Tin nông nghiệp CN ngày 12 tháng 5 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp CN ngày 12 tháng 5 năm 2019

Mưu sinh dưới tán rừng cao su

Nguồn tin: Sài Gòn Giải Phóng

Thấp thoáng dưới tán rừng cao su đang mùa thay lá, nhiều lều trại được dựng lên để nuôi những bầy ong đi tìm hoa hút mật. Bị lôi cuốn bởi món quà thiên nhiên ban tặng, những con người vốn quen với cuộc sống tha phương đang phiêu dạt theo những mùa hoa để “đánh mật”.

Nuôi ong lấy mật dưới tán rừng cao su

Mùa ong cho mật

Trong cái nắng hanh vàng giữa rừng cao su bạt ngàn, chúng tôi tìm về khu vực đặt các trại nuôi ong thuộc xã Thuận Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Vụ thu hoạch mủ đã xong khá lâu nên những vườn cao su vắng bóng thợ cạo. Thấp thoáng trong các khu vườn là những lều trại do người nuôi ong từ nhiều vùng miền tụ về. Các khu lều trại được dựng lên bằng gỗ, nứa, che bởi tấm bạt ni lông, trống trước hở sau. Khu lều trại của gia đình ông Nguyễn Mạnh Hà (60 tuổi) có 3 người đang sinh sống, với hơn 200 thùng ong được đặt chạy dài giữa những hàng cao su đang mùa thay lá. Mỗi thùng có cả ngàn con ong thợ, được chủ trại chăm sóc kỹ lưỡng để bay đi tìm hoa hút mật.

Gần 8 giờ sáng, ông Hà tiến đến từng thùng ong, bắt đầu công việc ngày mới. Đôi tay nhanh thoăn thoát bám vào các cầu ong đã kết mật vàng sóng sánh, ông cẩn thận kiểm tra từng thùng một rồi kéo xà cầu đưa bột đậu nành đã rang xay để ong ăn. Bị đánh động, bầy ong bay tứ tung tấn công chủ trại, nhờ đã chuẩn bị chiếc nón có gắn lưới che nên ông Hà không bị ong chích. Khi cho ong ăn, ông cũng không quên dùng con dao nhỏ cạo bỏ những vết dơ do thức ăn thừa của bầy ong mật rồi đặt cầu ong vào vị trí cũ.

Dọn xong một cầu ong, ông Hà dừng lại bảo: “Thùng này vừa quay mật được 2 ngày trước, nhưng ong đã tạo gần 3 cầu mật nên phải chú ý tăng cường thêm thức ăn để cuối tuần thêm một lần quay mới. Dịp này không có mưa nên ong tìm hoa lấy mật đều, chẳng mấy ngày nữa lại có thêm huê lợi”. Thoạt trông, công việc có vẻ nhẹ nhàng và đơn giản, nhưng phải làm vào buổi sáng vì buổi chiều ong đi kiếm ăn và rất dữ tợn. Trong mỗi thùng ong có một con ong chúa màu vàng óng, được tạo ra lúc chia đàn và cả ngàn con ong thợ có nhiệm vụ tìm hoa kiếm mật, hễ khi “có động” lại phát ra âm thanh ầm ĩ. Cứ thế, trong vòng 3 giờ, hơn 200 thùng đã được cung cấp thức ăn để tiếp thêm năng lượng cho bầy ong thợ bay đi tìm mật.

Hơn 11 giờ, ông Hà dừng công việc. Khẽ gạt những giọt mồ hôi chát mặn lăn trên gò má, ông Hà cho biết thêm, mỗi lần “thăm mật” thì chỉ cần 1 - 2 người, nhưng lúc thu hoạch thì phải có 10 người. Nuôi ong phải tùy theo “nguồn đổ”, có nghĩa là tùy lượng mật mà một thùng ong có thể quay mật 2 - 3 lần/tuần, nên với số lượng thùng ong hiện nay của gia đình ông, thu nhập mỗi tháng có thể lên tới 120 triệu đồng. Tuy nhiên, chi phí thức ăn cho ong cũng tốn kém, lên tới 1 triệu đồng/ngày.

Nhìn những giọt mật vàng sóng sánh, bà Nguyễn Thị Vui (42 tuổi, vợ ông Hà) nhiều năm theo chồng “đánh mật” nói thêm vào: “Do đàn ong di chuyển với bán kính rộng chừng 2km, nên việc đặt lều trại cũng phải chọn lựa để tránh những vườn cây sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Khi gặp sự cố, phải di chuyển đi nơi khác mới cứu được bầy ong và thu được những giọt mật sạch. Mật cao su ngọt và thường không bị nhiễm thuốc kháng sinh nên có màu vàng sáng. Hiện nay, thị trường ong mật cũng rất khắt khe nên trước khi tung ra thị trường phải đo mẫu, độ màu, xem có đạt tiêu chuẩn hay không”.

Phiêu dạt theo những mùa hoa

Năm nay mới 17 tuổi nhưng anh Đoàn Đình Ngọc (quê Bình Thuận) đã có thâm niên 2 năm theo cha mẹ rong ruổi nhiều nơi, để đưa đàn ong đến các vùng đất mới tìm mật. Anh cho biết, mùa đánh mật chỉ trong vòng 6 tháng (từ tháng 1 đến tháng 6 âm lịch), quãng thời gian sau phải đưa đàn về để dưỡng ong rồi chia đàn và nhân giống. Trong lúc chia đàn phải tạo ra một con ong chúa cho mỗi thùng, ong chúa có nhiệm vụ đẻ trứng sinh ra ong thợ để đi hút mật và cân đối các cầu ong trong một thùng để tiếp tục lên đường “đánh mật”. Anh Ngọc tâm tình: “Mùa nào mật đó, nên đã theo nghề phải chấp nhận rong ruổi khắp nơi. Khi thì lên tận Đắk Nông, Đắk Lắk để đánh mật hoa cà phê; lúc về Đồng Nai để tìm hương hoa tràm, hoặc phải ngược ra Hưng Yên, Bắc Giang tìm hoa nhãn lồng. Mỗi năm chỉ có một lần về thăm nhà”.

Làm nghề “đánh mật” tức phải chấp nhận cuộc sống phiêu dạt nay đây mai đó, lấy lều trại làm nơi cư trú, làm bạn với cảnh “màn trời chiếu đất”, thường xuyên đối diện với hiểm họa từ dịch bệnh, mưa dông và gió lốc. Và cũng phải chấp nhận rủi ro, muốn đặt trại phải bỏ tiền đặt cọc, thuê chỗ, nhưng có khi đặt trại ngày trước, hôm sau đã phải di dời do mưa bão phá trại khiến các thùng ong tan vỡ. Mỗi lần trại bị phá như thế phải di chuyển cả một quãng đường dài để tìm bến mới, chi phí rất tốn kém.

Và không ngoài quy luật thị trường, nghề nuôi ong lấy mật cũng bấp bênh, có khi sản phẩm đã thu hoạch nhưng bí đầu ra vì bị tiểu thương ép giá. Giá mật ong khi cao lên tới 47.000 đồng/kg, nhưng hiện tại thì “bèo bọt” chỉ 26.000 đồng/kg nên phải trữ lại chờ giá, không dám tung ra thị trường.

Dù nay đây mai đó, thiếu thốn đủ đường, nhưng khi đã thành niềm đam mê khó bỏ thì những người nuôi ong lấy mật vẫn cứ “chạy” theo những mùa hoa bung nở trên dặm dài những nẻo đường xa ngái, để nuôi thân và lo cho cuộc sống gia đình.

HOÀNG BẮC

'Thủ phủ chăn nuôi' vắng tiếng lợn

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Việc dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) bùng phát ở vùng chăn nuôi lợn lớn nhất miền Bắc – huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam đã đẩy người chăn nuôi nơi đây vào đường tuyệt vọng. Dân khóc ròng, lợn chết dần mòn, thủ phủ chăn nuôi vắng dần tiếng lợn kêu...

Đìu hiu chợ lợn lớn nhất

Kể từ năm 2016 đến nay, người chăn nuôi lợn trải qua 3 biến cố lớn. Năm 2016, cơn “bão giá” đã đẩy giá lợn hơi xuống mức trên dưới 20.000 đồng/kg. Năm 2017, dịch lở mồm long móng bùng phát khiến hàng vạn hộ chăn nuôi điêu đứng. Còn hiện tại, sự hoành hành ác liệt của DTLCP gây thiệt hại khủng khiếp hơn nhiều.

Khu chợ đầu mối vốn tấp nập người mua kẻ bán giờ đây lại vô cùng đìu hiu, vắng vẻ. (Ảnh: Phạm Trung Hiếu).

Về Bình Lục, hỏi bất cứ người dân nào về tình hình chăn nuôi thì trăm người như một lắc đầu ngán ngẩm: 3 năm 3 lần khóc lợn chết, đợt dịch này là đám giỗ lợn lớn nhất!

Chợ đầu mối gia súc gia cầm Hà Nam rộng 12.000m2 với 41 khu chuồng nhốt, được coi là một điểm buôn bán lợn tấp nập bậc nhất, ở xã Bối Cầu, huyện Bình Lục. Chợ phản ánh rõ nét nhất tình hình chăn nuôi. Trái ngược với những ngày bình thường, khi mà mỗi ngày 1.000 – 1.500 con lợn được giao dịch, thì giờ đây, chợ trở nên vắng vẻ, thưa thớt hẳn.

Đã không còn hình ảnh những đoàn xe tải chở hàng nghìn con lợn tỏa đi khắp các tỉnh lân cận, cũng không còn sự náo nhiệt, ồn ào của đám thương lái vẫn chọn lựa, cân lợn, chuyển lợn lên xe tải như hàng ngày. Giờ đây những gì còn sót lại của một khu chợ đã từng sầm uất chỉ là những chiếc xe ba gác chở lợn số lượng đếm trên đầu ngón tay cùng một vài tốp xe máy thương lái đến mua lợn. Chợ lợn ở nơi nuôi lợn lớn nhất miền Bắc lại thành vắng vẻ.

Số lợn được giao dịch tại chợ chỉ còn 300 – 400 con/ngày. (Ảnh: Phạm Trung Hiếu).

Ông Nguyễn Trường Chinh, Ban quản lý Chợ đầu mối gia súc gia cầm Hà Nam, nhìn khu chợ với ánh mắt đượm buồn, thở dài thườn thượt: “Khoảng 2 tháng trước, số lợn giao dịch tại chợ mỗi ngày đã bị giảm xuống còn 700 – 800 con. Giờ lại còn ít hơn, chỉ vài ba trăm con một ngày. Mà giá lợn nào đâu có cao, chỉ 30.000 – 31.000/kg. Mới 10 - 11h trưa đã tan chợ, trong khi ngày trước đến tận chiều vẫn còn tấp nập xe ra xe vào, người mua kẻ bán. Nhiều xã lợn chết sạch rồi. Dịch bệnh nên không ai dám nuôi trở lại, lợn trong dân không còn mấy nữa. Càng nghĩ càng thương người nuôi họ khổ quá”.

Điêu đứng vì dịch

Theo báo cáo của Phòng NN-PTNT huyện Bình Lục, trên địa bàn huyện đã có 348 hộ chăn nuôi thông báo có DTLCP, số lượng lợn phải tiêu hủy lên đến 4.381 con, tương đương 240.406 kg. Số lượng tổng đàn hiện nay còn khoảng 100.000 con.

Ông Đỗ Thế Trọng, Phó Trưởng phòng NN-PTNT huyện Bình Lục, nêu thống kê: “Ba xã phải tiêu hủy lợn nhiều nhất là Hưng Công (44.998 kg), Bối Cầu (hơn 26.000 kg) và An Nội (hơn 36.000 kg). Mức giá hỗ trợ tiêu hủy 32.000/kg đối với lợn thịt và 48.000/kg đối với lợn nái. Cho đến nay, ước tính thiệt hại mà DTLCP gây ra trên địa bàn huyện khoảng 10 tỷ đồng”.

Lác đác một vài chiếc xe máy của thương lái tại chợ. (Ảnh: Phạm Trung Hiếu).

Là một trong những xã được xem là vùng chăn nuôi trọng điểm của Bình Lục, xã Bồ Đề đã thông báo xuất hiện DTLCP từ ngày 27/4. Cho đến ngày 1/5 vừa qua, đã có 13 hộ chăn nuôi tại 5/5 thôn trên toàn xã có lợn dương tính với DTLCP, xã Bồ Đề đã phải tiêu hủy 320 con lợn, tương đương trọng lượng 20.590kg.

Trước khi DTLCP xuất hiện, người dân Bình Lục đã phải khốn khổ vì làn sóng tẩy chay thịt lợn đến từ người tiêu dùng. Gia đình ông Trần Đình Nghị, thôn 3 xã Bồ Đề, đã phải cắn răng bán lỗ 200 con, gần nửa đàn lợn của mình để lấy tiền duy trì đàn lợn nhỏ còn lại. Ấy vậy mà hi vọng nhỏ nhoi còn lại của ông cũng bị dập tắt, DTLCP ập đến, ông Nghị phải tiêu hủy 56 con, chỉ còn 175 con vẫn đang cách ly và chưa biết sẽ dính dịch lúc nào. Vay mượn khắp nơi đầu tư chăn nuôi, gia đình người nông dân này chỉ biết trông mong vào đàn lợn. Giờ lợn dính DTLCP, bao trùm ngôi nhà nhỏ của ông bầu không khí vô cùng u uất.

Ông Nghị nói như khóc: “Gia đình tôi đã phải vay mượn ngân hàng, tín dụng, hỏi vay cả anh em, bạn bè để có vốn nuôi đàn lợn này. Lợn thì chỉ còn rất ít mà món nợ còn tận 2,7 tỷ đồng. Nếu số lợn còn lại dính dịch, phải tiêu hủy hết, vợ chồng tôi chỉ còn nước bán nhà trả nợ mà thôi”.

“Nếu số lợn còn lại dính dịch, phải tiêu hủy hết, vợ chồng tôi chỉ còn nước bán nhà trả nợ mà thôi”. (Ảnh: Phạm Trung Hiếu).

Số tiền mua cám để duy trì đàn lợn còn lại của ông Nghị cũng không hề rẻ. Với 6 bao cám một bữa, 12 bao cám một ngày, người nông dân này phải tốn 3 triệu đồng tiền thức ăn chăn nuôi mỗi ngày. Với cái đà lợn thì không bán được, dịch chỉ chực chờ ập đến, cám vẫn là tiền triệu tính theo ngày, người chăn nuôi lợn ở xã Bồ Đề nói riêng và huyện Bình Lục nói chung đang rơi vào tình trạng điêu đứng, khốn khó vô cùng.

Chuồng lợn “tan hoang” vì DTLCP của ông Nghị. (Ảnh: Phạm Trung Hiếu).

PHẠM TRUNG HIẾU

Giá dê tăng cao, nông dân Bình Phước ‘vớt vát’ thay mùa tiêu mất giá

Nguồn tin: VOV

Từ đầu năm 2018, giá dê tại Bình Phước liên tục tăng, điều này đã tạo lên niềm vui mừng cho không ít người dân chăn nuôi dê tại các địa phương.

Nhu cầu dê thương phẩm thời gian gần đây ngày càng tăng cao, khiến thị trường dê tại Bình Phước cũng nhộn nhịp hẳn lên, giá dê hơi cũng đã xác nhận mức cao kỷ lục mới từ trước đến nay.

Đầu năm 2018, gia đình chị Nguyễn Thị Kim Hoa ở xã Tân Thành, huyện biên giới Bù Đốp, tỉnh Bình Phước đã tham gia vào Tổ hợp tác chăn nuôi dê ở địa phương. Sau hơn một năm chăm sóc, từ 3 cặp dê giống ban đầu, đàn dê của gia đình đã phát triển tốt nên đã cho xuất chuồng lứa đầu tiên. Niềm vui vợ chồng chị Hoa càng được nhân lên khi giá dê hơi bán ra tại chuồng lên tới 130 ngàn đồng/kg.

So với năm 2018, giá dê lúc cao nhất cũng chỉ khoảng 90.000 đồng nhưng năm nay thì tăng mạnh.

“Nói chung vừa rồi xuất được hơn 2 tạ dê cũng được 34 triệu đồng, với cái giá dê hiện nay là người dân rất là phấn khởi” - chị Nguyễn Thị Kim Hoa, người dân xã Tân Thành, huyện Bù Đốp chia sẻ.

Người nông dân Bình Phước phấn khởi vì giá dê tăng cao nhất từ trước tới nay.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Phước có khoảng 17.000 ha hồ tiêu, trong đó hơn 2/3 được trồng bằng trụ cây sống. Đây là điều kiện tốt để người dân phát triển mô hình trồng tiêu kết hợp nuôi dê. Trong hoàn cảnh hồ tiêu liên tục bị mất giá mạnh những năm gần đây thì việc dê bán được giá đã giúp người nông dân cải thiện thu nhập đáng kể để có thể tiếp tục tái đầu tư phân bón, giữ diện tích hồ tiêu trên địa bàn.

“Nhà tôi từ Tết đến giờ tôi cũng đã xuất được gần 6 tạ dê rồi cũng thu được 51 triệu đồng. Với giá dê như thế này, với nguồn thức ăn sẵn như thế này thì chắc chắn cuộc sống của người dân lao động của chúng ta sẽ cải thiện hơn” - bà Nông Thị Lệ, Tổ trưởng Tổ hợp tác chăn nuôi dê xã Tân Thành, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước cho biết.

Theo nhiều người nuôi dê tại địa phương, ngoài các thương lái trong tỉnh tìm mua dê thương phẩm để cung cấp cho thị trường Bình Dương, Đồng Nai, TP HCM … thì đã bắt đầu xuất hiện các thương lái từ các tỉnh phía Bắc vào Bình Phước để thu gom dê với số lượng lớn. Sức mua tăng khiến giá dê không ngừng tăng lên. Bên cạnh dê thịt thì giá dê giống cũng đã tăng cao so với những năm trước, bởi nhu cầu tăng đàn nuôi của chính những người dân tại đây./.

CTV Phước Bình/VOV-TPHCM

Nuôi gà ri với quy trình khép kín, bảo vệ môi trường

Nguồn tin: Báo Đồng Khởi

Tham quan mô hình nuôi gà ri của anh Trần Văn Thuận.

Mô hình nuôi gà ri trên nền đệm lót sinh học của anh Trần Văn Thuận, ở ấp Hòa Phước, xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày Bắc (tỉnh Bến Tre) đã được thực hiện hơn 10 năm qua và luôn đạt hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt, mô hình này còn giúp tránh được mùi hôi thối và không gây ô nhiễm môi trường xung quanh, điều mà từ lâu nay các hộ chăn nuôi nào cũng mong muốn.

Trại nuôi gà ri của anh Thuận được xây dựng ở khu vườn nhà có diện tích khoảng 5.000m2, với tổng đàn trên 10 ngàn con và được thả nuôi trong 10 dãy chuồng lồng, mỗi lồng khoảng 2 gà trống và 10 gà mái, chưa kể đàn gà con giống 2.000 con đang dưỡng. Ở đây, anh Thuận nuôi theo quy trình khép kín vừa đáp ứng nhu cầu gà giống cho các hộ chăn nuôi, vừa xuất bán gà thịt ra thị trường cho các tỉnh, thành trong khu vực và TP. Hồ Chí Minh. Do vậy, khách hàng khi đến đây mua trứng từ gà thương phẩm, gà con giống đến gà thịt thương phẩm, trại gà của gia đình anh đều đáp ứng được.

Anh Thuận cho biết, nhiều năm gắn bó với nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm tại gia đình, bên cạnh thuận lợi, anh cũng gặp không ít khó khăn, vất vả, do dịch bệnh và giá cả thị trường thường xuyên biến động. Tuy nhiên, anh vẫn kiên trì bám trụ với nghề. Bởi lẽ, vùng đất ở đây trồng cây ăn trái cho thu nhập không cao. Đã quyết định sống với nghề này thì phải làm cho đến nơi đến chốn. Anh dành nhiều thời gian tìm hiểu trên sách vở, trên các phương tiện thông tin đại chúng về kỹ thuật trong chăn nuôi để áp dụng và đạt hiệu quả.

Chia sẻ một số kinh nghiệm trong chăm sóc gà ri, anh Thuận cho hay, để nuôi gà ri thương phẩm, gà giống đạt hiệu quả kinh tế cao, người nuôi cần chú trọng từ khâu chăm sóc, phòng bệnh cho gà đến thức ăn, nước uống và vệ sinh chuồng trại sạch sẽ. Đặc biệt, việc đầu tư xây dựng chuồng trại và sử dụng công nghệ đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà sẽ giúp nâng cao năng suất, giảm các bệnh thường gặp và tiết kiệm công lao động. “Tôi nuôi lâu dài nên phải tìm hiểu phương pháp bảo vệ môi trường và đây là công nghệ chăn nuôi an toàn không chỉ bảo đảm sức khỏe gia đình mà còn giữ gìn vệ sinh môi trường xung quanh” - anh Thuận bộc bạch.

Anh Thuận cho biết thêm, gà ri ăn thức ăn không nhiều, nhưng lại đẻ rất sai. Gà ri nuôi khoảng 4,5 - 5 tháng là bắt đầu cho trứng, với thời gian đẻ kéo dài hơn 9 tháng, tỷ lệ đạt trên 50% và tỷ lệ ấp nở từ 70 - 80%. Chi phí nuôi con gà ri từ lúc nở tới khi hết vòng đời đẻ trứng tốn khoảng 100 ngàn đồng/con. Tuy nhiên, sau khi gà ri hết đẻ trứng có thể bán gà thịt ra thị trường với giá khoảng 75 ngàn đồng/con, trong khi đó, gà con nuôi thời gian 1 tháng, đạt trọng lượng khoảng 200gr, bán với giá 15 ngàn đồng/con.

Hiện nay, đầu ra của gà ri thương phẩm, gà giống ổn định, nhiều thương lái đến tận trại chăn nuôi của anh Thuận để đặt hàng với số lượng lớn. Không chỉ chăm lo phát triển kinh tế gia đình, anh Thuận còn cung ứng gà con giống, sẵn lòng hướng dẫn về kỹ thuật chăn nuôi và thu mua lại gà thịt của bà con xung quanh để cung ứng thị trường các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và TP. Hồ Chí Minh.

Bài, ảnh: Gia Huy

‘Phủ sóng’ chuỗi liên kết trong chăn nuôi

Nguồn tin: Báo Gia Lai

Trong nông nghiệp, chăn nuôi là lĩnh vực chịu rủi ro cao nhất. Với những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, nếu mất nguồn thu tuy nhỏ bé từ chăn nuôi, họ sẽ mất đi một nguồn thu nhập thường xuyên và thiết yếu. Vì thế, mặc cho những rủi ro dịch bệnh, mặc cho giá cả thị trường trồi sụt không thể đoán định được, những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn không thể bỏ được công việc này.

Nhìn vào thực tế có thể thấy, tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi như một “công việc làm thêm” đã ăn rất sâu trong người dân. Những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ này rất khó khăn, không có điều kiện để phát triển thành những cơ sở lớn, chăn nuôi theo trang trại hay chăn nuôi kỹ thuật cao. Vì thế, muốn phát triển chăn nuôi theo hướng liên kết chuỗi, ứng dụng kỹ thuật cao thì phải có những hình thức thu hút các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ tham gia tổ hợp tác và phải có những doanh nghiệp đứng ra làm trung tâm liên kết để hình thành các chuỗi từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Mặt khác, nhu cầu thị trường nội địa và cả thị trường xuất khẩu đòi hỏi ngành chăn nuôi phải hiện đại hóa quy trình sản xuất, phải ứng dụng tiêu chuẩn GlobalGAP, phải trang bị những ứng dụng kỹ thuật cao phải hình thành những trang trại lớn, những khu chăn nuôi công nghệ cao…

Ứng dụng khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi chỉ phát huy được hiệu quả một khi có sự liên kết giữa các mô hình chăn nuôi khác nhau (ảnh internet)

Bên cạnh đó, sản phẩm chăn nuôi an toàn có nguồn gốc lại đang phải cạnh tranh hết sức khó khăn với các sản phẩm không bảo đảm chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất hiện tràn lan trên thị trường. Vì thế, cần xây dựng những quy chuẩn chăn nuôi đồng bộ dựa trên chất lượng sản phẩm và nguồn gốc xuất xứ, điều không dễ dàng khi tồn tại nhiều hình thức chăn nuôi rất khác nhau.

Để hoàn thiện chuỗi liên kết trong chăn nuôi thì cần xây dựng thương hiệu cho các chuỗi liên kết có chất lượng cao, đủ điều kiện xuất khẩu sang các thị trường khó tính. Đồng thời, từng bước cơ cấu lại hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ theo hướng có kiểm soát và giảm dần tỷ trọng, chuyển dần sang chăn nuôi trang trại.

Những mục tiêu kể trên phải cùng thực hiện vì chỉ cần không kiểm soát được sản phẩm chăn nuôi thì dịch bệnh có thể bùng phát và lây lan bất cứ lúc nào. Những khu chăn nuôi công nghệ cao có điều kiện để cách ly vật nuôi cũng như kiểm soát khâu chế biến sản phẩm của mình, nhưng những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, những liên kết chăn nuôi lỏng lẻo thì rất khó để kiểm soát dịch bệnh. Đó là một nhiệm vụ rất khó khăn mà ngành chăn nuôi phải tìm hướng giải quyết. Không thể cực đoan chỉ theo một mô hình, nhưng làm sao hài hòa trong khả năng kiểm soát các mô hình chăn nuôi khác nhau là chuyện không dễ dàng.

Xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn trong điều kiện có nhiều mô hình đang tồn tại đòi hỏi những sáng tạo và tận tâm của các tổ chức, của cả ngành chăn nuôi. Muốn liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, muốn thực hiện việc truy xuất nguồn gốc, muốn đưa tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi thì phải tạo được sự liên kết đồng bộ về quy trình kỹ thuật chăn nuôi, quy trình về phòng-chống dịch bệnh rồi mới đến sự liên kết để tìm đầu ra cho sản phẩm.

Những ứng dụng khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi chỉ phát huy được hiệu quả một khi có sự liên kết giữa các mô hình chăn nuôi khác nhau, từ nhỏ lẻ tới trang trại, từ khu công nghiệp tới khu chăn nuôi kỹ thuật cao hoàn toàn khép kín.

Chăn nuôi có thể là một phần hay thậm chí một nửa của cả ngành nông nghiệp. Đó là một ngành đặc biệt, có đầy đủ khả năng để phát triển thành một ngành kỹ thuật chăn nuôi, chế biến và phân phối sản phẩm không chỉ cho thị trường nội địa mà còn cho thị trường khu vực và thế giới.

Việc người dân 8 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Gia Lai đang ký kết hợp tác chăn nuôi với Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam là một tín hiệu đáng mừng trong hành trình quy hoạch ngành chăn nuôi của địa phương theo hình thức chuỗi liên kết và tạo thương hiệu cho sản phẩm.

Với mô hình này, công ty “mẹ” làm trung tâm liên kết phải bảo đảm là một chỗ dựa tin cậy, bảo đảm sự hợp tác lâu dài và chia sẻ lợi ích với nông dân. Chỉ như thế, mô hình này mới phát triển bền vững được.

NHẬT CHUNG

Liên kết chăn nuôi heo: Tăng lợi nhuận, giảm dịch bệnh

Nguồn tin: Báo Cần Thơ

Đồng bằng sông Cửu Long hiện có đàn heo trên 3,5 triệu con, chiếm khoảng 13% tổng đàn heo của cả nước. Từ những mô hình nhỏ lẻ, nuôi theo hình thức “bỏ ống”, hiện nay, không ít nông hộ đã mở rộng chăn nuôi theo hướng thâm canh. Nhiều hộ đã thực hiện ký kết hợp đồng với doanh nghiệp, các công ty thương nghiệp địa phương để cung cấp nguyên liệu thức ăn và tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra, chăn nuôi theo chuỗi liên kết cũng là giải pháp tốt nhất giảm thiểu vấn đề dịch bệnh trên đàn heo.

Tái cơ cấu

Căn nhà khang trang của ông Dương Hữu Dũng, ở xã Định Môn, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ có chi phí xây dựng gần 2 tỉ đồng. Đây là số tiền thu nhập từ đàn heo nuôi theo hình thức liên kết với các doanh nghiệp của gia đình ông. Nhờ đổi mới cách nuôi theo hình thức trang trại heo sạch với số vốn đầu tư hàng trăm triệu đồng, trang trại heo Dũng Nhung của gia đình ông đã trở thành địa chỉ uy tín, chuyên cung cấp các loại heo giống, heo thịt. “Đầu tư cơ sở vật chất chuồng trại đáp ứng theo tiêu chuẩn sạch dù chi phí khá cao, nhưng bù lại chất lượng đàn heo được đảm bảo, an toàn và đặc biệt giúp phòng ngừa bệnh cho đàn heo rất hiệu quả. Vấn đề đầu ra là khâu quan trọng nhất cũng được đảm bảo bởi có sự liên kết với các doanh nghiệp…” – ông Dũng nói.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, thời gian qua, nhờ thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, nghề chăn nuôi heo đã có sự chuyển biến rõ nét về quy mô sản xuất, cũng như chất lượng đàn heo. Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều chuyên gia, nghề nuôi heo ở vùng châu thổ này cũng đã và đang lộ rõ nhiều điểm yếu như: quy mô nhỏ lẻ, năng suất thấp, giá thành sản phẩm cao, chưa giải quyết triệt để dịch bệnh và khả năng cạnh tranh kém... Vì vậy, liên kết chăn nuôi theo chuỗi giá trị là giải pháp hữu hiệu để phát triển nghề nuôi heo một cách bền vững.

Nhiều nhà nông cho biết, khó khăn lớn nhất của nghề nuôi heo ở Đồng bằng sông Cửu Long là còn quá phụ thuộc vào thị trường từ con giống, thức ăn, thuốc thú y nên giá thành sản xuất tăng cao. Bên cạnh đó, do thiếu thông tin thị trường nên hầu hết các nông hộ nuôi heo với quy mô nhỏ thường tăng đàn khi giá heo hơi tăng và lúc thị trường biến động bất lợi họ vội vã bán tháo vì thiếu vốn và không có biện pháp phòng ngừa rủi ro. Anh Đặng Văn Sáu, xã Thạnh Quới, Long Hồ, Vĩnh Long, cho biết: Nghề chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn. Đầu ra không ổn định, giá lúc cao lúc thấp, mình đầu tư không đúng thời điểm, không ai dự báo thị trường… rủi ro sẽ rất cao.

Thời gian gần đây, bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi để gia tăng số lượng và chất lượng đàn heo, nhiều nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long đã thực hiện một số hình thức liên kết trong chăn nuôi. Tuy số lượng chưa nhiều, quy mô không lớn, nhưng có thể xem đây là “đòn bẩy”, là cơ sở quan trọng để phát triển nghề nuôi heo bền vững ở vùng châu thổ này. Qua những đợt “giải cứu”, người nuôi heo ở Đồng bằng sông Cửu Long đã rút ra bài học kinh nghiệm là nhất thiết phải tổ chức lại sản xuất theo hướng tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh và đặc biệt là phải có đầu ra ổn định. Điều này bản thân nông hộ chăn nuôi nhỏ lẻ khó có thể thực hiện mà phải liên kết giữa nông dân với nông dân, nông dân với doanh nghiệp.

Liên kết

Thời gian gần đây ở Đồng bằng sông Cửu Long, một trong những hình thức liên kết chăn nuôi khá hiệu quả là nông hộ ký hợp đồng nuôi gia công với các công ty chăn nuôi theo chuỗi giá trị khép kín từ khâu đầu vào đến việc tiêu thụ sản phẩm.

Ông Nguyễn Tấn Hiệp, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Nông nghiệp Cờ Đỏ, cho biết, ngoài sản xuất lúa, công ty còn đầu tư trang trại nuôi heo thịt với số lượng trên 1.000 con. Thời gian qua, tuy giá heo hơi có lúc xuống thấp, nhưng đàn heo vẫn được duy trì. Nhờ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt là đầu tư con giống tốt và tận dụng nguồn thực phẩm sẵn có tại địa phương như gạo, tấm cám mà giá thành sản xuất giảm đi đáng kể. Mặt khác, ngoài việc liên kết các doanh nghiệp để mua thức ăn với giá hợp lý, trang trại còn ký hợp đồng với Công ty Cổ phần Thương nghiệp tổng hợp Cần Thơ tiêu thụ toàn bộ sản phẩm.

Thực hiện tốt mối liên kết, không chỉ giúp người chăn nuôi yên tâm sản xuất, mà các doanh nghiệp cũng có thêm điều kiện phát triển kinh doanh, nhờ nguồn nguyên liệu với số lượng và chất lượng ổn định. Nhận rõ điều này, mấy năm gần đây, Công ty Cổ phần Thương nghiệp tổng hợp Cần Thơ đã mạnh dạn liên kết với hàng chục trang trại và nhiều hộ chăn nuôi heo ở địa phương, thông qua hợp đồng để đầu tư vốn, con giống tốt và tiêu thụ sản phẩm.

Thực hiện theo hợp đồng, chủ cơ sở chỉ đầu tư xây dựng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, công chăm sóc, còn doanh nghiệp sẽ cung cấp heo giống, thức ăn, thuốc thú y và hướng dẫn kỹ thuật. Khi heo đến thời điểm xuất chuồng, doanh nghiệp sẽ trả phí gia công cho cơ sở chăn nuôi theo giá thỏa thuận, bình quân từ 4.500 đồng đến 5.000 đồng/kg heo hơi.

Ông Nguyễn Văn Dũng, phường Tân Hưng, quận Thốt Nốt, nói: Trước đây, gia đình tôi nuôi heo quy mô nhỏ lẻ rủi ro cao, giờ liên kết với công ty, chúng tôi chỉ đầu tư ban đầu, các chi phí khác và khâu tiêu thụ đã có công ty lo… Chính vì yên tâm về đầu ra cho sản phẩm mà 3 năm qua ông Năm Dũng đã đầu tư hơn 10 tỉ đồng để xây dựng 5 khu chăn nuôi với tổng đàn 12.000 con heo thịt mỗi năm. Bình quân mỗi năm thu lãi hơn 3 tỉ đồng…

Từ lâu, ngoài sản xuất lúa, phần lớn hộ dân ở ấp E2, xã Thạnh lợi, huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ còn có nguồn thu nhập đáng kể từ nghề nuôi heo. Những lúc giá cả ổn định, tổng đàn heo trong ấp có trên 4.000 con. Thời gian gần đây, khi giá thức ăn tăng cao nhưng giá heo thịt lại xuống thấp khiến cho phần lớn hộ nuôi heo gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, khi Hợp tác xã chăn nuôi Thạnh Lợi được thành lập, số thành viên tham gia ngày càng nhiều.

Thực tế ở Đồng bằng sông Cửu Long, số trang trại chăn nuôi heo với quy mô từ vài ngàn đến chục ngàn con rất ít, mà phần nhiều là các nông hộ nhỏ lẻ, chăn nuôi theo phương pháp truyền thống. Vì vậy, hình thức “liên kết ngang” giữa nông dân với nông dân, thông qua các câu lạc bộ, tổ liên kết, hoặc hợp tác xã đang là mô hình được người chăn nuôi heo và chính quyền ở các địa phương quan tâm.

Ông Ngô Minh Long, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hậu Giang, cho biết: Thông qua tổ liên kết hoặc hợp tác xã, người chăn nuôi không chỉ có điều kiện trao đổi kinh nghiệm sản xuất, giúp đỡ nhau cùng phát triển, mà còn được Nhà nước hỗ trợ vốn, chuyển giao kỹ thuật để mở rộng, phát triển sản xuất. Điều quan trọng hơn nữa là với tư cách pháp nhân của mình, các hợp tác xã sẽ đứng ra ký kết hợp đồng với doanh nghiệp để hỗ trợ đầu vào và bao tiêu sản phẩm.

Hiện nay ở Đồng bằng sông Cửu Long, một số tổ liên kết, hợp tác xã và nhiều nông hộ còn thực hiện chăn nuôi heo hướng hữu cơ. Nhờ tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương như tấm, cám, rau xanh… để làm thức ăn cho đàn heo mà giá thành sản xuất giảm đáng kể và chất lượng đàn heo cũng được tăng cao. Một số hợp tác xã và nông hộ cũng đã phát triển được hệ thống cửa hàng bán thịt heo sạch, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng. Cách làm này không chỉ chủ động đầu ra cho sản phẩm, mà từng bước còn hướng đến xây dựng thương hiệu thịt heo sạch, chất lượng của địa phương.

Ngoài ra, với mô hình liên kết, không những lợi nhuận thu được khá ổn định, mà quan trọng hơn là người chăn nuôi không phải lo lắng khi thị trường biến động bất lợi và quan trọng hơn cả là dịch bệnh đã được khống chế tốt nhất. Điển hình như trong đợt dịch bệnh hiện nay, các ổ dịch tả heo châu Phi đều xuất hiện ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Còn các trang trại lớn với chế độ kiểm dịch chặt chẽ thì hầu hết đều đang an toàn trước dịch bệnh...

Kỉnh Huy

Phú Yên: Vỗ béo bò bằng thức ăn ủ chua

Nguồn tin: Báo Phú Yên

Ông Nguyễn Văn Thành (xã An Mỹ, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) vỗ béo bò bằng thức ăn ủ chua từ cây bắp và nhận thấy bò tăng trọng tốt - Ảnh: THÁI HÀ

Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ vừa phối hợp với Hội Nông dân huyện Tuy An nghiệm thu mô hình vỗ béo bò sử dụng thức ăn ủ chua bằng cây bắp tại 3 xã An Mỹ, An Dân, An Định (huyện Tuy An). Kết quả sau 3 tháng, bò tăng trọng tốt với mức tăng gần 1kg/ngày/con.

Ông Nguyễn Văn Thành ở thôn Phú Long, xã An Mỹ là hộ nuôi bò lâu năm. Trước đây, khi chưa có bò của dự án, gia đình ông Thành đã có đàn bò 4 con và nuôi khá hiệu quả. Tuy nhiên, khi tiếp cận với việc dùng thức ăn ủ chua để vỗ béo bò, ông Thành cho biết bò tăng trọng tốt và đường tiêu hóa ổn định.

“Ban đầu, khi mới sử dụng thức ăn ủ chua, bò chưa quen nên không ăn được nhiều. Sau 5-7 ngày, khi đã ăn được, bò bắt đầu nghiện, ăn rất nhiều, ngủ ngon, đường tiêu hóa ổn định và tăng trọng rất tốt. Thức ăn ủ chua do dự án cung cấp 100% nên tôi mong sau khi dự án kết thúc, sản phẩm này vẫn được bán trên thị trường để tôi mua sử dụng”, ông Thành cho biết.

Tại thôn Long Hòa, xã An Định, gia đình bà Đỗ Thị Trang cũng có đàn bò 4 con và nhận một cặp bò của dự án nuôi vỗ béo sử dụng thức ăn ủ chua. Bà Trang chia sẻ: “Ngày trước, người nuôi bò chủ yếu dùng cỏ, rơm rạ để cho bò ăn nên việc trữ cỏ cho mùa khan hiếm rất cực. Khi dự án của Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ về địa phương, nhiều người nghi ngờ về hiệu quả mà thức ăn ủ chua mang lại. Tuy nhiên, khi đã quen với thức ăn này, bò lại rất thích ăn và ăn rất nhiều (một ngày hơn 10kg), tăng trọng tốt. Người dân chúng tôi rất phấn khởi khi áp dụng kỹ thuật nuôi mới này”.

Theo ThS Trương Hùng Mỹ, Trưởng Phòng Kỹ thuật và Chuyển giao công nghệ (Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ), có nhiều nghiên cứu về sử dụng thức ăn ủ chua từ thân cây bắp để chăn nuôi trâu bò, mỗi phương pháp và phụ liệu được sử dụng là khác nhau. Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ kế thừa các kết quả nghiên cứu và áp dụng thành công quy trình ủ chua thức ăn bằng cách sử dụng men Silo Guard II với ưu điểm: dễ dàng chuyển giao vào thực tế sản xuất vì phương pháp ủ đơn giản, gọn nhẹ.

Trong thời gian 30 ngày đầu, hầu hết bò tại các mô hình đều chưa biết ăn thức ăn ủ chua nên giai đoạn này trọng lượng chỉ tăng khoảng 23kg/con và đạt trung bình 765,3g/ngày/con. Sau khi bò đã quen với thức ăn ủ chua, trọng lượng bò tăng hơn so với giai đoạn 30 ngày đầu, tăng trọng trung bình 851,5g/ngày/con. Sau 90 ngày vỗ béo bò bằng thức ăn ủ chua, trọng lượng bò tăng thêm bình quân 89,1kg/con và đạt tăng trọng bình quân 989,6g/ngày/con.

Ông Nguyễn Đức Minh, Phó Chủ tịch UBND xã An Dân, cho biết: “Mô hình dùng bắp ủ chua lần đầu tiên thực hiện tại xã An Dân đã mang lại hiệu quả tốt, nhận được nhiều phản hồi tích cực từ các hộ chăn nuôi bò. Đây là mô hình đầu tiên về vỗ béo bò bằng bắp ủ chua tại huyện Tuy An nên tôi mong muốn tiếp tục được nhân rộng, để người dân áp dụng, vừa giúp chủ động nguồn thức ăn, vừa giảm giá thành chăn nuôi bò”.

AN NAM

Hải Dương: Làm giàu từ nuôi gà ác

Nguồn tin: Khuyến Nông VN

Trại nuôi gà ác thịt của anh Hoàng Điền Dưỡng

Xuất thân từ một gia đình nông nghiệp, anh Hoàng Điền Dưỡng, ở Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, bươn chải ngoài xã hội với nhiều ngành nghề và rồi, anh đã lựa chọn cho mình một hướng phát triển kinh tế bằng việc nuôi gà ác.

Năm 2008, Điền Dưỡng đã nghiên cứu và bắt đầu thử nghiệm việc nuôi gà ác thương phẩm. Bởi anh thấy, gà ác là vật nuôi dễ tính, thời gian nuôi ngắn nên tỷ lệ rủi ro thấp, tiêu tốn thức ăn ít, chuồng trại không mất nhiều diện tích. Trên hết, gà ác không chỉ là nguồn thức ăn bổ dưỡng thông thường, nó còn được coi là một món thuốc bắc quý hiếm và ngày được nhiều người tiêu dùng sử dụng.

Thời gian đầu còn bỡ ngỡ về kỹ thuật, thị trường tiêu thụ khó nên anh Dưỡng chỉ dám đầu tư nuôi thử nghiệm 50 con. Ngay từ lứa nuôi đầu tiên, anh đã thu được kết quả khả quan nên anh mạnh dạn mở rộng quy mô nuôi, song song đó anh đầu tư thời gian học hỏi kỹ thuật, thăm quan các trang trại nuôi gà ác ở các địa phương.

Đến năm 2013, nhờ sự kết nối với nhiều trang trại nuôi gà ác ở các tỉnh khác và có được thị trường tiêu thụ cho các nhà hàng, khách sạn ở nhiều nơi, anh Dưỡng đã phát triển đàn gà lên tới trên 500 con mỗi lứa. Ngần ấy thời gian nuôi gà ác thương phẩm đã giúp anh trở thành một “thợ” nuôi gà ác cừ khôi, để rồi từ nuôi gà ác thịt, anh trở thành người nuôi gà ác giống. Hiện, anh cấp giống cho các trang trại khác từ 8.000 – 10.000 con giống mỗi tháng. Bên cạnh đó, anh vẫn phát triển trang trại gà thịt xuất bán cho các nhà hàng, khách sạn khoảng 2 - 2,5 tấn gà thịt/tháng.

Hạch toán kinh tế anh cho biết, sau khi trừ chi phí, mỗi năm mô hình gà ác giống và gà ác thịt thu lãi gần 600 triệu đồng. Để có được thành công ngày hôm nay là cả một quá trình anh phải đầu tư cả về sức lực, trí tuệ lẫn vốn liếng. Anh cười bảo: “Mài sắt mãi rồi ắt sẽ thành kim. Cây kim này đã có được thì anh phải thường xuyên mài dũa để nó ngày một sáng”.

Khi hỏi về kỹ thuật nuôi anh chia sẻ, muốn hiệu quả khi nuôi gà ác đòi hỏi phải tinh nhạy trong chọn giống cũng như phòng bệnh, trong đó khâu vệ sinh trong chăn nuôi là hàng đầu. Một ngày có thể cho gà ăn chục lần nhưng yêu cầu thức ăn phải tươi mới, nước uống phải sạch sẽ, có bổ sung thường xuyên điện giải và chất khoáng, vitamin. Trong quá trình nuôi cần phải tiêm đầy đủ một số vắc-xin ngừa bệnh nguy hiểm như dịch tả, cầu trùng, đặc biệt là cúm AH5N1. Để gà tăng trưởng tốt, chuồng nuôi đòi hỏi phải ấm về mùa đông, mát về mùa hè. Nền chuồng tốt nhất sử dụng đệm lót sinh học để khỏi bốc mùi hôi thối.

Anh cho biết thêm, gà ác thường xuất bán khi trọng lượng trung bình đạt từ 0,3-0,7kg/con do vậy, thời gian nuôi sẽ ngắn mà người tiêu dùng muốn gà ăn chắc thịt, thơm ngon thì bắt buộc người nuôi phải chuyển hướng sang nuôi sinh học. Đây là phương pháp anh đã áp dụng trong 3 năm trở lại đây. Nuôi gà ác sinh học ngoài điều kiện chuồng trại đảm bảo như trên thì thức ăn cho gà cũng phải thay đổi từ cám công nghiệp sang các loại thức ăn dễ tiêu nhưng bổ dưỡng như mầm thóc, bột cá, bã đậu… So với trước đây nuôi công nghiệp, anh thấy gà ác nuôi theo hướng sinh học có nhiều lợi thế hơn: Gà ít khi bị bệnh, tăng trọng tuy không nhanh nhưng rất chắc con, thịt thơm ngon, không bị nhũn, được người tiêu dùng ưa chuộng. Nuôi gà ác sinh sản theo hướng sinh học thì gà bố mẹ rất khỏe mạnh, gà mái đẻ sai, đều. Anh Dưỡng nhấn mạnh: “Muốn khẳng định được thương hiệu thì không có cách nào khác là cần phải hướng sang nuôi sinh học” vì theo anh, người tiêu dùng chỉ sử dụng gà ác có trọng lượng nhỏ đến vừa phải (300- 700g/con), do đó nuôi theo hướng sinh học sẽ đảm bảo được gà tăng trọng dần dần, thịt lại thơm ngon hơn sẽ có được “giá trị” cho mặt hàng đặc sản này.

Hiện, anh Dưỡng đang là cầu nối đắc lực cho các trang trại liên kết trong và ngoài tỉnh. Anh không chỉ cung ứng con giống, chuyển giao kỹ thuật nuôi cho các hộ nuôi gà ác khác mà còn là đầu mối thu mua gà ác bán cho các nơi, trải dài từ Bắc vào Nam.

Trưởng thành và giàu lên nhờ gắn bó bao năm với loài gà đặc sản. Chắc chắn trong thời gian không xa nữa người nuôi gà và người tiêu dùng sẽ biết đến Hoàng Điền Dưỡng với một cái tên nổi danh “ Vua gà ác”.

Trần Thị Liên - Trung tâm DVNN huyện Nam Sách, Hải Dương

Khống chế dịch tả heo châu Phi tại Đồng Nai

Nguồn tin: Tuổi Trẻ

Ông Võ Văn Chánh - phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai - cho biết đã dập gọn 4 ổ dịch tả heo châu Phi trên địa bàn và gần nửa tháng nay chưa phát hiện ổ dịch mới.

Lực lượng chức năng tại chốt kiểm dịch động vật tạm thời trên quốc lộ 1 (huyện Xuân Lộc, Đồng Nai) phun thuốc tiêu độc khử trùng xe vận chuyển heo - Ảnh: A LỘC

Ngày 8-5, ông Võ Văn Chánh - phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai - xác nhận: trên địa bàn có 4 điểm dịch của các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trên địa bàn 2 huyện Nhơn Trạch và Trảng Bom.

Ngay khi phát hiện dịch, các ngành chức năng đã tập trung dập dịch ngay tại chỗ. Từ ngày 24-4 đến nay không phát sinh thêm ổ dịch tả heo châu Phi mới. Hiện các địa phương đang làm thủ tục theo quy định để hỗ trợ người chăn nuôi có heo bị tiêu hủy. "Hiện các cấp đang tập trung cao độ cho công tác phòng dịch, hạn chế tối đa phát sinh mới", ông Chánh cho biết. Trước đó, đầu tháng 5, UBND huyện Nhơn Trạch và Trảng Bom lần lượt ban hành quyết định công bố dịch tả heo châu Phi trên địa bàn 4 xã bao gồm Binh Minh, xã Đồi 61 (huyện Trảng Bom), Phước Thiền và Phú Hội (Nhơn Trạch).

Hố tiêu hủy heo bị dịch tả heo châu Phi của một hộ dân ở xã Đồi 61, huyện Trảng Bom, Đồng Nai - Ảnh: A LỘC

Cũng theo quyết định trên, các ngành chức năng thực hiện bao vây ổ dịch, tiêu hủy toàn bộ heo bệnh, lập các trạm, chốt kiểm dịch, hướng dẫn việc đi lại, cấm người không có nhiệm vụ vào vùng dịch, thực hiện cấm giết mổ tại xã có dịch…

Ông Huỳnh Thành Vinh - giám đốc Sở NN-PTNT Đồng Nai, cho biết cả tỉnh đã thành lập 23 trạm kiểm dịch nhằm ngăn chặn, kiểm soát dịch bệnh. Hiện các ổ dịch đã được dập tắt và chưa phát sinh thêm điểm mới. "Ở dưới đang làm thủ tục hồ sơ, chắc chắn trong 15 ngày sẽ tiến hành hỗ trợ cho người dân" - ông Vinh khẳng định.

A LỘC

Gà thịt tăng giá, nông dân Bà Rịa – Vũng Tàu phấn khởi tăng đàn

Nguồn tin: VOV

Từ đầu năm đến nay, giá gà thịt trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu luôn ở mức cao, người nuôi thu lãi lớn.

Hiện nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ cũng như các trang trại đang chuẩn bị nhập giống tăng đàn. Ngành nông nghiệp tỉnh cũng khuyến cáo người chăn nuôi cần quan tâm đến phòng chống dịch bệnh, bởi đang là thời điểm giao mùa rất dễ phát sinh dịch bệnh trên đàn gia cầm.

Ông Huỳnh Dự trú ở ấp Suối Lúp, xã Bình Ba, huyện Châu Đức cho biết, ra Tết Nguyên đán đến nay giá gà thịt liên tục tăng. Với giá 60.000 - 65.000 đồng/kg, sau 3 tháng nuôi, 300 con gà thịt chuẩn bị xuất bán, gia đình ông sẽ lãi gần 6 triệu đồng. Bởi vậy, trong năm 2019, ông Dự sẽ phá bớt vườn tiêu để đầu tư chuồng trại nuôi thêm 1.000 con.

Giá gà thịt tăng cao khiến người nông dân phấn khởi.

“Hiện giá gà đang tăng lên, nếu giá gà khoảng 45.000/kg thì có lãi ít còn bán giá khoảng 60.000 – 65.000 đồng/kg thì hiệu quả cao, nông dân phấn khởi. Ban đầu tôi nuôi chỉ 100 con gà, nhưng dự kiến năm 2019, tôi sẽ phá vườn tiêu để tăng chuồng trại thêm từ 500 – 1.000 con gà” - ông Huỳnh Dự cho biết.

Ông Nguyễn Văn Long, ấp Đức Trung, xã Bình Ba, huyện Châu Đức cho hay, năm 2015 gia đình trồng vườn cây ăn trái nhưng hiệu quả không cao, thấy mọi người đầu tư nuôi gà thịt nên ông Long mạnh dạn đầu tư chuồng trại nuôi 1.000 con gà thịt. Do chăn nuôi liên tục có lãi đến nay tổng đàn gà của gia đình ông đã tăng lên 10.000 con. Thu nhập bình quân trong 3 tháng nuôi từ 14 – 15 triệu đồng/1.000 con.

“Tổng đàn của gia đình tôi đến nay là 10.000 con, nuôi xoay tròn chứ không phải 1 lần như thế. Giá bây giờ nếu xuất lớn thì từ 55.000 – 65.000 đồng/kg, do đầu vào rẻ mà đầu ra cao thì mình được giá, nếu 1.000 con bình quân lời 15 triệu là đạt. Giá đợt này rất tốt, có lúc cao tới 70.000 đồng/kg cũng có” - ông Long chia sẻ.

Thời điểm hiện nay tổng đàn gà trên địa bàn huyện Châu Đức là 870.000 con, tăng khoảng 60.000 con so với năm 2018.

Theo ông Nguyễn Trần Công Hoàng, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Bình Ba, huyện Châu Đức, trước đây gà thịt rớt giá nhiều hộ giảm đàn, treo chuồng. Tuy nhiên, trong 2 tháng qua giá gà thịt tăng trở lại nhiều hộ tiếp tục quay trở lại đầu tư và tăng đàn. Hội nông dân cũng vận động người dân không tăng quá mức sẽ dẫn đến cung vượt cầu.

Ông Hoàng cho biết: “Thời điểm cách đây 2 tháng thì giá gà rớt thê thảm, cộng với bệnh dịch có một số chuồng trại kiên cố họ vẫn duy trì. Hiện nay gà thịt có giá trở lại người dân lại tiếp tục tăng đàn. Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhắc nhở người dân tăng cầm chừng, đừng làm quá, nếu tăng quá thì nguồn cung sẽ vượt cầu lại ảnh hưởng đến giá cả”.

Do thị trường tiêu thụ ổn định, dịch bệnh được kiểm soát hiệu quả, đàn gia cầm tiếp tục tăng, mở rộng quy mô theo hình thức trang trại. Thời điểm hiện nay tổng đàn gà trên địa bàn huyện Châu Đức là 870.000 con, tăng khoảng 60.000 con so với năm 2018.

Ông Lê Thanh Liêm, Phó Chủ tịch UBND huyện Châu Đức cho biết, hiện trên địa bàn có khoảng 13.000 hộ chăn nuôi gia cầm, công tác phòng chống dịch bệnh được địa phương tổ chức thường xuyên, cùng với đó ý thức chăn nuôi của người dân cũng nâng lên, họ tự kiểm soát dịch bệnh, kiểm soát nguồn cung cầu của thị trường.

Nhiều hộ chăn nuôi đầu tư thêm chuồng trại chuẩn bị tăng đàn, tuy nhiên, ngành nông nghiệp khuyến cáo bà con tăng cường công tác phòng chống dịch khi tăng đàn.

“Qua quá trình chăn nuôi bà con cũng nắm được quy luật, nhu cầu của thị trường, thời điểm nào mà nhu cầu cao nhất thì người ta chủ động trong chăn nuôi. Công tác phòng chống dịch bệnh định kỳ hàng năm, phun thuốc, sát trùng hai đợt chính trong năm, tiêm phòng cúm H5N1 đối với hộ chăn nuôi nhỏ lẻ dưới 2 ngàn con, thứ hai là thời điểm giao mùa từ mùa khô sang mùa mưa” - ông Liêm chia sẻ.

Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu khuyến cáo, bà con nên thận trọng trong việc tăng đàn gia cầm để tránh cung vượt cầu. Đây cũng là thời điểm giao mùa, vật nuôi dễ mắc dịch bệnh, tình trạng mất cân đối cung - cầu do chăn nuôi nông hộ còn nhiều, giá thành sản phẩm còn cao, dịch bệnh luôn đe dọa. Vì vậy, các hộ chăn nuôi cần chăm lo tốt vệ sinh chuồng trại, chú trọng tiêm phòng đầy đủ để hạn chế thiệt hại trong chăn nuôi./.

Lưu Sơn/VOV-TP HCM

Sóc Trăng: Những mô hình giảm nghèo bền vững tại xã Long Phú, huyện Long Phú

Nguồn tin: Cổng TTĐT tỉnh Sóc Trăng

Những năm qua, Đảng ủy, chính quyền xã Long Phú (Long Phú, tỉnh Sóc Trăng) đã tích cực tuyên truyền, vận động Nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện của địa phương. Từ đó, nhân rộng mô hình hiệu quả đến các hộ nghèo để phát triển sản xuất, giúp nâng cao đời sống kinh tế hộ gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững.

Hộ ông Trần Hoàng ngụ tại ấp Nước Mặn 2, xã Long Phú là một trong những hộ vươn lên khá giả nhờ chăn nuôi bò. Ông Hoàng cho biết: “Năm 2013, được Nhà nước hỗ trợ cho vay vốn, tôi mua cặp bò để nuôi. Sau thời gian nuôi và chăm sóc, đàn bò gia đình tăng thêm được vài con và tích lũy được số vốn nhờ bán con bê. Hiện tại, gia đình còn nuôi được 6 con bò”.

Nhờ chọn mô hình sản xuất phù hợp, có quyết tâm làm ăn với hy vọng không còn cái nghèo đeo bám nữa, gia đình ông Hoàng đã ra sức chăm sóc đàn bò cẩn thận và ước mơ thoát nghèo của gia đình ông đã thành hiện thực. Ông Hoàng chia sẻ: “Hồi trước nhà tôi khó khăn lắm, khi được vay vốn nên nhà tôi quyết định chọn con bò để phát triển sản xuất gia đình. Bây giờ, cuộc sống kinh tế gia đình được ổn định hơn trước rất nhiều”.

Gia đình ông Trần Hoàng có thu nhập ổn định nhờ chăn nuôi bò

Còn hộ ông Thạch Tết cũng ngụ tại ấp Nước Mặn 2 tăng thêm thu nhập và có cuộc sống ổn định từ mô hình chăn nuôi dê nhốt chuồng. Hiện nay, mô hình này đang rất được nhiều nông dân lựa chọn để phát triển kinh tế gia đình, với ưu thế dễ nuôi, dễ chăm sóc, vốn đầu tư ít và mang lại nguồn thu nhập khá cao. Cùng trò chuyện với chúng tôi, ông Tết chia sẻ: “Nuôi dê nhốt chuồng không đòi hỏi chi phí cao, người nuôi chỉ cần bỏ vốn mua giống tốt từ lúc ban đầu với giá từ 3-4 triệu đồng/con. Bên cạnh đó, dê là một loài có khả năng sinh trưởng khá nhanh. Mỗi năm, dê cái đẻ 2 lứa, mỗi lứa từ 1-3 con”.

“Thức ăn của dê cũng rất dễ tìm, chủ yếu là cỏ và các loại lá cây nên người nuôi không phải tốn chi phí. Nuôi dê theo phương thức nhốt chuồng còn có nhiều lợi ích như: Không mất công chăn thả, không bị lây nhiễm nguồn bệnh từ bên ngoài, rủi ro thấp, có nguồn phân ủ hoai mục để chăm bón thêm cho cây trồng. Sau khoảng thời gian 8 tháng nuôi, dê đã đạt trọng lượng từ 40kg, hiện nay đầu ra thịt dê cũng rất ổn định, dê cái bán được giá 50.000 đồng/kg, dê con thì có giá cao hơn từ 70.000 đồng/kg” - ông Tết cho biết thêm.

Ngoài ra, những năm gần đây, do điều kiện hạn, mặn gây ảnh hưởng đến việc sản xuất lúa của người dân ở xã Long Phú. Theo đó, một số người dân đã chuyển đổi đất sản xuất kém hiệu quả sang trồng cây bồn bồn và mang lại hiệu quả kinh kế khá ổn định. Như hộ bà Nguyễn Thị Sel ở ấp Phú Đức, xã Long Phú đã chuyển đổi một phần diện tích đất lúa kém hiệu quả sang trồng cây bồn bồn, hiện nay mỗi đợt thu hoạch được khoảng trên 100kg cộng non bồn bồn. Bà Sel cho biết: “Bồn bồn rất dễ trồng, trồng khoảng 3 – 4 tháng là có thể thu hoạch, cây chịu được nước mặn nên không lo bị thiệt hại như trồng lúa, trồng bồn bồn thu hoạch quanh năm và mỗi tháng có thể thu hoạch 1 lần. Tôi chỉ trồng một phần diện tích nhỏ, nhưng tính ra mỗi tháng cũng thu được khoảng 1 triệu đồng từ bán cộng non bồn bồn”.

Với chủ trương giúp người dân địa phương xóa đói giảm nghèo cùng với sự hỗ trợ giảm nghèo từ các chương trình, dự án, xã Long phú đã có nhiều mô hình sản xuất hiệu quả, trong đó, mô hình chăn nuôi bò và dê được đánh giá cao. Theo đánh giá của Phó Chủ tịch Thường trực UBND xã Long Phú Quách Kim Toàn: “Mô hình chăn nuôi bò và dê mang lại hiệu quả kinh tế cao và đang được địa phương nhân rộng. Đặc biệt, mô hình chăn nuôi bò có hiệu quả nhất, giúp thoát nghèo bền vững. Do địa phương sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, người dân có thể tận dụng nguồn phế phẩm để làm thức ăn cho bò và đồng thời chăn nuôi bò cũng không cần diện tích đất rộng để làm chuồng mà vẫn đảm bảo tốt về môi trường”.

Cũng theo ông Quách Kim Toàn: “Ngoài mô hình chăn nuôi gia súc, mô hình trồng cây bồn bồn cũng góp phần tăng thu nhập cho người dân địa phương, đây là cây trồng có lợi nhuận khá cao. Hiện nay, ở địa phương có khoảng hơn 40 ha diện tích trồng bồn bồn”.

Tuyết Xuân

Chú trọng chăn nuôi an toàn dịch bệnh

Nguồn tin: Hà Nội Mới

Ngành chăn nuôi Hà Nội đang gặp khó khăn trong kiểm soát dịch bệnh. Nhằm bảo đảm an toàn cho đàn vật nuôi, thành phố đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các hộ chăn nuôi, gia trại, trang trại thực hiện xây dựng cơ sở chăn nuôi theo hướng thiết lập vùng an toàn dịch bệnh.

Trang trại chăn nuôi lợn của gia đình ông Nguyễn Văn Hưng (xã Vân Tảo, huyện Thường Tín) đang nuôi 40 con lợn nái, 250 con lợn thịt, được công nhận là cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh. Khu chuồng trại nằm tách biệt khu dân cư, thường xuyên được vệ sinh, khử trùng tiêu độc. Mỗi con lợn có nhật ký theo dõi riêng, được tiêm vắc xin phòng bệnh định kỳ, bảo đảm chế độ thức ăn, nước uống sạch. Nhờ thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn dịch bệnh nên đàn lợn luôn khỏe mạnh, sản phẩm xuất chuồng được cơ quan chuyên môn xác nhận an toàn dịch bệnh...

Tương tự, trang trại tổng hợp của anh Đoàn Văn Mười (xã Đông Lỗ, huyện Ứng Hòa) nuôi 15.000 con gà đẻ trứng kết hợp nuôi trồng thủy sản. Anh Đoàn Văn Mười cho biết, từ khi trang trại được cấp giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh, việc tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi thuận lợi hơn do tạo được niềm tin với người tiêu dùng...

Theo thống kê của Sở NN&PTNT Hà Nội, đến nay, toàn thành phố đã có 55 cơ sở chăn nuôi được công nhận an toàn dịch bệnh. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, thực hiện xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh trên địa bàn thành phố vẫn còn nhiều hạn chế, như: Kinh phí xây dựng còn cao; chi phí xét nghiệm dịch bệnh tăng cao..., trong khi giá bán sản phẩm chăn nuôi bấp bênh. Ông Nguyễn Chí Viễn, Phó Chủ tịch UBND huyện Ứng Hòa cho rằng: "Việc tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi chưa có sự khác biệt rõ rệt giữa cơ sở được công nhận an toàn dịch bệnh và cơ sở không được công nhận...".

Theo Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Nội Nguyễn Ngọc Sơn, những hạn chế trên là do một số cơ sở chăn nuôi còn chưa tự nguyện tham gia xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh, chưa thật sự hiểu rõ về quyền lợi, nghĩa vụ và các yêu cầu, tiêu chí đối với cơ sở an toàn dịch bệnh… Ông Nguyễn Ngọc Sơn cho hay, lợi ích từ xây dựng các cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh trên địa bàn thành phố đã rõ, nhất là trong điều kiện bệnh Dịch tả lợn châu Phi và một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác có chiều hướng gia tăng, tốc độ lây lan lớn. "Để xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh thành công thì vai trò, trách nhiệm của các hợp tác xã, doanh nghiệp, cơ sở chăn nuôi, hộ chăn nuôi trên địa bàn thành phố là hết sức quan trọng. Họ là người trực tiếp tổ chức thực hiện các giải pháp, biện pháp xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh" - ông Nguyễn Ngọc Sơn nhấn mạnh.

Để khuyến khích cho các cơ sở chăn nuôi chủ động xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh, ông Nguyễn Văn Hưng, chủ trang trại chăn nuôi lợn an toàn tại xã Vân Tảo (huyện Thường Tín) kiến nghị, cần có chính sách hỗ trợ các cơ sở đã được công nhận an toàn dịch bệnh, được ưu tiên lựa chọn cung cấp con giống...

"Thời gian tới, ngoài hỗ trợ về hành lang pháp lý, thủ tục, quy trình, tập huấn kỹ thuật… để các trang trại, cơ sở chăn nuôi đạt yêu cầu cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, ngành Nông nghiệp Hà Nội tiếp tục tham mưu thành phố chỉ đạo đẩy mạnh kiểm tra các địa phương thực hiện chăn nuôi theo quy hoạch; tiến tới hạn chế phát triển chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi xây dựng cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh theo quy định, tiến tới xây dựng vùng chăn nuôi an toàn" - ông Nguyễn Huy Đăng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội khẳng định.

SƠN TÙNG

Quảng Ngãi: Sử dụng địa danh ‘Trà Bồng’ để đăng ký nhãn hiệu ‘Heo bản địa Trà Bồng’ và ‘Gà kiến Trà Bồng’

Nguồn tin: Báo Quảng Ngãi

Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa có ý kiến thống nhất việc UBND huyện Trà Bồng sử dụng tên địa danh “Trà Bồng” để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận “Heo bản địa Trà Bồng” và “Gà kiến Trà Bồng”.

UBND huyện Trà Bồng chủ động phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ và các cơ quan chức năng có liên quan khẩn trương triển khai thực hiện các bước tiếp theo để bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận “Heo bản địa Trà Bồng” và “Gà kiến Trà Bồng” cho sản phẩm của địa phương. Sở Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm hỗ trợ, hướng dẫn UBND huyện Trà Bồng lập đầy đủ thủ tục để đăng ký nhãn hiệu chứng nhận theo đúng quy định.

T.H

Người nông dân xứ dừa thoát nghèo, làm giàu từ nuôi bò

Nguồn tin: VOV

Khởi đầu từ việc nuôi bò, đến nay, ông ông Huỳnh Văn Đẹt ở xã An Định (huyện Mỏ Cày Nam, Bến Tre) đã có nguồn thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm.

Cần kiệm vượt qua khó khăn, chăm lo lao động để có cuộc sống khá giả và chăm lo giúp đỡ người nghèo, đó là bản chất tiêu biểu của ông Huỳnh Văn Đẹt (tức ông Mười Đẹt), 57 tuổi, ở ấp Phú Lợi Thượng, xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Nhờ vậy nên ông Mười Đẹt được công nhận gương điển hình của địa phương trong việc thực hiện Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Ông Phan Văn Ân cũng như một số nông dân khác ở xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre rất phấn khởi vì đã thoát nghèo, ổn định cuộc sống nhờ việc cho mượn bò con nuôi của ông Huỳnh Văn Đẹt.

Hơn 15 năm qua, khi cuộc sống gia đình khá giả, ông Mười Đẹt đã “đỡ đầu” cho các hộ dân nghèo khó mượn bò con để nuôi. Sau 2 năm bò xuất chuồng, mới hoàn trả lại tiền gốc mà không tính lãi. Ngoài ra, ông còn tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân “mượn bò” chăn nuôi đạt hiệu quả. Ông Phan Văn Ân cho biết, việc cho mượn “cần câu” của ông Mười Đẹt rất có ý nghĩa thiết thực: "Từ khi mượn bò đến nay tôi nuôi đều phát triển tốt. Được ông Mười hướng dẫn kỹ thuật, từ đó thấy việc nuôi bò rất ổn định, ít bệnh tật nên phát triển đến nay rất tốt. Hội viên được mượn bò đến khi xuất chuồng, mọi người tích lũy có được đồng vốn. Vốn tích lũy lại có thể đầu tư làm ăn nhiều việc khác nên khả năng thoát nghèo rất cao".

Trước đây, gia đình ông Huỳnh Văn Đẹt có cuộc sống rất khó khăn, ruộng đất sản xuất rất ít. Mỗi ngày, vợ chồng ông phải lam lũ đi làm thuê với đủ thứ ngành nghề để mưu sinh. Năm 1980, được sự đồng ý của vợ, ông đã bán đôi bông tai ngày cưới 9 phân vàng 24K để mua một con bò con nuôi.

Từ một con bò cái khởi nghiệp, sau nhiều năm ông đã gầy dựng được đàn bò thương phẩm gần 20 con. Tích lũy nguồn vốn khá, ông Mười Đẹt đi các nơi chọn mua bò về vỗ béo để bán kiếm lời. Nhờ có kinh nghiệm, kỹ thuật trong chăn nuôi nên đàn bò của gia đình người nông dân này luôn phát triển và sinh sản tốt. Từ chỉ có một công đất ở, đến nay, ông Huỳnh Văn Đẹt đã sang nhượng được 1,4 ha đất để trồng cỏ nuôi bò với nguồn thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm. Cuộc sống khá giả, ông nghĩ đến những nông dân nghèo khó “một nắng hai sương” và giúp đỡ họ bằng việc cho mượn bò con nuôi. Đến nay, ông đã giúp cho hàng trăm hộ dân trong và ngoài huyện Mỏ Cày Nam có được trên 1.000 con bò để nuôi. Mỗi hộ dân khi nhận bò về nuôi sau 2 năm mới hoàn trả tiền gốc mà không phải trả tiền lãi. Đến nay, hầu hết các hộ dân mượn bò đều chăn nuôi đạt kết quả. Dù trị giá bò con trên dưới 10 triệu đồng/ một con, sau 2 năm nuôi, nông dân bán mỗi con bò trưởng thành được 40-50 triệu đồng.

Ông Huỳnh Văn Đẹt cho biết, ông rất thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc quan tâm phục vụ nhân dân, nhất là những người nghèo khó. Trong cuộc sống, người nông dân phải “cần- kiệm”, siêng năng trong lao động để “tích tiểu thành đại”, đem lại niềm vui cho người khác là hạnh phúc của mình. Việc cho nông dân khác mượn bò con về nuôi không tính lãi của ông Mười Đẹt xuất phát từ tình cảm và lòng nhân ái; giúp nhiều người dân tránh được nạn “tín dụng đen" đang nhức nhối ở nông thôn.

Nhiều nông dân tham quan mô hình nuôi bò của ông Huỳnh Văn Đẹt.

"Xuất phát từ chỗ từ trước vợ chồng quá nghèo, lúc khó khăn cũng vay của người ta lãi suất cao, phái đóng lãi tôi đã quyết tâm thoát nghèo. Bây giờ vợ chồng tôi phấn đấu làm ăn, kinh tế ổn định... nên có điều kiện để giúp cho bà con để giảm gánh nặng cơm áo, gạo tiền" - ông Đẹt chia sẻ.

Cùng với danh hiệu nông dân sản xuất giỏi cấp tỉnh 5 năm liền ông Huỳnh Văn Đẹt còn là tấm gương tiêu biểu qua 2 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “ đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Tại nơi cư trú, ông Mười Đẹt còn đi đầu trong các cuộc vận động, đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, đường, cầu giao thông nông thôn… Đối với các nông dân trong ấp nuôi bò mà không có nguồn cây cỏ, người nông dân này còn cho mượn đất để trồng cỏ mà không tính tiền thuê đất.

Ông Trần Thế Hiển, Phó Chủ tịch UBND xã An Định cho biết: "Ông Huỳnh Văn Đẹt là tấm gương sáng về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chi Minh. Ở địa phương ông giúp nhiều người nông dân trên địa bàn xã gặp khó khăn. Ông cho mượn bò để cho nông dân sản xuất, tăng thu nhập để làm giàu. Đây là một mô hình hay, UBND và Hội Nông dân xã cố gắng nhân rộng cho nông dân trên địa bàn xã để thoát nghèo bền vững. Ngoài ra, ông Đẹt về công tác xã hội đã vận động mạnh thường quân và bản thân ông đã đóng góp vật chất là tấm gương nông dân tiêu biểu".

Bên cạnh việc chăm lo sản xuất, giúp đỡ người nghèo khó, ông Huỳnh Văn Đẹt còn chăm lo xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc, khuyên dạy các con chăm lo học tập trở thành người hữu dụng cho xã hội. Trong 3 người con của ông, đến nay có 1 người đã học xong trình độ Thạc sĩ đang công tác tại tỉnh nhà; một người con nhận được học bổng đi học tiến sĩ ở nước Đức và người con nhỏ đang học lớp 11.

Ở tuổi gần 60 nhưng nông dân Huỳnh Văn Đẹt hàng ngày vẫn miệt mài trong lao động, nhất là đi sưu tầm các loại giống bò chất lượng cao để tiếp tục cho nông dân khác mượn nuôi, thoát nghèo. "Vợ chồng tôi ổn định rồi nhưng vẫn tiếp tục chăn nuôi bò, còn việc hỗ trợ cho bà con tùy theo túi tiền. Nếu lúc nào tôi có tiền thì liên hệ với Hội nông dân xã, bà con nào có nhu cầu thì giúp, giúp hết ví thì thôi. Con cái thì cho ăn học để sau này làm việc bằng trí não cũng đỡ vất vã hơn là lao động chân tay như mình" - ông Đẹt giãy bày.

Vượt khó làm giàu và tích cực giúp đỡ nông dân khác cùng thoát nghèo của ông Mười Đẹt ở xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre là nghĩa cử rất cao đẹp, đậm tính nhân văn. Ông Huỳnh Văn Đẹt đã học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm, hành động cụ thể, rất xứng đáng là nông dân tiêu biểu của quê hương Đồng khởi anh hùng./.

Nhật Trường/VOV-ĐBSCL

Dê, cừu tăng giá mạnh

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Từ đầu năm đến nay giá dê, cừu tại Ninh Thuận tăng mạnh khiến người chăn nuôi rất phấn khởi.

Dê, cừu tăng giá, người chăn nuôi Ninh Thuận có lãi lớn

Hiện giá dê thịt được thương lái thu mua từ 120.000 - 125.000 đồng/kg, cừu từ 90.000 - 95.000 đồng/kg, tăng từ 15.000 - 20.000 đồng/kg so với thời điểm trước tết, với trọng lượng khoảng 30 kg/con thì người dân xuất bán thu được 3 - 3,5 triệu đồng/con và có lãi lớn.

Do giá dê, cừu thương phẩm tăng mạnh nên giá con giống cũng đang ở mức cao, giá dê giống từ 135.000 - 140.000 đồng/kg, cừu giống từ 120.000 - 125.000 đồng/kg. Được biết thời gian nuôi dê cừu từ khi mới đẻ đến khi xuất bán mất khoảng 8 tháng.

Ông Trương Khắc Trí, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y Ninh Thuận cho biết, hiện nay toàn tỉnh có tổng đàn dê trên 135.000 con, cừu trên 142.000 con, trong những năm qua đàn dê, cừu ít bị dịch bệnh do người dân đã chủ động nguồn thức ăn trong mùa khô, bên cạnh đó người chăn nuôi đã chuyển sang hình thức nuôi nhốt vỗ béo, do vậy điều kiện chăm sóc tốt hơn và tăng trọng cũng nhanh hơn.

Theo ông Trí, do giá dê cừu tăng mạnh nên người chăn nuôi đã giữ lại nuôi cho sinh sản để tái đàn nên dê, cừu thương phẩm rất khan hiếm.

MAI PHƯƠNG - HUỲNH KIM

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop