Tin nông nghiệp ngày 02 tháng 07 năm 2020

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 02 tháng 07 năm 2020

Tiền Giang: Thêm 6 sản phẩm được chứng nhận OCOP

Nguồn tin:  Báo Ấp Bắc

6 sản phẩm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang vừa được chứng nhận OCOP, bao gồm: Đông trùng hạ thảo - Yến HT+ và Đông trùng hạ thảo Thiên Ân (Công ty TNHH Đông trùng hạ thảo Thiên Ân, huyện Gò Công Tây); gạo VD 20 Gò Công (Công ty TNHH Thương mại HK, TP. Mỹ Tho); Mắm cá cơm, mắm tôm chua và mắm ruốc (Cơ sở sản xuất Mắm Bà Hai Diễm, TX. Gò Công).

Sản phẩm đã được chứng nhận OCOP.

Trước đó, 4 sản phẩm cũng được công nhận OCOP: Trà trái mãng cầu xiêm Vĩnh Phát (Công ty TNHH Travipha, huyện Tân Phú Đông); thịt gà tươi Gà ta Gò Công (Hợp tác xã Chăn nuôi và Thủy sản Gò Công, TX. Gò Công); Mắm tôm chà Bà Hai Diễm (Cơ sở sản xuất Mắm Bà Hai Diễm, TX. Gò Công) và nước Đông trùng hạ thảo NICE (Công ty TNHH Đông trùng hạ thảo Thiên Ân, huyện Gò Công Tây).

Như vậy, tính đến nay Tiền Giang đã có 10 sản phẩm được chứng nhận OCOP. Việc chứng nhận OCOP là nội dung nằm trong Kế hoạch triển khai Chương trình mỗi xã một sản phẩm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2019 - 2020 (tên tiếng Anh: One commune one product - OCOP).

A.P

Anh Lê Huỳnh Phong - Khởi nghiệp với chế phẩm sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp

Nguồn tin:  Báo Đồng Tháp

Không giống những bạn bè cùng trang lứa lựa chọn các thành phố lớn để lập nghiệp, anh Lê Huỳnh Phong - Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất chế phẩm sinh học Kiến Nông Xanh (xã Mỹ Trà, TP.Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) lại trở về quê hương để khởi nghiệp sản xuất chế phẩm sinh học lên men vi sinh. Sự lựa chọn này xuất phát từ mong muốn giúp người nông dân tỉnh nhà giảm chi phí canh tác, nâng cao chất lượng nông sản và bảo vệ môi trường...

Anh Lê Huỳnh Phong – Giám đốc Công ty Kiến Nông Xanh

Ngay khi còn là sinh viên ngành Công nghệ sinh học, Trường Đại học Bách khoa TP.Hồ Chí Minh, anh Lê Huỳnh Phong và những người bạn có dịp tham gia sản xuất các sản phẩm vi sinh, hữu cơ cho các doanh nghiệp nước ngoài. Trong quá trình thực hiện, anh Phong nhận thấy, chất lượng các sản phẩm này rất tốt, tuy nhiên giá cả lại khá đắt, người nông dân sẽ rất khó tiếp cận để áp dụng vào quy trình canh tác. Trong khi với kiến thức chuyên môn được đào tạo, bản thân anh có thể sản xuất ra sản phẩm đạt yêu cầu với giá cả phải chăng.

Ngoài ra, điều anh Phong quan tâm hiện nay là người nông dân lạm dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng, đặc biệt là đất sẽ bị chai cứng theo thời gian. Từ những trăn trở đó, anh Lê Huỳnh Phong cùng người bạn của mình đã khởi nghiệp sản xuất các sản phẩm chế phẩm sinh học lên men vi sinh thân thiện với môi trường, hướng đến nền nông nghiệp xanh.

Tuy nhiên, trong quá trình khởi nghiệp, anh Lê Huỳnh Phong cũng gặp không ít khó khăn. Anh Phong chia sẻ: “Thời gian đầu khởi nghiệp, ngoài kiến thức chuyên ngành thì hầu như tất cả mọi việc đều mới mẻ với tôi. Đặc biệt, khi bắt đầu thị trường hóa sản phẩm, ngoài khó khăn về nguồn tài chính, tôi còn mất nhiều thời gian để điều chỉnh, hoàn thiện công thức sản phẩm”.

Đứng trước những thách thức đó, anh Lê Huỳnh Phong chọn cho mình giải pháp “lắng nghe” những phản hồi chia sẻ, đóng góp từ người sử dụng để điều chỉnh, ra mắt những dòng sản phẩm chuyên dụng, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Anh Phong chia sẻ: “Hiện nay, trên thị trường có nhiều doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm chế phẩm sinh học. Vì vậy, khi không có được sản phẩm độc quyền bắt buộc startup lắng nghe khách hàng, phát huy kiến thức tích lũy để tạo ra những sản phẩm có nhiều sự khác biệt nhằm trụ vững với thị trường”.

Sau 2 năm khởi nghiệp, đến nay, Công ty Kiến Nông Xanh đã cho ra mắt thị trường 7 dòng sản phẩm phục vụ nhu cầu sản xuất cho cây trồng và thủy sản. Đơn cử như: Dịch trùn vi sinh – DT17, Si 18; Tỏi ớt lên men... Điểm nhấn của các dòng sản phẩm thuộc Công ty Kiến Nông Xanh là được sản xuất từ 100% vi sinh, không bổ sung chất bảo quản, thuốc bảo vệ thực vật. Các dòng sản phẩm có thể giúp giải quyết các nhu cầu cho cây trồng, vật nuôi như cung cấp dinh dưỡng, đối kháng bệnh hại, xử lý đất, cải tạo đất, xử lý đáy ao bằng vi sinh. Ngoài ra, Công ty Kiến Nông Xanh đầu tư các thiết bị chuyên ngành nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm đạt cao nhất.

Với sự đầu tư nghiêm túc, đúng với nhu cầu của bà nên sản phẩm của công ty được khách hàng trong và ngoài tỉnh đón nhận và đánh giá cao. Mỗi tháng, công ty cung ứng cho thị trường trên 1.000 đơn vị sản phẩm.

Thời gian qua, khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, các thị trường tiêu thụ nông sản hầu như đóng băng, nông dân tạm ngưng sản xuất nên đầu ra sản phẩm của công ty cũng bị hạn chế, khiến doanh số sụt giảm. Tuy nhiên, trong tình hình khó khăn, lại là cơ hội giúp anh Lê Huỳnh Phong suy nghĩ về những chiến lược kinh doanh sau khi dịch bệnh được kiểm soát. Trên tinh thần cùng nhau phát triển hậu Covid-19, công ty định hướng hỗ trợ nông dân sử dụng sản phẩm và thanh toán vào cuối vụ, giúp nông dân trải nghiệm sản phẩm và giảm bớt khó khăn khi tái sản xuất.

Chia sẻ về những định hướng chiến lược trong tương lai, anh Lê Huỳnh Phong – Giám đốc Công ty Kiến Nông Xanh cho biết: “Thời gian tới, công ty tiếp tục nghiên cứu phát triển các dòng chế phẩm sinh học hiện đại thân thiện an toàn với môi trường, đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân, góp phần nâng cao chất lượng nông sản”.

Y DU

Nông dân Quảng Ngãi cải tiến thành công bộ tưới nước tự động 3 trong 1

Nguồn tin:  Sài Gòn Giải Phóng

Thay vì chỉ dùng để tưới nước, anh Phạm Đô đã cải tiến bộ tưới nước nhỏ giọt có thể đồng thời kết hợp tưới phân hòa tan, chế phẩm sinh học. Hệ thống tưới 3 trong 1 này chỉ cần đứng từ xa điều khiển.

Anh Phạm Đô (thôn Vạn Tường, xã Bình Hải, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) có khoảng 2.500m2 trồng hơn 300 cây thanh long ruột đỏ. Những năm nắng hạn, việc chạy nước tưới cho thanh long khiến anh Đô luôn trăn trở. Anh cho biết: “Với diện tích thanh long này thì mỗi lần chạy đường ống dây tưới tốn khoảng 10-15m3 nước, nhưng nắng nóng khiến nước bốc hơi nhanh, lượng nước tưới cây nhận được hằng ngày không đều, do vậy tôi nghĩ ra cách cải tiến bộ tưới nước tự động”.

Sử dụng điều khiển từ xa để tưới nước. Ảnh: NGUYỄN TRANG

Anh Đô dùng hệ thống béc phun tự động, thay đầu béc phun bằng inox. Anh đã tự thiết kế lại đầu béc phun để hệ thống tưới đa năng hơn, hệ thống phun tưới cách mặt đất 30cm, tưới ngay gốc thanh long. Anh cho biết: “Khoảng cách giữa các gốc thanh long khoảng 2,5-3m, như vậy đầu tưới phải đảm bảo độ tưới mạnh và đều tận gốc, dùng đầu inox và cải tiến tốc độ phun nước để tưới toàn bộ vườn cây”.

Sự thay đổi của đầu inox và các lỗ phun nước đã giúp việc tưới dễ dàng hơn, ngoài ra, bộ tưới này kết hợp phun tưới phân hòa tan, các loại chế phẩm vi sinh học. Tất cả đều được hòa trong nước và tưới ra từng gốc cây. Đặc biệt, hệ thống này còn được điều khiển bằng một chiếc remote nên anh có thể điều khiển lượng nước tưới và đóng mở nước tưới tự động ở khoảng cách 1.000-1.500m.

Anh cho biết: “Người làm nông thường sử dụng các bình phun thuốc, đánh men vi sinh và bơm từng hàng một, việc tiếp xúc gần với hóa chất sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Do vậy, việc sử dụng remote điều khiển từ xa cách 1.000m sẽ tránh nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe của người làm nông”.

Toàn bộ các chế phẩm sinh học, phân hòa tan được pha vào thùng, bơm trực tiếp theo đường ống tưới tự động 3 trong 1 do anh Đô cải tiến. Ảnh: NGUYỄN TRANG

Nhờ hệ thống tưới nước 3 trong 1 mới này, cây thanh long ra trái mỗi năm 3 vụ. Ảnh: NGUYỄN TRANG

Không chỉ cải tiến các thiết bị, máy móc, anh Đô còn hướng đến làm sản phẩm hữu cơ, nông nghiệp sạch như sử dụng mật ong đường và men vi sinh để tưới kết hợp cho cây trồng. Anh cho biết: “Đầu béc cải tiến 3 trong 1 có thể tưới cả mật ong đường, loại này rất tốt cho phục hồi đất, ngăn chặn sinh sản nấm gây hạ, mang lại hiệu quả rất cao. Với hơn 300 cây thanh long, mỗi lần tưới chỉ khoảng 6m3 nước, tiết kiệm gấp 2-3 lần so với tưới thông thường”.

Từ ngày cải tiến thành công, ngày công lao động giảm, anh còn hỗ trợ cải tiến cho các hộ xung quanh đang trồng thanh long.

NGUYỄN TRANG

Sầu riêng lại héo lá sau mưa

Nguồn tin: Báo Vĩnh Long

Sau thời gian nỗ lực giải độc mặn cho sầu riêng qua mùa hạn mặn, nhà vườn ở cù lao Dài ngán ngẩm khi sầu riêng lại héo lá khi có mưa.

Khi hạn, mặn thì trông mưa nhưng khi đã có mưa xuống, sầu riêng của nhiều nhà vườn ở cù lao Dài (Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long) lại vàng lá, chết cây. Sau ảnh hưởng nghiêm trọng từ đợt hạn, mặn vừa qua, thì sự suy kiệt của vườn cây vẫn còn kéo dài theo những cơn mưa…

Những cơn mưa đầu mùa như tắm mát vườn cây trái, giải cơn khát sau thời gian dài chống chọi với hạn, mặn ở dãi đất cù lao Dài. Trời hạn trông mưa là vậy, nhưng chỉ vài ngày sau trận mưa đầu mùa, vườn sầu riêng lại bắt đầu cháy lá, héo rụng cả bông, trái non, chết nhánh. Mưa xuống tưởng nhẹ lo nhưng rồi rầu lại thêm rầu!

Ông Huỳnh Văn Út- Trưởng ấp Rạch Vọp (xã Quới Thiện- Vũng Liêm) cho biết, vườn sầu riêng của ông cùng nhiều nhà vườn nơi đây đang đối mặt với một mùa mưa đầy bất an. Bởi mưa đầu mùa đổ xuống vài ba ngày thì sầu riêng lại có dấu hiệu suy kiệt nghiêm trọng: cây bị rụng bông, rụng trái, héo lá, thậm chí chết cây không khác gì so với thời điểm vườn cây bị nhiễm mặn, thiếu nước.

Một số cây sầu riêng còn nhỏ cũng bị chết. Mưa cũng làm bưởi rụng bông, chôm chôm cũng bị héo lá. Theo kinh nghiệm của các nhà vườn nơi đây, những vườn sầu riêng cắt trái thu hoạch trước Tết Nguyên đán thì không bị ảnh hưởng mưa. Riêng những cây đang ra bông, làm trái thì bị suy kiệt nặng, cây chết nhiều hơn và rất khó để phục hồi.

Bổ sung dinh dưỡng cho sầu riêng

Phun phân bón lá nhóm kích kháng (không chứa đạm) theo nồng độ khuyến cáo trên bao bì. Việc phun phân bón lá cần thực hiện theo chu kỳ 7- 10 ngày/lần cho đến khi cây hồi phục. Không được phun phân bón lá chứa đạm trong trường hợp này vì vô tình chất đạm sẽ trở thành thức ăn cho nấm bệnh phát triển và gây hại nặng hơn. Nhóm phân bón lá kích kháng ngoài việc cung cấp dinh dưỡng nhanh cho cây qua lá (vì bộ rễ đã bị hư hại nặng) còn nâng cao sức đề kháng của cây để chống lại nấm bệnh và cung cấp năng lượng cần thiết giúp cây phục hồi nhanh chóng. Khi sầu riêng phục hồi cần tăng cường bón phân hữu cơ, hạn chế bón phân vô cơ để tăng độ phì nhiêu của đất. Đợi khi cây hồi phục hoàn toàn mới tiến hành làm trái trở lại.

Theo ông Huỳnh Văn Mười Một- công chức địa chính, nông nghiệp xã Quới Thiện, thời gian qua, xã ghi nhận một số vườn sầu riêng tiếp tục có dấu hiệu héo lá, rụng trái sau những cơn mưa đầu mùa. Địa phương đang thống kê chi tiết, đánh giá thiệt hại để đề xuất giải pháp hỗ trợ người dân.

Không riêng ở xã Quới Thiện, sầu riêng héo lá sau mưa đầu mùa cũng xảy ra ở xã Thanh Bình. Ông Nguyễn Hoàng Đệ- công chức địa chính, nông nghiệp xã Thanh Bình- cho hay hiện tượng này xảy ra rải rác trên hầu hết diện tích sầu riêng, nhất là những vườn sầu riêng trước đó bị ảnh hưởng hạn, mặn thì nay tiếp tục suy kiệt sau mưa.

Theo ông Hồ Văn Trọn- Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Bình, tổng diện tích sầu riêng bị ảnh hưởng hạn, mặn toàn xã khoảng 400ha của trên 530 hộ.

Thời gian qua, thông qua sự hỗ trợ của ngành chuyên môn, nhà vườn nơi đây đã tích cực áp dụng các biện pháp kỹ thuật để giải độc mặn, cứu vườn sầu riêng. Nhờ đó, một số vườn sầu riêng đã phục hồi tốt. Tuy nhiên, hiện tượng sầu riêng tiếp tục héo lá sau trận mưa đầu mùa, đã khiến không ít nhà vườn hoang mang.

Theo thống kê của ngành nông nghiệp, 2 xã Thanh Bình và Quới Thiện (Vũng Liêm) có khoảng 1.000ha sầu riêng, trong đó có khoảng 540ha bị ảnh hưởng do hạn, mặn.

Đến nay, tuy đã bước vào mùa mưa, nhưng tình trạng sầu riêng rụng lá, chết khô tái diễn làm cho mọi nỗ lực cứu vườn sầu riêng thời gian qua của nhiều nhà vườn ở cù lao Dài chưa mang lại hiệu quả như mong đợi. Hiện, 2 địa phương trên đang thống kê đánh giá thiệt hại để đề xuất ngành chuyên môn các biện pháp hỗ trợ cho nhà vườn phục vụ sản xuất hiệu quả hơn.

Theo ông Nguyễn Văn Sáu- Trưởng Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện Vũng Liêm, bên cạnh việc mẫn cảm với mặn, cây sầu riêng có khả năng chịu ngập úng rất thấp, chỉ cần bị ngập úng 1- 2 ngày hoặc mưa kéo dài mà không thoát nước tốt sẽ làm thối rễ cây, lá, hoa bị khô và rụng làm cho cây chết hàng loạt. Vì vậy việc xử lý vườn sầu riêng bị ngập úng kịp thời mang tính chất quyết định trong việc cứu sống vườn cây.

Ngoài làm thối rễ khiến sầu riêng không hấp thu được nước và chất dinh dưỡng, ngập úng còn tạo điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh phát triển, đất bị lèn ra rễ cây không tiếp xúc được với không khí.

Vì vậy, kỹ thuật xử lý vườn sầu riêng bị mưa, ngập úng cần làm cho vườn cây khô ráo càng nhanh càng tốt bằng cách đào rãnh để thoát nước thật nhanh, thu gom tất cả lá cây, cỏ rác trong vườn, kết hợp tỉa bỏ các cành gần mặt đất để vườn cây thông thoáng, móc bỏ phần đất lấp cổ rễ để cổ rễ nằm thoáng trên mặt đất, nạo bớt lớp đất bị lèn trên mô để không khí có thể thâm nhập vào trong, đồng thời rễ cây tiếp xúc với thuốc tốt hơn khi xử lý. Bên cạnh đó, nhà vườn cần quan tâm diệt trừ nấm bệnh, phòng ngừa cây bị thối rễ và bổ sung dinh dưỡng kịp thời, hợp lý cho cây.

Phòng ngừa sầu riêng bị thối rễ do ngập úng

Phối hợp thuốc hóa học để tưới gồm: 3g Metalaxyl 25- 35% + 2ml Hexaconazole 5% (Anvil) cho 1 lít nước tưới đều quanh gốc cây với liều lượng 3- 10 lít/cây tùy vào độ lớn của cây. Nếu bơm được thuốc xuống đất thì càng tốt. Lưu ý: Việc tưới gốc nêu trên phải được thực hiện ít nhất 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 tuần. Ngoài 2 loại thuốc trên có thể phối hợp 2 loại thuốc sau để tưới, gồm: 3g Curzate M8 + 2ml Carbendazim cho 1 lít nước để tưới hoặc chọn các loại thuốc khác có thể diệt trừ được các nhóm nấm Phythopthora sp, Pythium sp, Fusarium sp (gồm các loại thuốc: Atracol, Curzate M8, Dithane, Kumulus, Nativo, Anvil, Phytocide, Daconil, Norshield, Insuran, Coc 85, Aliette, Trichoderma,…); rải vôi đều quanh gốc cây với liều lượng 0,3- 0,6 kg/gốc tùy vào tán cây lớn hay nhỏ.

Bài, ảnh: LÊ SƠN

Nhà vườn ĐBSCL đổ xô trồng mít Thái, lo cung vượt quá cầu

Nguồn tin: VOV

Sau đợt hạn mặn khốc liệt, nhà vườn ở khu vực ĐBSCL lại đổ xô trồng mít. Tuy nhiên, diện tích tăng cao, nguy cơ dẫn đến "cung vượt cầu”.

Dù ở phía Nam quốc lộ 1, thuộc vùng ngập lũ nhưng tại xã Hậu Thành, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang có 100% đất ruộng được chuyển sang trồng cây ăn quả; trong đó phần lớn là cây mít Thái. Theo người dân địa phương, cây mít hiệu quả cao hơn cây lúa nên đổ xô trồng.

“Người dân trồng mít nhiều lắm, đa số trồng mít với chanh. Cây mít so với lúa thì hiệu quả cao hơn, chỉ sợ sau này các vùng khác trồng nhiều quá lại đụng hàng, giá lại thấp. Chúng tôi không thể nào ngăn chặn được, bởi vì người dân trồng tự phát, không có kế hoạch, quy hoạch trồng cụ thể”, ông Nguyễn Văn Cư, Chủ tịch UBND xã Hậu Thành chia sẻ.

Những thửa ruộng tại huyện Cái Bè(Tiền Giang) nay trở thành vườn mít

Đến thời điểm này, tỉnh Tiền Giang có hơn 10.000 hecta mít, nhiều nhất vùng ĐBSCL, tập trung nhiều ở huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành… Thời gian qua, có thời điểm khan hàng, giá mít lên đến trên 40.000 đồng/kg, nhưng lúc dội hàng, giảm giá còn vài nghìn đồng/kg. Nhiều trái mít không đạt chuẩn, kém chất lượng không bán được, nhà vườn phải dùng làm thức ăn cho gia súc, cá...

Tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, sau hạn mặn vừa qua, nhà vườn địa phương đổ xô trồng hàng trăm hecta mít thay cho cây sầu riêng, chôm chôm, bưởi... đã bị chết hay giảm năng suất. Chính quyền địa phương đang lo ngại diện tích cây mít tăng đột biến; trong khi đó, thị trường bấp bênh.

Trái mít đầu ra nhiều thời điểm kém ổn định.

Ông Phạm Anh Linh, Phó Chủ tịch UBND huyện Chợ Lách cho biết: “Hiện nay, người dân có xu hướng chuyển qua cây mít. Đây là loại cây chịu được hạn mặn tương đối tốt. Tuy nhiên, qua nắm thông tin thị trường, ở các tỉnh lân cận của ĐBSCL thậm chí các tỉnh Tây Nguyên trồng rất nhiều, không khéo, cung sẽ vượt cầu về mặt sản lượng. Do đó, chúng tôi không khuyến cáo bà con đổ xô trồng mít mà nên chọn trồng các loại cây nào đảm bảo yếu tố thị trường; ngoài việc thích ứng với biến đổi khí hậu phải đảm bảo yếu tố thị trường”.

Gần đây, diện tích trồng mít ở vùng ĐBSCL tăng đến vài chục nghìn hecta, nhiều nhất là các tỉnh: Tiền Giang, Vĩnh Long, Long An, Hậu Giang, Bến Tre… Riêng khu vực miền Đông Nam bộ nhất là Bình Phước, Bình Dương, … diện tích trồng mít cũng tăng lên đáng kể. Mặc dù, mít là loại cây có nhiều ưu điểm như: dễ trồng, năng suất cao, chi phí thấp, thời gian thu hoạch nhanh nhưng đầu ra, nhất là thị trường xuất khẩu chưa mở rộng. Điệp khúc “trúng mùa, mất giá” thường tái diễn, nên khi diện tích quá lớn sẽ tiềm ẩn rủi ro cao.

Ông Nguyễn Văn Phương, nhà vườn ở xã Mỹ Đức Đông, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang trồng 0,5 hecta mít cho biết, trước đây hiệu quả kinh tế rất cao nhưng gần đây giá mít sụt giảm nên lãi thấp.

Một vườn mít ở xã Mỹ Phong (Tp. Mỹ Tho, Tiền Giang) vừa bị phá bỏ nhường cho cây dừa.

Ông Phương cho rằng, nông dân không nên trồng mít “chạy” theo phong trào sẽ dẫn đến rủi ro về đầu ra. “Trước đây tôi đã trồng cây mít, nhưng hiện nay, trồng mít cung vượt cầu quá nhiều, mà đầu ra chỉ có ở Trung Quốc, chứ các nước khác chưa nghe nói. Do đó, phía Trung Quốc ngưng nhập hoặc không nhập thì mình lệ thuộc giá cả, rất bấp bênh, không ổn định. Theo tôi, không nên trồng cây mít nữa mà chọn trồng các loại cây khác có giá trị cao hơn, ổn định hơn”, ông Phương nói.

Rõ ràng, việc nhà vườn ĐBSCL ồ ạt trồng cây mít Thái để giảm rủi ro do hạn mặn lại sẽ dẫn đến nguy cơ khó khăn về đầu ra khi thị trường xuất khẩu chưa mở rộng. Do đó, ngoài việc liên kết sản xuất, đẩy mạnh hoạt động chế biến trái mít theo hướng xuất khẩu, chính quyền và ngành chức năng các địa phương cần chú trọng khâu quy hoạch vùng trồng loại cây ăn quả này. Trong đó, cần tích cực tuyên truyền, hướng dẫn nhà vườn chọn trồng các loại cây ăn trái có năng suất, chất lượng và đảm bảo yếu tố cung cầu của thị trường; có giá trị xuất khẩu cao./.

Nhật Trường/VOV-ĐBSCL

Giá thanh long tăng trở lại

Nguồn tin: Cổng TTĐT tỉnh Tiền Giang

Hiện nay, giá thanh long trên địa bàn tỉnh Tiền Giang đang tăng mạnh trở lại. Nông dân vùng chuyên canh cây trồng đặc sản này hết sức phấn khởi, ra sức thâm canh để nâng cao hiệu quả kinh tế, ổn định cuộc sống.

Theo chú Tư Long, nông dân trồng khoảng 2 ha thanh long tại huyện Chợ Gạo, giá thanh long ruột đỏ thương lái đang mua với giá khoảng 20.000 đồng/kg, tùy theo loại và địa bàn gần, xa, tăng gấp 3 đến 4 lần so với thời điểm cách đây khoảng một tháng. Gia đình ông vừa bán được 02 tấn trái, thu 80 triệu đồng. Chú Tư cũng đánh giá, theo kinh nghiệm trồng và bán thanh long nhiều năm, trong những ngày tới thanh long có khả năng sẽ còn giữ giá ở mức cao.

Tiền Giang trồng chủ yếu hai giống thanh long ruột đỏ và ruột trắng. Về giá bán, thanh long ruột đỏ thường tiêu thụ cao hơn gấp đôi so với giá thanh long ruột trắng. Tương tự, thanh long thu hoạch nghịch vụ giá bán cao hơn gần gấp đôi so với thanh long thu hoạch chính vụ.

Tỉnh đã xác định thanh long là một trong những chủng loại cây ăn trái đặc sản có lợi thế cạnh tranh cao trong đó vùng chuyên canh tập trung lớn nhất ở huyện Chợ Gao. Với năng suất bình quân trên 30 tấn/ha, mỗi ha thanh long ruột trắng sau khi trừ chi phí, nông dân còn lãi ròng gần 400 triệu đồng/năm, thanh long ruột đỏ lãi ròng bình quân đạt khoảng 635 triệu đồng/ha/năm.

Chợ Gạo có khoảng 7.000 ha thanh long, trong đó, 4.000 ha là thanh long ruột đỏ và 3.000 ha thanh long ruột trắng. Tại đây, hiện có 5 hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ thanh long cũng như mạng lưới 73 kho chứa, trong đó 22 kho trữ lạnh công suất trữ lạnh 20.000 tấn để bảo quản thanh long phục vụ vùng chuyên canh. Giá thanh long tăng giúp nông dân có nguồn thu nhập ổn định, góp phần phát triển kinh tế, xã hội bền vững.

Mộng Tuyết

Quảng Trị: Nông dân phấn khởi vì hồ tiêu được mùa, được giá

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Sau một thời gian dài hồ tiêu rớt giá sâu thì từ năm 2019 đến nay giá tiêu bắt đầu tăng trở lại và đặc biệt năm nay cây hồ tiêu được mùa nên nông dân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đang rất phấn khởi, tập trung chăm sóc vườn tiêu.

Nông dân Vĩnh Linh phấn khởi vì tiêu được mùa, được giá. Ảnh: TT

Những ngày này, anh Nguyễn Đức Phương (sinh năm 1965), ở thôn Hương Bắc, xã Kim Thạch, huyện Vĩnh Linh đang tích cực thu hoạch tiêu. Gia đình anh Phương có 1ha hồ tiêu được trồng từ năm 2015. Năm ngoái anh Phương thu hoạch được khoảng 2 tấn tiêu và bán được gần 90 triệu đồng. Năm nay, anh dự tính sẽ thu hoạch được trên 3 tấn tiêu. “Năm ngoái giá tiêu khô chỉ khoảng hơn 40 ngàn đồng/kg còn năm nay đã lên được trên 50 ngàn đồng/kg. Trước đây, tôi chủ yếu bán tiêu khô cho thương lái sau khi thu hoạch nhưng từ năm 2017, tôi tham gia Hợp tác xã (HTX) Sản xuất kinh doanh hồ tiêu Vĩnh Linh nên thu hoạch xong là bán tiêu tươi cho HTX với mức giá ổn định hơn. Năm nay giá tiêu có lên và tiêu được mùa nên gia đình tôi rất vui. Bởi vì số vốn ban đầu để gầy dựng vườn hồ tiêu mà gia đình tôi bỏ ra là gần 1 tỉ đồng. Vì vậy, tiêu được mùa, được giá giúp gia đình tôi sớm thu hồi lại vốn để đầu tư nhiều hơn”, anh Phương nói.

HTX Sản xuất kinh doanh hồ tiêu Vĩnh Linh được thành lập từ tháng 6/2017. HTX có tổng diện tích trồng tiêu khoảng 110 ha với 315 thành viên, phân bố ở các xã Trung Nam, Vĩnh Hòa, Hiền Thành, Kim Thạch và thị trấn Hồ Xá. Giám đốc HTX Sản xuất kinh doanh hồ tiêu Vĩnh Linh Lê Tấn Tửu cho hay, các hộ trong HTX đều nghiêm túc thực hiện quy trình trồng tiêu sạch theo hướng hữu cơ. Vụ tiêu năm nay các hộ trồng tiêu trong HTX đều được mùa, giá cả lại lên nên ai cũng phấn khởi. Đặc biệt, vừa qua HTX được huyện hỗ trợ 50 %, HTX đối ứng 50% để mua sắm máy sấy hạt tiêu đỏ với giá 160 triệu đồng. “Máy này được đặt tại xã Kim Thạch và bắt đầu hoạt động sấy tiêu đỏ từ hơn nửa tháng nay. Mỗi ngày, máy sấy được 200 cân tiêu tươi để cho ra 90 cân tiêu khô giữ nguyên màu đỏ tự nhiên. Ngoài phơi sấy hạt tiêu đen, tiêu sọ (tiêu trắng) truyền thống, hiện nay chúng tôi làm thử nghiệm sản xuất hạt tiêu chính giữ nguyên màu đỏ sau khi sấy khô để tăng giá trị kinh tế. Chúng tôi đang đàm phán để tiến tới xuất khẩu tiêu đỏ sang thị trường Châu Âu”, ông Tửu chia sẻ.

HTX Nông nghiệp dịch vụ hồ tiêu Cùa được thành lập từ năm 2001 với 25 thành viên, có 170 ha trồng tiêu theo hướng hữu cơ. Trước những năm 1990, diện tích trồng hồ tiêu tại Cam Lộ có lúc hơn 900 ha. Việc trồng và kinh doanh hồ tiêu đã mang lại cuộc sống ổn định và khá giả cho hàng ngàn hộ dân trên địa bàn. Người dân Cam Lộ lúc bấy giờ rất tự hào vì tiêu Cùa trái không chỉ đều đẹp mà hàm lượng tinh dầu cao, hạt chắc, hương vị nồng cay, thơm ngon nên rất được ưa chuộng. Tiêu Cùa giữ được vị thế trong suốt gần 15 năm trước khi bước vào thời kỳ khủng hoảng vì rớt giá vào những năm 2000. Đến năm 2010, diện tích trồng hồ tiêu tại Cam Lộ giảm sút, người dân không mặn mà với cây hồ tiêu vì giá cả giảm xuống quá thấp.

Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Nông nghiệp dịch vụ hồ tiêu Cùa Trần Hà cho hay, trước thực tế đó, cấp ủy, chính quyền và HTX luôn trăn trở, tìm hướng đi để đưa cây hồ tiêu trở thành sản phẩm mũi nhọn của địa phương, đưa thương hiệu tiêu Cùa trở lại thời kỳ hưng thịnh. Và rồi tiêu Cùa được hồi sinh từ khi Huyện ủy Cam Lộ đưa chuyên đề khôi phục và trồng mới cây hồ tiêu giai đoạn 2011- 2015 vào nghị quyết của đảng bộ. “Đến nay, HTX đã xây dựng được chuỗi giá trị cho sản phẩm tiêu Cùa sau khi được tổ chức Csip và Oxfam đào tạo về quản trị chiến lược và truyền thông thương hiệu. Sản phẩm tiêu Cùa cũng đến được với thị trường lớn từ các hội chợ trong và ngoài tỉnh. Ngoài ra, năm 2018 cây hồ tiêu được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, đây là lợi thế để HTX Hồ tiêu Cùa quảng bá sản phẩm tiêu Cùa”, ông Hà nói.

Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, Chủ tịch Hội Sản xuất và kinh doanh tiêu tỉnh Quảng Trị Dương Mạnh Tường cho biết, toàn tỉnh hiện có trên 2.000 ha hồ tiêu, chủ yếu tập trung ở các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa. Trong đó có 38 xã thuộc 4 huyện này đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Đến thời điểm hiện tại, nông dân toàn tỉnh đã thu hoạch trên 50% diện tích hồ tiêu với năng suất 2 tấn/ha, cao hơn hẳn những năm trước (từ 1,2-1,5 tấn/ha). Mặc dù năm nay thời tiết phức tạp, hạn hán kéo dài, dịch bệnh xảy ra nhiều nơi nhưng ngành nông nghiệp và người dân đã xử lý kịp thời, không để lây lan trên diện rộng. Nhờ vậy, cây tiêu vẫn sinh trưởng tốt và cho năng suất cao.

Theo ông Tường, giá hồ tiêu thành phẩm giảm mạnh từ năm 2016 và chạm đáy vào năm 2018. Bắt đầu từ năm 2019, giá hồ tiêu có dấu hiệu phục hồi. Hiện tại, tiêu thành phẩm có giá giao động từ 55-58 ngàn đồng/ kg. Thời gian qua, các địa phương trong tỉnh đã thành lập nên nhiều HTX, tổ hợp tác để hỗ trợ nông dân trồng hồ tiêu từ khâu trồng trọt, chăm bón đến tiêu thụ. Các HTX, tổ hợp tác thu mua hồ tiêu cho nông dân giá ổn định và cao hơn so với thị trường. Bên cạnh đó, những năm gần đây, các doanh nghiệp, địa phương cũng chú trọng đến việc sản xuất phong phú các sản phẩm từ hồ tiêu như tiêu đen, tiêu sọ, tiêu ngũ sắc… để bán ra thị trường, hướng đến xuất khẩu ra nước ngoài nhằm tăng giá trị của hồ tiêu Quảng Trị. Trên địa bàn tỉnh hiện có tiêu Cùa của HTX Nông nghiệp dịch vụ hồ tiêu Cùa được công nhận là sản phẩm OCOP 3 sao và hiện nay, tiêu Quảng Trị đã hoàn thiện chỉ dẫn địa lý, hướng đến hoàn thành truy xuất nguồn gốc cho cây hồ tiêu.

Ông Tường cho biết thêm, nguyên nhân chính khiến tiêu Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung bị rớt giá là do bị vỡ quy hoạch, người dân ồ ạt trồng tiêu mà không hướng đến chất lượng sau thu hoạch. Tiếp đến là chưa chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất… Vì vậy, giải pháp căn cơ và lâu dài để phát triển cây hồ tiêu bền vững đó là ổn định diện tích trồng tiêu, không phát triển ồ ạt, chú trọng chất lượng hơn số lượng, trồng tập trung, không phân tán manh mún. Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất. Về lâu dài, người trồng tiêu cần hướng đến trồng theo hướng hữu cơ, đa dạng hóa sản phẩm, giữ được màu đỏ của trái tiêu chính để tạo ra sức hút đối với người tiêu dùng. Đặc biệt, cần chú trọng đến khâu quản lý sản phẩm, không để lẫn tiêu Quảng Trị với tiêu của những địa phương khác để giữ vững thương hiệu; chú trọng xúc tiến thương mại, đẩy mạnh tìm kiếm thị trường tiêu thụ ổn định, hướng đến xuất khẩu.

Trần Tuyền

Tây Ninh: Khoảng 90% diện tích mì trong tỉnh bị nhiễm bệnh khảm lá

Nguồn tin: Báo Tây Ninh

Theo Chi cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật Tây Ninh, tính đến ngày 22.5.2020, trên địa bàn tỉnh đã xuống giống 51.497 ha cây khoai mì, trong đó vụ Mùa 2019 là 7.329 ha, vụ Đông Xuân 2019–2020 xuống giống 42.427 ha; riêng vụ Hè Thu 2020 đã xuống giống được 1.741 ha, nông dân trên địa bàn tỉnh hiện đang tiếp tục xuống giống mì.

Tính đến ngày 17.5.2020, diện tích cây mì nhiễm bệnh khảm lá hiện còn trên đồng là 44.651,4 ha. Trong đó vụ Mùa 2019 lũy kế diện tích nhiễm bệnh 6.788 ha, chiếm 92,6% diện tích xuống giống. Đã thu hoạch 709 ha với năng suất bình quân 30 tấn/ha, diện tích nhiễm bệnh còn lại trên đồng là 5.919 ha.

Người dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ bệnh khảm lá trên cây mì

Vụ Đông Xuân 2019 – 2020 có 38.429,9 ha nhiễm bệnh, chiếm 90,6% diện tích xuống giống; tăng 18,3% (+5.910,1 ha) so cùng kỳ năm trước. Trong đó diễn tích nhiễm nhẹ là 30.409,9 ha, chiếm 79% diễn tích nhiêm; tăng 31,6% (+7.262,8 ha); diện tích nhiễm trung bình là 7.839 ha, chiếm 20,4% diện tích nhiễm; tăng 44% (+2.394 ha) và diện tích nhiễm nặng là 181 ha, chiếm 0,5% diện tích nhiễm, giảm 95,4% (-3.746,7 ha).

Do ảnh hưởng các cơn mưa trái mùa giữa tháng 4.2020, đã có 150 ha mì trồng trên đất ruộng (cơ cấu 1 vụ mì + 1vụ lúa/ năm) ở giai đoạn 4 – 5 tháng tuổi bị ngập úng cục bộ. Hiện nay diện tích nhiễm bệnh hiện còn trên đồng là 388.279,9 ha

Riêng vụ Hè Thu 2020 hiện có 292,5 ha nhiễm bệnh, chiếm 16,8% diện tích xuống giống, phân bố tại huyện Tân Châu.

Để phòng, chống dịch bệnh khảm lá cây mì có hiệu quả, thời gian qua, Chi cục đã hướng dẫn nông dân quy trình canh tác, quy trình sản xuất và tự sản xuất giống mì sạch bệnh khảm lá.

Người dân tiêu hủy cây mì bị bệnh khảm lá.

Các huyện, thành phố tiếp tục thực hiện nội dung tăng cường thông tin để người sản xuất thay đổi nhận thức về bệnh khảm lá, tăng tỷ lệ sử dụng giống sạch bệnh, từng bước loại bỏ giống HLS-11.

Triển khai một số khu vực xuống giống tập trung, sử dụng nguồn giống sạch bệnh và áp dụng các biện pháp phòng chống dịch ngay từ đầu vụ, cũng như triển khai quy trình canh tác mì, quy trình sản xuất giống mì sạch bệnh khảm lá và quy trình tự sản xuất giống mì sạch bệnh khảm lá để người dân áp dụng.

Bên cạnh đó, tiếp tục vận động người dân sử dụng cây giống sạch bệnh để trồng, giảm sử dụng giống nhiễm bệnh nặng HLS-11. Qua đó các huyện đã vận động người sản xuất sử dụng nguồn giống sạch bệnh trồng trên diện tích lớn, kết quả đã có khoảng 3.906 ha áp dụng.

Cụ thể, vụ Đông Xuân 2019 – 2020 với diện tích 3.906 ha, gồm các giống KM 140, KM 505, KM 419; vụ Hè Thu 2020 với diện tích 74 ha, trong đó tại huyện Châu Thành là 54 ha trồng giống KM 94 và KM 505 sạch bệnh (giai đoạn 10 – 15 ngày, chưa xuất hiện bệnh) và thị xã Trảng Bàng với diện tích 20 ha, giống KM 140 sạch bệnh (giai đoạn 30 ngày, chưa xuất hiện bệnh).

Theo Chi cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật, vụ Đông Xuân 2019 – 2020 có mức độ biểu hiện bệnh chủ yếu nhẹ; diện tích nhiễm nặng chỉ chiếm 0,5% diện tích nhiễm và đã giảm mạnh 95,4% so với vụ Đông Xuân 2018 – 2019.

Nguyên nhân nhờ áp dụng nhiều giải pháp như: một số vùng/khu vực triển khai xuống giống tập trung với nguồn giống sạch bệnh; hạn chế trồng giống nhiễm bệnh nặng (HLS-11); chăm sóc tưới nưới đầy đủ trong điều kiện thời tiết khô hạn giúp cây sinh trưởng phát triển tốt ít thiệt năng suất cuối vụ; luân canh (vụ lúa – vụ mì/ rau màu), chuyển đổi cây trồng khác để cắt, giảm nguồn bệnh khảm lá.

Chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh khuyến cáo người dân sử dụng nguồn giống mì sạch bệnh để xuống giống (ảnh một điểm bán giống cây mì đại trà trên đường 781, huyện Dương Minh Châu).

Tuy nhiên, bệnh khảm lá tiếp tục gây hại trên diện rộng tại tất cả các vùng trồng mì trên địa bàn tỉnh, chiếm trên 90% diện tích trồng. Nguyên nhân cây mì là loại cây trồng chủ lực, do dễ trồng, ít tốn công chăm sóc, có nguồn tiêu thụ ổn định, sản xuất có lãi so với một số loại cây trồng khác. Mùa vụ sản xuất liên tục tạo thuận lợi cho tiêu thụ nhưng là nguyên nhân chính làm lây nhiễm chéo dịch bệnh.

Bên cạnh đó, diện tích sản xuất toàn tỉnh lớn (50.000 ha/năm) nên chưa có đủ nguồn giống sạch bệnh cung cấp cho sản xuất đại trà và hiện chưa có giống mì chống chịu (kháng) với bệnh khảm lá cung cấp cho sản xuất, các loại giống phổ biến hiện nay đã nhiễm bệnh.

Đồng thời công tác kiểm soát bệnh khảm lá còn gặp nhiều khó khăn do chưa kiểm soát được bọ phấn trắng trong thời gian từ lúc trồng đến 25 ngày sau khi trồng; do mầm mì mọc không tập trung nên khó xác định thời điểm phun phù hợp (phun sớm mầm mì chưa mọc sẽ không tiếp xúc được thuốc, phun trễ thì mầm mọc sớm sẽ bị bọ phấn tấn công trước khi phun thuốc); chi phí phun thuốc phòng trừ bọ phấn trắng để kiểm soát bệnh khảm lá rất cao.

Thời gian 5 tháng sau khi trồng khó kiểm soát bệnh khảm lá hiệu quả do chưa có thiết bị cơ giới phun phù hợp, cây cao, tán rậm, ấu trùng bọ phấn trắng sinh sống và gây hại ở mặt dưới của các lá bên dưới.

Về giải pháp phòng, chống bệnh khảm lá vụ Hè Thu 2020, Chi cục tiếp tục thông tin tuyên truyền, vận động người dân thực hiện các biện pháp như xuống giống đồng loạt, tập trung từng khu vực sản xuất; sử dụng nguồn giống sạch bệnh, giống ít nhiễm bệnh để làm giống; phun thuốc trừ bọ phấn giai đoạn mọc mầm đến 3 tháng để hạn chế bệnh hại; tiêu hủy cây mì bị bệnh và tàn dư sau thu hoạch, không sử dụng cây trên ruộng bệnh để làm giống. Trong thực tế người dân chủ yếu thực hiện cày vùi vào đất, phơi ải 1 – 3 tháng, sau đó làm đất để trồng lại vụ mới.

Thế Nhân

Bạc Liêu: Niềm vui từ cánh đồng mẫu lớn ấp 13

Nguồn tin: Báo Bạc Liêu

Đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng, đưa giống có năng suất, chất lượng cao vào thay thế cho những giống lúa đã thoái hóa, cánh đồng mẫu lớn tại ấp 13 (phường Láng Tròn, TX. Giá Rai) với diện tích 218ha đã mang lại hiệu quả vượt trội, làm nông dân phấn khởi trước vụ mùa bội thu, trúng giá.

Cánh đồng mẫu lớn ấp 13 (phường Láng Tròn, TX. Giá Rai). Ảnh: Q.V

Gắn bó với đồng ruộng hơn mấy chục năm, chưa bao giờ người dân ấp 13 thấy năng suất lúa đạt cao như bây giờ. Không còn cảnh thương lái ép giá, từ giống đến khâu kỹ thuật đều được hỗ trợ, khi thu hoạch tiếp tục được doanh nghiệp bao tiêu thu mua. Với 218ha gieo sạ giống OM5451, thực hiện theo quy trình “3 giảm - 3 tăng” và quản lý dịch hại, các mô hình sinh thái trên đồng ruộng, nông dân ở đây đạt năng suất 7,7 tấn/ha, tăng hơn 1,5 tấn/ha. Trước hiệu quả “mắt thấy, tai nghe”, từ vài hộ ban đầu, đến nay ấp 13 đã có 27 hộ nông dân tham gia trong vụ đông xuân.

Khác biệt rõ nét nhất mà mô hình mang lại cho bà con nông dân là ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào đồng ruộng. Việc đưa cơ giới hóa như máy làm đất, máy gặt đập liên hợp vào trong khâu làm đất và thu hoạch đã giúp giảm công lao động cũng như áp lực nhân công cho nông dân mỗi khi vào vụ sản xuất đại trà. Kể từ khi thực hiện mô hình, bà con nông dân đã ý thức kiểu “kỷ luật đồng ruộng”, tuân thủ mọi quy trình từ xuống giống, chăm sóc đến thu hoạch. Đáng mừng nhất là nông dân đã bỏ hẳn những thói quen không cần thiết, đặc biệt là sử dụng quá nhiều giống, phân bón, phun thuốc bừa bãi.

Việc thực hiện mô hình cánh đồng mẫu có thể nói là bước đột phá, là động lực thúc đẩy xây dựng nền sản xuất nông nghiệp ổn định và bền vững.

Quang Vinh (Đài Truyền thanh TX. Giá Rai)

Khánh Hòa: Thoái trào nghề nuôi động vật rừng thông thường

Nguồn tin: Báo Khánh Hòa

Khó khăn về đầu ra, giá cả bấp bênh đang khiến cho nghề nuôi thương phẩm động vật rừng thông thường ở nhiều địa phương trong tỉnh Khánh Hòa thoái trào. Hiện nay, không còn mấy hộ mặn mà với nghề nuôi này.

Một thời phát triển

Những năm trước, phong trào nuôi thương phẩm các loại động vật rừng thông thường phát triển rầm rộ ở nhiều địa phương trong tỉnh, hàng loạt cơ sở nuôi nhím, heo rừng, dúi, rắn… mọc lên với đủ quy mô. Ông Nguyễn Thâu (tổ dân phố Ngô Mây, phường Ba Ngòi, TP. Cam Ranh) nhớ lại: “Năm 2009, thấy nhím dễ nuôi, ít dịch bệnh, có lãi khá nên gia đình tôi đầu tư hàng trăm triệu đồng để xây chuồng trại, mua 6 cặp nhím bố mẹ giống với giá hơn 47 triệu đồng/con về nuôi với hy vọng sẽ làm giàu từ nghề này. Khi ấy, phong trào nuôi nhím đang rộ lên nên chủ trại chủ yếu nuôi nhím sinh sản để bán giống với giá khoảng 15 - 17 triệu đồng/cặp nhím con 1 tháng tuổi, nhím thịt khi ấy giá cũng rất cao, 500.000 - 600.000 đồng/kg”.

Cơ sở nuôi nhím của ông Nguyễn Thâu.

Từng một thời gắn bó với nghề nuôi thương phẩm động vật rừng, ông Trần Văn Tính (thị trấn Khánh Vĩnh, huyện Khánh Vĩnh) không ngờ nghề nuôi này lại thoái trào nhanh đến vậy. Năm 2011, thấy nhím dễ nuôi, giá nhím thịt bán tại chuồng hơn 500.000 đồng/kg, ông Tính đã đầu tư 30 chuồng nhím, mua giống, gầy đàn, số lượng cá thể nhím cao nhất lên đến 60 con. Ngoài nuôi nhím, gia đình ông còn nuôi hàng chục con heo rừng lai. Trong 2 - 3 năm đầu, các vật nuôi bán rất chạy, nhưng đến năm thứ 4 thì bắt đầu khó tiêu thụ. Năm 2019, sau một thời gian nuôi cầm chừng, không tìm được đầu ra, gia đình ông không tiếp tục gắn bó với nghề nuôi này nữa.

Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh, nếu trước đây, trên địa bàn huyện có hàng chục cơ sở nuôi động vật rừng thông thường thì đến nay chỉ còn duy nhất Công viên du lịch Yang Bay nuôi cá sấu và một số loài động vật rừng khác phục vụ du lịch, còn các hộ nuôi thương phẩm động vật rừng đã đóng cửa chuồng trại. Trong khi đó, tại TP. Cam Ranh, trước năm 2012 có hơn 50 cơ sở nuôi động vật hoang dã thông thường với tổng đàn lên đến hàng nghìn con. Đến năm 2015, toàn thành phố chỉ còn 22 cơ sở nuôi, với tổng đàn khoảng 1.000 con. Hiện nay, chỉ còn 6 hộ nuôi với 1.063 cá thể, trong đó có 1.028 cá thể động vật rừng thông thường.

Khó về đầu ra

Theo đại diện hạt kiểm lâm các địa phương, điều kiện để được nuôi sinh sản, thương phẩm động vật rừng thông thường khá thuận lợi. Nếu người dân có nhu cầu nuôi, hạt kiểm lâm địa phương sẽ hướng dẫn cụ thể. Theo đó, người nuôi chỉ cần xây dựng chuồng trại, nuôi nhốt động vật rừng đảm bảo an toàn, có giấy tờ chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của động vật rừng thông thường đưa vào nuôi. Sau khi kiểm tra, nếu đảm bảo các điều kiện thì hạt kiểm lâm sẽ cấp mã số trại nuôi, mở sổ theo dõi cơ sở nuôi động vật rừng thông thường cho chủ cơ sở.

Tuy điều kiện nuôi khá dễ dàng nhưng theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ năm 2019 đến nay, trên địa bàn tỉnh chỉ có 2 - 3 cơ sở đăng ký mã số trại nuôi mới, trong khi số cơ sở ngừng nuôi thì rất nhiều. Cụ thể, đến thời điểm này, toàn tỉnh chỉ còn 46 cơ sở nuôi động vật rừng với tổng đàn 20.533 con, chủ yếu là cá sấu, nhím, heo rừng, cầy vòi hương, chim trĩ, các loại rắn, hươu, nai…; số lượng cơ sở giảm hơn 60% so với năm 2015; đa phần các cơ sở nuôi hiện nay phục vụ hoạt động du lịch.

Theo lý giải của các hộ nuôi, sở dĩ người nuôi thương phẩm động vật rừng thông thường “treo chuồng” là do đầu ra khó khăn, giá cả bấp bênh. “Thị trường tiêu thụ động vật rừng thông thường chủ yếu là các nhà hàng, quán nhậu; bây giờ không mấy thực khách sử dụng thịt rừng nuôi nên giá cả xuống thấp. Hiện nay, giá nhím thương phẩm kích cỡ từ 8kg/con trở lên chỉ còn 250.000 đồng/kg mà không mấy ai mua, lâu lâu mới bán được 1 con; giá heo rừng nuôi cũng không cao hơn so với heo thường nên không mấy ai mặn mà với nghề nuôi này nữa. Đây chính là nguyên nhân khiến nghề nuôi thương phẩm động vật rừng thông thường trong tỉnh thoái trào”, ông Thâu nói.

HẢI LĂNG

Cả nước đã tiêu hủy 34.000 con lợn mắc bệnh Dịch tả lợn châu Phi

Nguồn tin: Hà Nội Mới

Theo báo cáo của các địa phương, từ đầu năm 2020 đến nay, bệnh Dịch tả lợn châu Phi phát sinh tại 773 xã (bao gồm 25 xã phát sinh ổ bệnh, 228 xã tái phát bệnh và 520 xã có dịch xảy ra từ cuối năm 2019 và kéo dài sang năm 2020) tại 217 huyện thuộc 45 tỉnh, thành phố, buộc tiêu hủy 34.000 con lợn.

Đến nay, cả nước còn 238 xã thuộc 60 huyện của 18 tỉnh, thành phố có bệnh Dịch tả lợn châu Phi chưa qua 30 ngày. Do đó, nguy cơ dịch bệnh tái phát, lây lan diện rộng là rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tổ chức nuôi tái đàn, tăng đàn và bảo đảm nguồn cung thịt lợn.

Để kiểm soát, ngăn chặn các ổ dịch tái phát và lây lan diện rộng, khắc phục ngay những khó khăn, tồn tại, bất cập trong công tác phòng, chống bệnh Dịch tả lợn châu Phi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có văn bản đề nghị các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo kiểm soát bệnh Dịch tả lợn châu Phi; thành lập ngay các đoàn công tác, cử các tổ cán bộ kỹ thuật trực tiếp tới các địa phương có ổ bệnh chưa qua 30 ngày để phối hợp với chính quyền cơ sở xử lý triệt để, kiểm soát, ngăn chặn dịch bệnh tái phát, lây lan diện rộng; chủ động triển khai giám sát, phát hiện sớm, kịp thời xử lý dứt điểm ngay khi phát hiện lợn mắc bệnh, nghi mắc bệnh Dịch tả lợn châu Phi.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đề nghị các tỉnh, thành phố xử lý nghiêm những trường hợp không báo cáo dịch bệnh, bán chạy, giết mổ, vứt xác lợn bệnh, nghi mắc bệnh ra môi trường; tăng cường kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển lợn, đặc biệt là vận chuyển, buôn bán lợn để nuôi thương phẩm và lợn đến cơ sở giết mổ… nhằm ngăn chặn nguy cơ dịch bệnh tái phát, lây lan; đồng thời, tổ chức giám sát, phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp vận chuyển lợn, sản phẩm lợn bất hợp pháp qua biên giới...

QUỲNH DUNG

Giá gia cầm giảm mạnh, người chăn nuôi gặp khó khăn

Nguồn tin: Báo Thái Bình

Do ảnh hưởng bởi bệnh dịch tả lợn châu Phi xảy ra năm 2019, nhiều hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Thái Bình bị thiệt hại nặng nề về kinh tế. Với mong muốn khôi phục chăn nuôi để có thêm thu nhập, nhiều hộ đã chuyển sang chăn nuôi gia cầm. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay, giá gia cầm giảm sâu khiến người chăn nuôi chồng chất khó khăn.

Người chăn nuôi cần có kế hoạch tái đàn hợp lý, tránh tái đàn ồ ạt.

Trước khi xảy ra bệnh dịch tả lợn châu Phi, trang trại chăn nuôi tổng hợp của gia đình ông Đặng Văn Tuyệt ở thôn Nguyên Kinh 2, xã Minh Quang (Kiến Xương) thường xuyên nuôi từ 80 - 100 con lợn nái, lợn thịt cùng hàng nghìn con gia cầm các loại. Bệnh dịch tả lợn châu Phi bùng phát khiến gia đình ông phải tiêu hủy hơn 40 con lợn, số lợn khỏe mạnh còn lại bán với giá rẻ để “vớt vát” lại đồng vốn nên tính ra thiệt hại hơn 100 triệu đồng. Ông Tuyệt cho biết: Nguồn thu chính của gia đình chủ yếu từ chăn nuôi lợn, không đành lòng để chuồng trại bỏ trống nên tôi cải tạo lại chuyển sang nuôi gia cầm. Trước đây, tôi chỉ nuôi khoảng 3.000 con ngan, gà, vịt, từ sau bệnh dịch tả lợn châu Phi, đàn gia cầm tăng lên hơn 5.000 con, trong đó có 2.000 con gà, 3.000 con vịt. Từ trước tới giờ, tôi chỉ nuôi giống gà ri lai chọi vì cho chất lượng thịt thơm ngon, giá cả ổn định, được thị trường ưa chuộng. Tuy nhiên, từ đầu năm 2020 đến nay, giá gà xuống thấp, thương lái chỉ thu mua với giá từ 65.000 - 70.000 đồng/kg thay vì 85.000 - 90.000 đồng/kg như trước đây. Tương tự như vậy giá vịt giảm từ 45.000 - 50.000 đồng/kg xuống còn 25.000 - 30.000 đồng/kg. Giá giảm nhưng việc tiêu thụ vẫn gặp khó khăn, thương lái chỉ thu mua cầm chừng vì họ giải thích lượng tiêu thụ rất chậm trong khi nhiều người gọi điện chào mời. Để tiết kiệm chi phí chăn nuôi, bớt thiệt hại vì rớt giá, tôi cắt giảm thức ăn công nghiệp, tận dụng thân cây chuối, các loại rau thái nhỏ trộn với cám gạo cho gia cầm ăn, đồng thời rao bán trên mạng xã hội và trực tiếp mang đi giao cho khách khi có nhu cầu.

Không chỉ những hộ chăn nuôi với quy mô nhỏ lẻ “lao đao” khi gia cầm rớt giá mà những trang trại chăn nuôi với số lượng lớn, có liên kết với đơn vị tiêu thụ cũng gặp khó khăn tương tự. Trước đây, trang trại của gia đình ông Vũ Viết Sơn ở thôn Hạ Phán, xã Quỳnh Hoàng (Quỳnh Phụ) mặc dù nuôi tới 14.000 con gà thương phẩm nhưng không phải lo đầu ra vì nhiều cơ sở chế biến thực phẩm ở ngoài tỉnh luôn tự tìm đến ký hợp đồng thu mua gà. Song từ đầu năm đến nay, giá gà giảm nhưng vẫn khó bán, ông Sơn phải đôn đáo tìm thương lái trong tỉnh để mời mua gà. Theo ông Sơn: Từ sau tết, giá gà liên tục giảm từ 80.000 đồng/kg xuống 65.000 đồng/kg, có lúc chỉ còn 50.000 đồng/kg. Đặc biệt, thời điểm thực hiện giãn cách xã hội để phòng, chống dịch Covid-19, các cơ sở chế biến thực phẩm đã dừng hợp đồng thu mua gà khiến trang trại bị thua lỗ. Tính ra mỗi tháng bị lỗ 45 triệu đồng do phát sinh chi phí thức ăn, thuốc men, nhân công. Hiện tại số lượng gà nuôi quá lứa còn nhiều mà chưa tiêu thụ được, càng nuôi lâu càng lỗ vì hàng ngày vẫn phải cho ăn nhưng gà không tăng thêm trọng lượng, thậm chí còn hao hụt do ảnh hưởng bởi thời tiết nắng nóng.

Hiện nay, tổng đàn gia cầm toàn tỉnh có hơn 14 triệu con. Nguyên nhân khiến giá gia cầm giảm là do bệnh dịch tả lợn châu Phi bùng phát, nhiều hộ chăn nuôi ồ ạt chuyển sang nuôi gia cầm nên tổng đàn tăng mạnh, nguồn cung dư thừa so với nhu cầu thị trường. Đặc biệt, từ đầu năm đến nay, dịch cúm gia cầm xuất hiện ở một số địa phương nên người tiêu dùng “dè chừng” với loại thực phẩm này. Cùng với đó là ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19, dịch vụ kinh doanh ăn uống ngừng hoạt động, bếp ăn tập thể phải đóng cửa, chợ bán thực phẩm cũng cung cấp cầm chừng nên việc tiêu thụ gia cầm vốn đã chật vật nay lại càng khó khăn hơn. Theo khuyến cáo của ngành Nông nghiệp, để hạn chế rủi ro trong chăn nuôi, người chăn nuôi gia cầm khi tăng đàn cần xem xét, tính toán nguyên lý cung cầu của thị trường, cân nhắc quy mô đầu tư cho phù hợp, không nên chăn nuôi theo phong trào; đồng thời, đổi mới phương thức chăn nuôi, đẩy mạnh xây dựng vùng, cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh, áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi; chọn đối tượng cung ứng, tìm đầu ra cho sản phẩm để bảo đảm chăn nuôi gắn liền với thị trường tiêu thụ; thực hiện liên kết sản xuất theo chuỗi để nâng cao chất lượng và giá trị cạnh tranh của sản phẩm. Đặc biệt, trong thời điểm giá thịt lợn đang tăng cao mà giá gia cầm lại giảm như hiện nay, người tiêu dùng nên lựa chọn thịt gia cầm làm thực phẩm cho gia đình nhằm tiết kiệm chi phí và chia sẻ khó khăn với người chăn nuôi.

Minh Quân

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-28) 37445447-(84-28) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop