu huyện Hướng Hóa (tỉnh Quảng Trị) được mệnh danh là “thủ phủ” của cây chuối mật mốc miền Trung. Sản phẩm chuối quả ở đây chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường như Trung Quốc, Lào, Thái Lan… và một phần tiêu thụ nội địa.

Chợ chuối Tân Long luôn tấp nập từ sáng đến chiều tối

Theo các bậc cao niên địa phương, trước đây cây chuối mật mốc ở huyện Hướng Hóa chủ yếu được trồng trong vườn nhà với diện tích manh mún, nhỏ lẻ, sản phẩm sau thu hoạch có giá trị thấp, thường được người dân dùng thờ cúng trong các dịp lễ, tết hoặc sử dụng làm thực phẩm phụ hằng ngày. Khoảng 10 năm trở lại đây, khi thị trường chuối mật mốc được mở rộng khắp cả nước, rồi xuất khẩu sang một số thị trường như Trung Quốc, Lào, Thái Lan… thì sản phẩm chuối mật mốc Hướng Hóa đã trở thành thương hiệu nổi tiếng, có thế sánh ngang với bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), cam Xã Đoài (Nghệ An), thanh long (Bình Thuận)… “Sở dĩ chuối mật mốc Hướng Hóa được người tiêu dùng trong, ngoài nước ưa chuộng bởi ngoài hình thức trái to, đều, màu sắc đẹp do đặc thù của khí hậu khô nóng nơi vùng biên giới Việt - Lào, thì điều đặc biệt hơn cả chính là vì phương thức canh tác thuận theo tự nhiên, không sử dụng bất kì loại thuốc bảo vệ thực vật nào của người dân nơi đây khiến sản phẩm chuối được ưa thích”, nông dân Võ Hoành, thôn Long Giang, xã Tân Long khẳng định.

Hiện nay, diện tích chuối mật mốc của huyện Hướng Hóa chủ yếu tập trung tại các xã dọc vùng Lìa, nơi địa bàn sinh sống lâu đời của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô và một số xã dọc đường 9 như Tân Long, Tân Thành... Nhờ tập trung phát triển kinh tế bằng cây chuối mật mốc, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây đã có những đổi thay đáng kể. Ông Pả Hiền, trú bản Xi Núc, xã Tân Long cho biết: “Trồng chuối cho năng suất bình quân khoảng 15 tấn/ha, với giá dao động từ 6.000- 8.000 đồng/kg, có thời điểm lên đến 10.000 đồng/kg, mỗi héc ta chuối mang về thu nhập cho gia đình tôi khoảng hơn 100 triệu đồng/năm, cao hơn nhiều so với các loại cây trồng khác. Ngoài ra lá, thân chuối được tận dụng để gói bánh hoặc tận thu làm thức ăn chăn nuôi”.

Góp phần đưa sản phẩm chuối mật mốc của nông dân đến với các thị trường tiêu thụ trong, ngoài nước, phải kể đến lực lượng tiểu thương đông đảo của địa phương. Với gần 100 đại lí thu gom chuối xuất khẩu rải đều các tuyến đường chính như đường Lìa, Quốc lộ 9 và khu vực ngã chợ Tân Long, người dân trồng chuối huyện Hướng Hóa có thể yên tâm với đầu ra của sản phẩm. Chị Lê Thị Kiều, một tiểu thương có gần 10 năm gắn bó với nghề thu mua chuối xuất khẩu ở khu vực ngã 3 chợ Tân Long cho hay, hiện nay mỗi ngày trung bình có khoảng 10 chuyến xe thu gom gần 100 tấn chuối cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu đi các nước Trung Quốc, Thái Lan... Để tiện lợi cho người dân trong việc bán sản phẩm, nhiều tiểu thương đã mở các điểm thu mua chuối về tận các bản làng xa xôi trên địa bàn trong và ngoài xã nên nông dân bớt được chi phí vận chuyển mà lại bán được giá cao.

Những năm gần đây, với mong muốn giúp nông dân phát triển bền vững cây chuối mật mốc, địa phương cũng đã có những chủ trương, chính sách hợp lí nhằm giúp người dân yên tâm sản xuất. Ông Trương Đình Tùng, Chủ tịch UBND xã Tân Long, địa phương có diện tích trồng chuối lớn nhất huyện Hướng Hóa với gần 1.000 ha cho biết, hiện nay chuối mật mốc là cây trồng chủ lực trong phát triển kinh tế của người dân trên địa bàn. Toàn xã có gần 200 hộ gia đình trồng chuối với thu nhập trên 100 - 500 triệu đồng/năm. Bên cạnh duy trì hình thức nông dân bán trực tiếp cho tiểu thương, thời gian tới, xã có chủ trương liên kết với các doanh nghiệp, hợp tác nhằm tìm đầu ra ổn định cho cây trồng chủ lực này. Đồng thời khuyến khích người dân áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, giá trị cho thương hiệu chuối mật mốc Hướng Hóa.

Một tín hiệu vui nữa đối với chính quyền và người dân địa phương khi vào tháng 8/2018 vừa qua, Hội Nông dân huyện Hướng Hóa đã được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp Giấy chứng nhận Nhãn hiệu tập thể số 299267 cho sản phẩm “Chuối mật mốc Hướng Hóa”. Ông Lê Quang Thuận, Phó Chủ tịch UBND huyện Hướng Hóa cho biết, chuối mật mốc là loại cây dễ trồng, rất phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán sản xuất của người dân địa phương. Thời gian qua, cây chuối mang lại thu nhập cao và ổn định cho người dân trên địa bàn huyện. Nhiều hộ dân đã chuyển đổi những diện tích đất bạc màu, kém hiệu quả sang trồng chuối, đặc biệt hình thức hợp tác thuê đất của người dân nước bạn Lào mở rộng diện tích sản xuất đang cho thấy hiệu quả cao. “Thời gian tới, ngoài việc quy hoạch diện tích vùng trồng chuối ổn định, chính quyền địa phương sẽ tích cực phối hợp với các sở, ban, ngành của tỉnh tập trung mọi nguồn lực xây dựng thương hiệu “Chuối mật mốc Hướng Hóa” thành thương hiệu mạnh của địa phương, từng bước nâng cao hơn nữa giá trị cho loại cây trồng chủ lực này”, ông Thuận nói.

Công Điền

Tiền Giang: Huyện Cai Lậy có trên 10.600 ha vườn chuyên canh cây ăn trái đặc sản

Nguồn tin: Cổng TTĐT tỉnh Tiền Giang

Hiện nay, huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) có trên 14.600 ha vườn, trong đó có trên 10.600 ha vườn trồng chuyên canh các loại cây ăn trái đặc sản mà chủ lực là sầu riêng có giá trị kinh tế cao, mang lại nguồn lợi kinh tế lớn cho nông dân và là nông sản hàng hóa xuất khẩu của địa phương. Từ đầu năm đến nay, bà con đã thu hoạch đạt sản lượng trên 241.000 tấn các loại cung ứng thị trường.

Thực hiện mục tiêu chuyển đổi sản xuất theo hướng chung sống với lũ, nông dân huyện Cai Lậy đã tích cực chuyển đổi diện tích đất canh tác phía Nam Quốc lộ 1 sang trồng các loại cây ăn trái đặc sản có lợi thế cạnh tranh như: Sầu riêng, mít Thái siêu sớm, cây có múi,... Trong đó, sầu riêng đã định hình được vùng trồng chuyên canh gần 9.000 ha tập trung tại các xã nằm ven sông Tiền: Tam Bình, Ngũ Hiệp, Long Trung, Long Tiên...

Huyện cũng đã tranh thủ sự hỗ trợ của các ngành, các cấp, đăng ký và được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp chứng nhận nhãn hiệu tập thể "Sầu riêng Cai Lậy" nhằm khẳng định vị thế và nâng cao khả năng cạnh tranh của trái sầu riêng Cai Lậy trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Nhờ cây sầu riêng, nhiều nông dân đã dựng nên cơ nghiệp vững vàng, góp phần vào việc xây dựng và ra mắt xã nông thôn mới tại địa phương.

Tiêu biểu như nông dân Lê Văn Châu, cư ngụ xã Long Tiên canh tác 7.000m2 sầu riêng chuyên canh giống Mongthong và Ri6. Trung bình mỗi năm, gia đình ông thu hoạch hàng chục tấn, bán trừ chi phí còn lãi ròng từ 300 đến 400 triệu đồng.

Nông dân Trương Đình Du, cư ngụ xã Mỹ Long chuyển đổi 1 ha sang trồng chuyên canh sầu riêng cho biết, trung bình mỗi năm, gia đình ông thu hoạch khoảng 10 tấn, với giá bình quân 50.000 đồng/kg, thu 500 triệu đồng, trừ các khoản chi phí còn lãi khoảng 400 triệu đồng. Nhờ cây sầu riêng chuyên canh, gia đình ông có của ăn, của để và xây dựng nhà cửa khang trang. Theo ông Du, nhờ thường xuyên được tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm, được bồi dưỡng về kiến thức khoa học kỹ thuật do các cấp tổ chức áp dụng vào sản xuất mang lại hiệu quả tốt trong thâm canh sầu riêng.

Ngoài sầu riêng, các cây ăn trái đặc sản khác như: Mít Thái siêu sớm, bưởi da xanh, các cây ăn trái khác...cũng mang lại cho nông dân nguồn lợi kinh tế khá cao nhờ áp dụng các biện pháp thâm canh để đạt năng suất, sản lượng cao và bán có giá trên thị trường.

Mộng Tuyết

Quảng Trị: Trồng đậu xanh trên đất lúa thiếu nước, giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Ảnh hưởng biến đổi khí hậu, đặc biệt tình trạng thiếu nước tưới đang ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, tác động không nhỏ đến sự phát triển của cây trồng. Vì vậy, việc chuyển những diện tích đất không chủ động nước tưới sang cây trồng cạn có giá trị kinh tế, là giải pháp hợp lí tránh tình trạng bỏ phí đất sản xuất hoặc canh tác kém hiệu quả. Tại Hợp tác xã (HTX) Thượng Phước, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị), nhiều nông dân đã chủ động mở rộng diện tích trồng đậu xanh trên đất lúa thiếu nước trong vụ hè thu với hình thức sản xuất một vụ lúa - một vụ đậu xanh.

Phát triển diện tích cây đậu xanh trên đất lúa thiếu nước

Vì thiếu nguồn nước tưới, những năm trở về trước gia đình ông Lê Văn Phố ở thôn Thượng Phước, xã Triệu Thượng sau khi thu hoạch xong lúa đông xuân, diện tích đất thường bỏ hoang, đến khi quay lại vụ sản xuất vụ mới phải mất rất nhiều công lao động để làm vệ sinh đồng ruộng. Thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo khuyến cáo của ngành nông nghiệp, sau khi tìm hiểu thông tin, biết được trên chân đất này có thể trồng được đậu xanh, được tham gia các lớp tập huấn chuyển đổi cây trồng cạn trên đất lúa thiếu nước, nhờ hướng dẫn nhiệt tình về kĩ thuật của cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Khuyến nông huyện Triệu Phong, vụ hè thu năm nay, ông Phố chuyển đổi 7 sào đất trồng lúa không chủ động nước tưới sang trồng đậu xanh. Giống đậu xanh ông đưa vào trồng là DX208, đây là loại giống đã được các đơn vị chuyển giao trên địa bàn tỉnh khảo nghiệm cho thấy hiệu quả năng suất, chất lượng cao, giống chín sớm, sinh trưởng khỏe, ra hoa tập trung theo lứa, sai trái, khi chín không bị tách quả.

Ông Phố cho biết, trồng cây đậu xanh ngoài việc tiết kiệm nguồn nước tưới, đây còn là giải pháp quan trọng để ứng phó với tình hình hạn hán, đảm bảo nguồn thu nhập ổn định cho gia đình ông. “Chỉ sau 2 tháng xuống giống, cây đậu xanh sẽ cho thu hoạch, sau khi thu hoạch lứa đầu tiên tôi tiếp tục chăm sóc thì cây ra hoa, cho quả lần 2, năng suất bình quân khoảng 50kg/1sào. Trồng đậu xanh không mấy vất vả mà bán sản phẩm cũng thuận lợi, tư thương tìm vào tận nhà thu mua. Nhờ trồng đậu xanh, gia đình tôi cũng như nhiều hộ dân trong vùng có thêm nguồn thu nhập để trang trải cuộc sống. Năm trước thì giá giá đậu xanh 20.000/kg, năm nay được giá hơn 26.000/kg, tôi thấy rất phấn khởi”, ông Phố nói.

Thực hiện việc chuyển đổi tái cơ cấu cây trồng vật nuôi, vụ hè thu và thu đông 2019 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, với diện tích chuyển đổi hơn 600 ha đất lúa thiếu nước sang các hình thức sản xuất và cây trồng khác. Việc chuyển đổi cây trồng này không những mang lại hiệu quả cao về kinh tế mà còn đạt nhiều hiệu quả xã hội như tiết kiệm nước tưới từ 75 đến 80% so trồng lúa, chống hoang hóa đất nông nghiệp do bỏ vụ, tăng độ phì cho đất, hạn chế dịch hại, ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Thực tế những năm qua, sản xuất ở địa phương khi hạn hán diễn ra nhiều diện tích cây trồng bị thiếu nguồn nước tưới dẫn đến tình trạng mất mùa, nông dân vừa mất công chăm bón, vừa mất chi phí đầu tư. Trong khi đó, nếu thực hiện chuyển đổi cây trồng phù hợp sẽ giúp người dân chủ động và an toàn trong sản xuất, hiệu quả kinh tế cao hơn trong điều kiện thiếu nước tưới. Ngoài việc tăng hiệu quả kinh tế, các mô hình chuyển đổi cây trồng cạn còn có thu nhập ổn định hơn, kể cả trong điều kiện khô hạn kéo dài.

Trao đổi với chúng tôi, anh Trần Trọng Nghĩa, Phó Giám đốc HTX Thượng Phước cho biết, để thích nghi với biến đổi khí hậu, những năm trở lại đây HTX Thượng Phước đã chủ động và khuyến khích người dân khai thác diện tích đất ruộng kém hiệu quả để chuyển đổi qua cây trồng cạn. Đưa những giống cây trồng có giá trị kinh tế vào thay thế, trong đó cây đậu xanh đã trở thành loại cây chủ lực để chuyển đổi trên địa bàn. “Vụ hè thu 2019 tại HTX Thượng Phước có trên 30 hộ tham gia chuyển đổi trên diện tích trên 5 ha, hiện tại còn khoảng còn khoảng 2 ha đất chưa chuyển đổi. Trong thời gian tới, bằng nguồn hỗ trợ của cấp trên cũng như nội lực của HTX, chúng tôi sẽ cùng với người dân tiếp tục nhân rộng mô hình này, để giải quyết việc làm, hạn chế ruộng bỏ hoang hằng năm, nâng cao nguồn thu nhập cho nông dân”, anh Nghĩa cho hay.

Thực hiện chủ trương chỉ đạo của ngành nông nghiệp về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, chuyển đổi các diện tích đất lúa thiếu nước, sản xuất bấp bênh sang cây trồng cạn nhằm khắc phục tình trạng thiếu nước sản xuất, thời gian qua, UBND xã Triệu Thượng tích cực chỉ đạo các HTX, hướng dẫn nông dân ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp. “Vụ hè thu 2019, toàn xã gieo trồng được 74,25 ha cây đậu xanh, trong đó có 11,05 ha được chuyển đổi từ ruộng lúa kém hiệu quả. Với chủ trương, giải pháp khắc phục diện tích đất nông nghiệp thiếu nước ở xã Triệu Thượng, đã tạo điều kiện cho người dân phát huy nội lực để phát triển kinh tế hiệu quả hơn. Việc phát triển những loại cây trồng cạn, điển hình như cây đậu xanh sẽ tạo điều kiện cho việc tái cơ cấu nền nông nghiệp toàn diện, bền vững hơn”, Chủ tịch UBND xã Triệu Thượng Lê Ngọc Dũng nói.

Để ứng phó với hạn hán, việc lựa chọn giống cây trồng cạn phù hợp để chuyển đổi là rất cần thiết, tránh tình trạng bỏ phí đất sản xuất hoặc canh tác kém hiệu quả. Với những kết quả bước đầu mang lại của mô hình trồng đậu xanh trên đất lúa thiếu nước, việc thực hiện chuyển đổi một vụ lúa một vụ đậu xanh sẽ càng ngày được nhân rộng, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho nông dân vùng gò đồi Triệu Thượng.

Phan Việt Toàn

Giá trị kinh tế cao từ trồng nấm

Nguồn tin: Báo An Giang

Với hàng triệu tấn rơm thải ra đồng ruộng mỗi năm, nếu tận dụng tốt, đây sẽ là nguồn thức ăn quan trọng cho bò, dùng lót nền cho rẫy, hoa màu, nguồn nguyên liệu trồng nấm… Trong đó nấm rơm là sản phẩm luôn có giá trị kinh tế cao, không chiếm nhiều diện tích, kỹ thuật chăm sóc cũng không phức tạp.

Nấm rơm cho hiệu quả kinh tế cao

Lãng phí tài nguyên rơm

Với vị thế là 1 trong 2 tỉnh đứng đầu cả nước về sản lượng lúa, An Giang là địa phương có lượng rơm và trấu thải ra môi trường đứng hàng đầu. Do tận dụng chưa tốt nên lâu nay, nguồn tài nguyên sinh khối từ phụ phẩm cây lúa này bị coi là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, cũng có nhiều mô hình tận dụng rơm trồng nấm, cho hiệu quả kinh tế khá cao.

Trung tâm Khuyến nông An Giang cho biết, diện tích trồng nấm rơm trên địa bàn tỉnh đang có khuynh hướng tăng lên. Nếu như năm 2014, diện tích trồng nấm rơm là 300ha thì đến nay, đã duy trì được khoảng 400ha, sản lượng cũng tăng từ hơn 3.000 tấn (năm 2014) lên trên 4.200 tấn (năm 2018), năng suất trung bình 10 tấn/ha. Trong đó đã xuất hiện những mô hình cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Điển hình như mô hình trồng nấm rơm trong nhà ứng dụng công nghệ cao, 1m mô cho thu hoạch trung bình 1,39kg nấm rơm, cao hơn gần 40% so các điểm trồng ngoài trời (thu hoạch trung bình 1kg/m mô). Toàn tỉnh đã nhân rộng được 20 mô hình trồng nấm rơm trong nhà. Thực hiện kế hoạch gói hỗ trợ kỹ thuật - tài chính - thị trường cho sản phẩm nấm giai đoạn 2015 - 2016, toàn tỉnh đã xây dựng 17 điểm trình diễn mô hình trồng nấm rơm trong nhà, 8 mô hình trồng nấm mèo, tổ chức 22 lớp kỹ thuật trồng nấm cho nông dân, hỗ trợ 7 máy cuốn rơm, tổ chức 15 cuộc hội thảo mô hình trình diễn, thu hút 750 nông dân tham gia, hình thành 15 tổ hợp tác sản xuất nấm ăn tại các huyện…

Theo Trung tâm Khuyến nông An Giang, mô hình trồng nấm rơm trong nhà giúp nông dân có thể kiểm soát được điều kiện ngoại cảnh (nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng…), tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nấm sinh trưởng và phát triển. Mô hình giúp nông dân tăng hiệu quả kinh tế hơn 30% so với trồng ngoài trời. Một tiến bộ mới đã được áp dụng là trồng nấm rơm bằng nguyên liệu compost (hỗn hợp bao gồm rơm ủ chín và các chất dinh dưỡng hữu cơ cần thiết cho nấm phát triển). Rơm compost được xử lý bằng phương pháp công nghiệp hấp tiệt trùng nên sạch mầm bệnh, hạn chế sự nhiễm tạp và có thể rút ngắn thời gian sản xuất do không cần thực hiện khâu ủ rơm, đảo rơm. Nấm rơm trồng bằng nguyên liệu compost cho chất lượng tốt hơn so với phương pháp trồng nấm rơm truyền thống.

Tiếp tục nhân rộng

Từ đầu năm 2019 đến nay, Trung tâm Khuyến nông An Giang đã xây dựng thành công 2/6 mô hình “trồng nấm rơm trong nhà bằng nguyên liệu rơm phối trộn với 30% nguyên liệu bông vải” tại huyện Thoại Sơn và Phú Tân. Kết quả, năng suất nấm thu được 2,15kg/m mô. Bên cạnh kiểm soát được nhiệt độ, ẩm độ, nền xi măng trong nhà cũng giúp nông dân thuận tiện trong khâu vệ sinh khử trùng, trong khi nguyên liệu bông vải giúp giữ ẩm tốt cho mô nấm, giúp tơ nấm phát triển và cho thu hoạch sớm hơn so với trồng nấm rơm hoàn toàn bằng rơm.

Từ năm 2018, Trung tâm Khuyến nông An Giang bắt đầu triển khai Dự án nhân rộng mô hình trồng nấm rơm trong nhà bằng nguyên liệu compost tại các huyện: Châu Thành, Chợ Mới, Thoại Sơn và TP. Long Xuyên. Dự án đã hỗ trợ 2 lớp tập huấn kỹ thuật cho nông dân, xây dựng 15 nhà trồng nấm, mỗi nhà trồng diện tích 80m2 (ngang 5m, dài 16m, cao 3m), thực hiện 200 bao nguyên liệu compost/nhà nấm. Kết quả, mỗi bao nguyên liệu 20kg cho năng suất nấm rơm thu hoạch đạt trung bình 1,24kg (nấm rơm loại 1 đạt 1,08kg/bao, nấm loại 2 đạt 0,16kg/bao). Với giá bán trung bình 65.000 đồng/kg nấm loại 1 và 50.000 đồng/kg nấm loại 2, nông dân thu được lợi nhuận 5,44 triệu đồng/nhà trồng/vụ. Cùng một diện tích, mô hình trồng nấm rơm trong nhà bằng nguyên liệu compost cho lợi nhuận cao hơn 77% so với mô hình trồng nấm rơm ngoài trời theo cách truyền thống. Sản phẩm nấm rơm bằng nguyên liệu compost được người tiêu dùng ưa chuộng, dễ tiêu thụ hơn.

Với nguồn nguyên liệu rơm dồi dào, tiềm năng phát triển nghề trồng nấm rơm là rất lớn. Với diện tích nhỏ (từ 80 - 100m2/nhà nấm), mỗi hộ có thêm thu nhập 5 - 6 triệu đồng/vụ nấm). Tuy nhiên, để phát triển quy mô lớn, lâu dài và bền vững, cần có những nghiên cứu về nâng cao chất lượng nguồn rơm, ứng dụng công nghệ chọn tạo, nuôi cấy giống theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu chất lượng của phôi nấm, hỗ trợ vốn cho người dân đầu tư xây dựng nhà trồng nấm rơm theo hướng công nghệ cao với quy mô lớn hơn, mời gọi doanh nghiệp liên kết tham gia chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ nấm ăn trên địa bàn tỉnh.

Bài, ảnh: HOÀNG XUÂN

Mắc ca đang... ‘mắc cạn’ (kỳ 2): Nông dân mò mẫm với cây giống

Nguồn tin: Báo Đắk Nông

Giống là một trong những yếu tố quyết định về hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Thế nhưng, thời gian qua, hầu hết nông dân khi trồng mắc ca đều phải mua giống một cách cảm tính, không thể phân biệt được đâu là nguồn giống bảo đảm chất lượng, phù hợp với địa phương.

Cây giống mắc ca đang là "bài toán khó" đối với nông dân Tuy Đức. Ảnh: Văn Biên

Băn khoăn giữa các dòng giống Đã có 9 năm trồng mắc ca, bà Lê Thị Uyên, thôn 4, xã Quảng Tâm (Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông) thừa nhận trồng mắc ca khó khăn nhất nằm ở khâu kỹ thuật và giống. Ngoài việc chưa nắm rõ quy trình chăm sóc cây mắc ca như thế nào, bà Uyên cũng như nhiều hộ dân khác rất băn khoăn về chất lượng cây giống. Theo bà Uyên, với quá nhiều loại giống mắc ca bán trên thị trường như hiện nay, nông dân rất khó để biết đâu là loại giống tốt, phù hợp với điều kiện ở Tuy Đức.

Tâm tư của người trồng mắc ca Tuy Đức cũng là vấn đề mà ngành Nông nghiệp cũng đang băn khoăn. Theo Sở Nông nghiệp và PTNT, hiện nay chưa có bất kỳ tài liệu nào khẳng định chắc chắn về dòng giống mắc ca phù hợp với sinh thái tiểu vùng của các địa phương. Mặt khác, công tác quản lý giống mắc ca cũng chưa được kiểm soát và ngành chức năng chưa đưa ra được khuyến cáo đối với người dân, doanh nghiệp là nên trồng những dòng giống nào.

Công ty Cổ phần mắc ca Nữ Hoàng chăm sóc cây giống mắc ca. Ảnh: Văn Biên

Cũng nói về cây giống, trong báo cáo kết quả thực hiện Đề án phát triển mắc ca trên địa bàn, ông Trần Viết Cự, Phó Chủ tịch UBND huyện Tuy Đức thừa nhận, các tài liệu canh tác cây mắc ca còn thiếu. Đến nay, chưa có tài liệu nào khẳng định chắc chắn dòng giống mắc ca cho năng suất cao và phù hợp nhất với điều kiện sinh thái của huyện Tuy Đức. Trong khi đó, hiện nay đang có tới hơn 13 dòng giống mắc ca được trồng khắp vườn rẫy của người dân.

Nông dân chấp nhận đánh cược

Trong khi cơ quan chuyên môn, chính quyền địa phương chưa xác định rõ được giống mắc ca phù hợp nhất để khuyến cáo nông dân trồng thì trên địa bàn Tuy Đức, có hàng chục điểm bán loại giống cây này. Đến các điểm bán cây giống, nếu hỏi cây mắc ca thì có đủ loại như: OC, QN, 695, 246, H2, 800, 842… Có lẽ các loại giống này chắc chỉ có chủ vườn giống mới biết. Còn đối với nông dân, chỉ còn cách đặt tất cả niềm tin vào chủ vườn giống và chấp nhận mua giống theo kiểu "năm ăn năm thua".

Để tạo cây giống tốt, người dân chọn cách lựa những cây mắc ca cho trái nhiều để ươm giống

Hiện tại, giá cây giống mắc ca được bán trên thị trường huyện Tuy Đức từ 40-50.000 đồng/cây. Để trồng được một ha mắc ca, người dân phải bỏ ra từ 15-20 triệu đồng tiền mua cây giống. Đó là chưa kể công chăm sóc, cộng với khoảng thời gian từ 5- 7 năm trở lên để cây mắc ca cho thu hoạch. Do đó, trồng mắc ca giờ đây đối với nông dân cũng giống như một "canh bạc". Có đầu tư lớn, mất nhiều thời gian chờ đợi, nhưng chưa hẳn nhận được kết quả tốt, vì phụ thuộc vào nguồn giống cũng như những yếu tố khác.

Theo khảo sát của Sở Nông nghiệp và PTNT, trên địa bàn huyện Tuy Đức hiện có 13 dòng mắc ca gồm: OC, 816, 695, 849, 842, 800, 788, 246, 741, QN1, A38, A16, H2. Báo cáo của UBND huyện Tuy Đức, thông qua các nguồn vốn như: Chương trình 102, Chương trình 135, Chương trình xây dựng nông thôn mới, Dự án 3EM… trong những năm qua, huyện đã mua và cấp phát hỗ trợ gần 200.000 cây giống mắc ca cho người dân.

Nói về cây giống, Tiến sỹ Hoàng Mạnh Cường, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho biết, hiện tại người nông dân huyện Tuy Đức trồng mắc ca không theo một loại giống cụ thể. Giống mắc ca có rất nhiều loại, nhưng không phải tất cả đều phù hợp tại Tuy Đức.

Cũng theo Tiến sỹ Cường, để tìm ra được một loại giống phù hợp phải được đánh giá nhiều năm, trồng thử nghiệm ở những vùng tương tự như Tuy Đức. Khi có kết quả thì mới quyết định quy hoạch và đưa vào trồng đại trà. Chính vì vậy, hiện nay người dân đành chấp nhận may rủi khi chọn các loại giống mắc ca để trồng. Nếu vô tình chọn được dòng giống phù hợp thì mắc ca phát triển tốt, cho năng suất cao và ngược lại.

Bài, ảnh: Công Tính - Phan Tuấn

Thời của nông sản sạch

Nguồn tin:  Báo Bình Dương

Chuyện nông sản sạch đang được nông dân trong tỉnh Bình Dương quan tâm. Người nông dân ngày nay đã có sự thay đổi đáng kể trong tư duy sản xuất. Đã qua cái thời lạm dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học vừa nguy hại đến sức khỏe của người tiêu dùng vừa làm ô nhiễm đất trồng trọt.

Ông Nguyễn Văn Tỵ, ở xã Thanh Tuyền, huyện Dầu Tiếng, đã bắt đầu thay đổi suy nghĩ của mình về cách làm nông nghiệp sạch. Nhờ công nghệ thông tin bùng nổ, ông chịu khó “lang thang” trên mạng và biết được nông sản sạch an toàn cho sức khỏe được nhiều người ưa chuộng. Từ đó, những năm qua vườn măng cụt của ông chưa một lần sử dụng thuốc trừ sâu. Để đối phó với loài kiến gây hại trên cây măng cụt, ông chỉ phun thuốc sinh học mỗi năm một lần. Chính cách làm này đã giúp vườn măng cụt của ông đã được nhiều người biết đến.

Người dân ở vùng Cù lao Rùa (xã Thạnh Hội, TX.Tân Uyên) quanh năm sinh sống bằng nghề trồng lúa, mía, bưởi, bạc hà, hành… Quà tặng cho những người nông dân cần cù, giàu lòng mến khách nơi đây là dòng sông Đồng Nai luôn cho nguồn nước tưới và lượng phù sa màu mỡ bồi đắp quanh năm. Nhưng với những loại cây trồng và cách làm truyền thống những năm trước đây không giúp người nông dân nơi đây khá lên.

Câu chuyện về một bác sĩ ở Cù lao Rùa bỗng dưng một ngày “nhớ đất nhớ ruộng” quyết định về Thạnh Hội làm trang trại rau sạch. Không những thế, vị bác sĩ này còn kiêm luôn việc chuyển giao kỹ thuật sản xuất nông sản an toàn và bao tiêu sản phẩm cho người nông dân. Nông sản sạch một lần nữa đã giúp bà con nơi đây tìm ra hướng đi mới.

Ngày nay, Thạnh Hội đã bắt đầu xuất hiện những vườn rau an toàn, sản phẩm nông sản đa dạng hơn với các loại cây trồng như dưa hấu, thanh long ruột đỏ.... an toàn đối với sức khỏe của người tiêu dùng. Hiện nay, đầu ra các sản phẩm nông nghiệp sạch của xã Thạnh Hội rất ổn định, thu nhập của những nông dân tham gia sản xuất nông sản an toàn cũng được nâng lên đáng kể

Người nông dân Bình Dương rất nhạy bén và bắt kịp nhanh xu thế tiêu dùng. Đây là cơ sở để tin tưởng rằng, trong thời gian tới ngành nông nghiệp tỉnh nhà phát triển bền vững.

HOÀNG PHONG

Gia Lai cảnh báo tình trạng bắt bọ 3 sọc bán cho thương lái

Nguồn tin:  Báo Gia Lai

Chiều 6-9, tin từ Trung tâm dịch vụ nông nghiệp (TTDVNN) huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai, đơn vị này vừa ra văn bản cảnh báo về việc bắt, thu gom bọ 3 sọc hay còn gọi là sâu ban miêu, sâu đậu trên địa bàn huyện.

Trước đó, trên địa bàn các xã Đak Sơ Mei và Hà Đông, huyện Đak Đoa xuất hiện tình trạng người dân tìm bắt và thu gom bọ 3 sọc để bán cho thương lái với giá cao bất thường. TTDVNN huyện Đak Đoa tiến hành kiểm tra thực tế trên địa bàn xã Đak Sơ Mei thì xác định người dân tại đây đang tìm bắt và thu gom bọ 3 sọc để bán cho các cửa hàng tạp hóa với giá từ 1,5-1,7 triệu đồng/kg nhưng không rõ thương lái thu mua với mục đích gì. Đơn vị này cũng phát hiện việc người dân vì lợi ích trước mắt đã đổ xô đi săn lùng loại bọ này, trong đó có cả trẻ em và một số trường hợp đã bị rộp da do quá trình trao đổi, mua bán.

Người dân đã đổ xô đi bắt bọ 3 sọc về bán cho thương lái với giá cao. Ảnh: Văn Ngọc

TTDVNN huyện Đak Đoa cho biết, bọ 3 sọc là loại sâu có cánh cứng, màu xanh lục biếc, dài khoảng 15-20 mm, ngang 4-6 mm, thường ký chủ trên cây lúa, khoai lang, đậu, bầu, bí từ khoảng tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, phân bổ khắp các tỉnh trên cả nước. Đây là loại sâu chứa độc tố là hoạt chất gây phồng da, nếu dính vào tay cầm hoặc lỡ bôi vào mắt, dụi mắt sẽ làm bỏng rát, tổn thương giác mạc. Độc tố này nếu vào cơ thể người qua đường tiêu hóa sẽ gây ngộ độc nặng, tổn thương dạ dày và ruột, đau bụng, nôn mửa, chảy máu đường tiêu hóa, hoại tử ruột và có thể dẫn đến tử vong.

Với sự nguy hiểm trên, TTDVNN huyện Đak Đoa đề nghị UBND các xã, thị trấn phối hợp với các đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến từng thôn, làng, hộ dân để người dân biết về sự nguy hiểm của bọ 3 sọc và ngừng việc lùng bắt loại bọ này để phòng ngộ độc, đồng thời tuyệt đối không được ăn bọ 3 sọc. Bên cạnh đó, cần tuyên truyền cho người dân khi lao động có tiếp xúc loại sâu này cần sử dụng dụng cụ bảo vệ như đeo kính, găng tay, quần áo dài tay, tránh tiếp xúc trực tiếp, đặc biệt trên các vùng da mỏng hay vùng mắt. Nếu không may tiếp xúc thì cần rửa ngay bằng nhiều nước, xà phòng, kết hợp chớp mắt trong nhiều phút sau đó đến bệnh viện để điều trị ngay.

TTDVNN huyện Đak Đoa cũng đề nghị các đơn vị như Công an xã, Công chức Địa chính-Nông nghiệp xã thường xuyên kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các trường hợp tổ chức bắt, mua bán và gây nuôi loại bọ này. Ngoài ra, nếu phát hiện bọ 3 sọc xuất hiện trên các loại cây nông nghiệp thì sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ có hiệu quả.

Văn Ngọc

Sóc Trăng: Tiềm năng phát triển nghề nuôi ong lấy mật

Nguồn tin: Báo Sóc Trăng

Nhận thấy mô hình nuôi ong lấy mật cho hiệu quả kinh tế khá cao, nhiều hộ dân đã đầu tư phát triển nghề chăn nuôi này và đồng thời mở rộng quy mô để kinh doanh dịch vụ các sản phẩm từ ong mật. Đây là mô hình có tiềm năng phát triển theo hướng bền vững, mở ra hướng phát triển mới trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

Đa dạng sản phẩm từ mật ong

Nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng sử dụng mật ong có chất lượng, đảm bảo an toàn, anh Nguyễn Minh Tùng ở ấp Trường An, xã Trường Khánh (Long Phú, tỉnh Sóc Trăng) đã thành lập Công ty TNHH Ong Xanh chuyên sản xuất mật ong hữu cơ do anh làm giám đốc. Anh cho biết: “Sau khi tìm hiểu, tôi biết được nhu cầu sử dụng mật ong trên thị trường ngày càng tăng, nhưng vấn đề chất lượng sản phẩm được người tiêu dùng quan tâm hơn. Tôi đã có ý tưởng làm nên sản phẩm mật ong hữu cơ, đảm bảo chất lượng, vệ sinh, không bị nhiễm đường và thuốc bảo vệ thực vật, thông qua việc tận dụng khu vườn của gia đình, với nhiều loại cây ăn trái làm môi trường sống, nuôi dưỡng đàn ong để khai thác mật”.

Đưa chúng tôi ra khu vườn tham quan mô hình nuôi ong, anh Tùng chia sẻ: “Đầu năm 2015, tôi bắt đầu thực hiện ý tưởng của mình. Tôi mua con giống ở huyện Kế Sách về nuôi thử nghiệm chỉ một thùng gỗ, với thiết kế có các khay và hộp nhỏ để ong có thể làm tổ và cho mật. Sau 1 tháng nuôi, thu được 2 lít mật nguyên chất. Từ hiệu quả bước đầu, tôi quyết định đầu tư mở rộng quy mô để phát triển mô hình này”.

Nuôi ong lấy mật được xem là mô hình mang lại nhiều lợi ích cho hộ nuôi.

Hiện nay, khu vườn của anh Tùng đã có 30 thùng gỗ, với khoảng 1.500 hộp để ong làm tổ. Trung bình mỗi tháng, lượng mật thu được khoảng 60 lít, đảm bảo về chất lượng khi tối thiểu thủy phần dưới 23%, bán được giá từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng/lít.

“Cùng với sản phẩm mật ong hữu cơ, công ty còn cung cấp đa dạng các mặt hàng khác như: mật ong nguyên sáp, phấn hoa, ong mật giống, dịch vụ thụ phấn cây trồng. Ngoài ra, công ty chúng tôi đang nghiên cứu phương pháp cô đặc mật ong thành đường, rất tốt cho sức khỏe khi sử dụng hàng ngày thay cho đường mía hay đường hóa học tinh luyện” - anh Tùng cho biết thêm.

Hiện tại, nhiều sản phẩm của Công ty TNHH Ong Xanh được bày bán tại các trạm dừng chân cũng như một số điểm tham quan du lịch trong tỉnh. Không chỉ vậy, mô hình nuôi ong của anh Tùng đang được xem là địa điểm tham quan học hỏi của nhiều cá nhân, phòng nông nghiệp tại các địa phương lân cận. Với việc phát huy được tiềm năng, thế mạnh riêng và sự tuân thủ quy trình của người nuôi, sản phẩm mật ong sạch của Công ty TNHH Ong Xanh có thể trở thành sản phẩm chủ lực và phát triển trên quy mô lớn, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

Để mô hình nuôi ong lấy mật đạt hiệu quả

Vốn dĩ nghề nuôi ong lấy mật có từ lâu đời, nhưng mấy năm gần đây bắt đầu phát triển nở rộ ở khắp các địa phương trên địa bàn tỉnh, như huyện Cù Lao Dung đã thành lập được Tổ hợp tác Nuôi ong ở xã An Thạnh 1. Trong năm nay, Trạm Khuyến nông huyện Mỹ Tú cũng triển khai thực hiện mô hình nuôi ong lấy mật tại nông hộ, với quy mô 20 thùng ong giống/hộ; ước năng suất mật bình quân 20 lít/thùng/năm, với sản lượng mật đạt 360 lít/năm thì thu nhập bình quân tăng thêm cho hộ nuôi có thể được khoảng 2,7 triệu đồng/tháng.

Chia sẻ về những kinh nghiệm thực hiện mô hình nuôi ong lấy mật cũng như những khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, anh Nguyễn Minh Tùng cho biết: “Để thực hiện mô hình, điều kiện cần nhất là phải có một khoảng vườn nhỏ để đặt đàn ong và che mát cho nó. Có thể đặt ở khu vực có vườn cây ăn trái hay vườn tạp, nhưng bắt buộc nơi đó phải có phấn hoa. So với những con vật khác, nuôi ong ổn định hơn và không có nhiều dịch bệnh như các loài gia súc, gia cầm. Tuy nhiên, khi mới thực hiện cũng có những khó khăn như là vấn đề tiêu thụ, nhưng khi khẳng định được chất lượng sản phẩm và tạo được sự tin tưởng cho khách hàng thì việc tiêu thụ bắt đầu trôi chảy hơn.”

Đồng chí Ngô Hiền Triết – cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông Sóc Trăng cho biết: “Nhằm thực hiện chủ trương đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn của mỗi huyện, thì mô hình nuôi ong lấy mật được xem là nghề mới tạo công ăn việc làm và giúp họ có thu nhập tăng thêm. Đây là một loài vật sống chủ yếu từ các nguồn thức ăn tự nhiên, trong quá trình nuôi ít sử dụng các loại thức ăn nhân tạo, ít sử dụng kháng sinh. Bên cạnh đó, trong quá trình lấy mật cũng như là phấn hoa, con ong sẽ giúp thụ phấn cho các loại cây trồng và hoa màu, từ đó sẽ làm tăng hiệu quả đậu trái của cây trồng”.

Đồng chí Ngô Hiền Triết lưu ý: Để nuôi ong mật cho hiệu quả cao, người chăn nuôi cần chú trọng đến kỹ thuật nuôi từ khâu chọn giống, chọn địa điểm, tạo chúa và cho đến thu hoạch mật. Nếu như đáp ứng đầy đủ các quy trình kỹ thuật trong quá trình nuôi, sẽ giúp cho đàn ong sinh trưởng mạnh, ít dịch bệnh, tăng sản lượng và chất lượng của mật ong, góp phần tăng hiệu quả kinh tế của nghề nuôi ong.

Tuyết Xuân

Tổng đàn heo của cả nước giảm 18,5% so cùng kỳ 2018

Nguồn tin: Sài Gòn Giải Phóng

Tính đến ngày 1-7-2019, tổng đàn heo của cả nước là trên 22,2 triệu con giảm 18,5%, trong đó đàn nái là 3,2 triệu con giảm khoảng 20% và tổng sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng là 2,1 triệu tấn giảm 6,5% so với cùng kỳ 2018.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến phát biểu khai mạc hội nghị

Sáng ngày 6-9, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNN) phối hợp với UBND tỉnh Bến Tre tổ chức hội nghị Phát triển chăn nuôi heo an toàn sinh học (ATSH) và chăn nuôi gia cầm (CNGC) đảm bảo tính bền vững.

Tham dự hội nghị có ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT; ông Cao Văn Trọng, Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, cùng các Cục, Vụ, Viện tham dự hội nghị, lãnh đạo các ngành liên quan khu vực phía Nam.

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, cho biết do dịch tả heo châu Phi nên lượng thịt cung ứng có sự thiếu hụt, vì vậy không để tái diễn dịch tả, các ngành liên quan cần tập trung phát triển chăn nuôi theo hướng ATSH, đồng thời sử dụng chế phẩm sinh học, đảm bảo số lượng thịt đủ cung ứng cho dịp Tết Nguyên đán. Đây là giải pháp quan trọng nhất, cần tập trung quyết liệt.

Chăn nuôi heo theo hướng ATSH nhằm tránh tái dích tả heo châu Phi. Ảnh minh họa

Đến ngày đầu tháng 7-2019, tổng đàn heo của cả nước là trên 22,2 triệu con, giảm 18,5%, trong đó đàn nái là 3,2 triệu con, giảm khoảng 20% và tổng sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng là 2,1 triệu tấn giảm 6,5% so với cùng kỳ 2018.

TÍN HUY

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop