Tin nông nghiệp ngày 04 tháng 01 năm 2021

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 04 tháng 01 năm 2021

Lục Ngạn - vùng cây ăn quả trọng điểm quốc gia

Nguồn tin: Báo Bắc Giang

Được thiên nhiên ưu đãi, người dân nỗ lực lao động, vùng đất Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã cho nhiều loại trái cây thơm ngon nức tiếng, đưa nơi đây thành “tập đoàn” cây ăn quả (CAQ) của địa phương. Trên cơ sở lợi thế đó, Lục Ngạn đang từng bước xây dựng vùng CAQ trọng điểm quốc gia.

Bốn mùa quả ngọt

Du khách tham quan nhà vườn tại xã Thanh Hải. Ảnh: Hà Mi

Mùa này, hoa trái Lục Ngạn đang cho thu hoạch rộ nên đâu đâu cũng bắt gặp vườn cam, bưởi vàng óng, tỏa hương thơm ngát. Năm nay, bà con tiếp tục được mùa quả có múi. Với diện tích 7 nghìn ha, sản lượng cam, bưởi ước đạt gần 60 nghìn tấn. Giá bán ổn định, nhiều nhà vườn thu lãi cao.

Điều đặc biệt là chất lượng sản phẩm ngày càng nâng lên nhờ người dân canh tác theo quy trình VietGAP, hữu cơ. Theo ước tính của huyện Lục Ngạn, vụ này, giá trị CAQ mang lại khoảng 1 nghìn tỷ đồng.

Lục Ngạn không chỉ có cam, bưởi mà còn có sản phẩm khác như: Táo, thanh long, ổi... Cùng đó là vải thiều - cây trồng chủ lực với 15.290 ha, sản lượng khoảng 90-130 nghìn tấn/năm. Từ chỗ tiêu thụ nội địa hoặc xuất qua đường tiểu ngạch sang Trung Quốc, đến nay, vải thiều Lục Ngạn còn được phân khúc tiêu thụ ở một số thị trường cao cấp như: Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản… Sau mùa vải là đến nhãn, mùa nối tiếp nhau giúp Lục Ngạn có bốn mùa quả ngọt.

Mở rộng vùng, liên kết sản xuất theo chuỗi

Các sản phẩm CAQ của Lục Ngạn đã trở nên quen thuộc và được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưu chuộng. Phát huy lợi thế đó, huyện phấn đấu “Xây dựng huyện Lục Ngạn trở thành vùng sản xuất CAQ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2020-2025 và những năm tiếp theo”.

Thực tế sản xuất cho thấy quá trình phát triển CAQ bộc lộ những bất cập, môi trường sống của người dân ảnh hưởng. Bởi vậy, huyện coi trọng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, hướng dẫn người sản xuất sử dụng các loại phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học. Lựa chọn cây trồng có ưu thế vượt trội, thích ứng với biến đổi khí hậu, hợp với vùng đất Lục Ngạn.

Đồng thời thu hút, khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến nông sản, có cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng các nhà máy bảo quản, chế biến sâu, chế biến công nghệ cao; tiếp tục quảng bá, xây dựng thương hiệu địa phương, tiến tới thương hiệu quốc gia.

Đi đôi với giải pháp trên, huyện quy hoạch mở rộng các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh sản phẩm chủ lực, đặc trưng của huyện để tích hợp vào quy hoạch của tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050.

Ông Nguyễn Tiến Ky, Viện Nghiên cứu, đào tạo, tư vấn khoa học công nghệ (Hà Nội): "Lấy gì của đất phải trả lại cho đất": "Qua nghiên cứu và khảo sát thực tế, tôi thấy sản xuất theo hướng hữu cơ tại vùng CAQ Lục Ngạn chưa nhiều. Đáng ngại là thời gian dài, bà con dùng phân vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Chủng loại phân bón quá nhiều dẫn đến cây trồng loạn dinh dưỡng. Trong khi đó, nhiều khoáng chất trong đất đã bị khai thác cạn kiệt lại không được bổ sung. Ví như, cây cam cần 17 loại khoáng chất, nhất là kẽm song đất Lục Ngạn lại thiếu khoáng chất này, làm cây yếu, xuất hiện nhiều bệnh, điển hình là Greening. Cam mắc bệnh này thì không chữa khỏi, phải phá bỏ hàng loạt. Do đó, lấy gì của đất phải trả lại cho đất, có nghĩa là phục hồi đất; tiếp tục ứng dụng công nghệ sinh học chăm sóc cây trồng thì mới phát triển bền vững được".

Trịnh Lan

Sóc Trăng: Nông dân Long Phú chuẩn bị bưởi phục vụ Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021

Nguồn tin: Cổng TTĐT tỉnh Sóc Trăng

Chỉ còn hơn một tháng nữa là đến Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, trong những ngày này, các nhà vườn trên địa bàn huyện Long Phú (tỉnh Sóc Trăng) đang tất bật công việc chăm sóc để kịp đưa ra thị trường những trái bưởi đẹp phục vụ nhu cầu tết.

Anh Nguyễn Hữu Chính ở ấp Phú Thứ, xã Phú Hữu, huyện Long Phú, vào tháng 4 âm lịch năm nay đã bắt đầu xử lý cho vườn bưởi hơn 3 năm tuổi của mình ra hoa, nhưng do yếu tố thời tiết và ảnh hưởng của đợt hạn, mặn kéo dài vào đầu năm 2020, hiện trong tổng số 100 cây bưởi của gia đình có phân nữa cho trái bán vào dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021. Theo anh Chính cho biết: “Tết này gia đình sẽ đem bán khoảng 1 tấn bưởi. Do năm nay nhuận một tháng âm lịch nên tết này lượng bưởi sẽ ít và giá sẽ cao hơn năm rồi. Về giá cả, đặt cọc mua tại vườn từ khoảng 45 ngàn đến 55 ngàn đồng/kg”.

Chăm sóc vườn bưởi phục vụ tết

Bưởi rất được thị trường ưa chuộng và là loại trái cây không thể thiếu chưng bày trên bàn thờ gia tiên vào những ngày tết nên có giá cao và ổn định. Nếu ngày thường bưởi có giá từ 40 ngàn đến 45 ngàn đồng, thì vào các dịp tết giá tăng lên gấp nhiều lần. Các nhà vườn đang tất bật chăm sóc, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng; đồng thời cũng bán được giá, mang lại nguồn thu nhập cao cho gia đình đón xuân thêm đầm ấm. Anh Nguyễn Khánh Hòa, ấp Phú Hữu, xã Phú Hữu, huyện Long Phú chia sẻ: “Bưởi từ khi ra hoa đến trái già, chín khoảng hơn 7 tháng. Qua tháng 5 mình mới để trái, đến giờ bưởi đã già và sắp chín; để lựa những trái bưởi đẹp nhất mình lựa trái tròn, những trái bị méo hay sâu thì bỏ; bưởi đạt trên 1,5kg là đạt, để lên dĩa chưng tết rất đẹp”.

Hiện trên địa bàn huyện có trên 150ha trồng bưởi tập trung ở xã Phú Hữu, thị trấn Long Phú. So với các loại cây trồng khác, lợi nhuận từ trồng bưởi cao gấp 5 đến 10 lần và có thể chống chịu được độ mặn 2%o. Với hiệu quả kinh tế mang lại, cây bưởi không những góp phần nâng cao thu nhập của người dân mà còn mở ra hướng đi mới trong quá trình đa dạng hóa cơ cấu cây trồng của huyện, góp phần mang lại những ngày xuân thêm vui tươi, đầm ấm.

Thanh Đồng

Sản lượng quýt hồng cung ứng Tết giảm mạnh

Nguồn tin: Báo Đồng Tháp

Nông dân trên địa bàn huyện Lai Vung (tỉnh Đồng Tháp) đang tất bật với các khâu chăm sóc quýt hồng cho vụ Tết Nguyên đán 2021. Song, trái hẳn với mong đợi, do ảnh hưởng của dịch bệnh vàng lá thối rễ, chết xanh trên cây có múi khiến sản lượng quýt hồng tại Lai Vung có chiều hướng giảm mạnh. Toàn huyện hiện còn khoảng 300ha quýt hồng.

Nông dân Lai Vung chuẩn bị quýt Tết trong tâm trạng kém vui

Những năm trước, thời điểm này, các thương lái đã nhộn nhịp đến các chủ vườn quýt hồng để đặt hàng cung ứng cho thị trường Tết, nhưng năm nay có vẻ trầm lắng. Vườn quýt hồng của ông Trần Hữu Hớn thuộc ấp Long Hưng 2, xã Long Hậu đang chăm sóc trái thu hoạch dịp Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, do ảnh hưởng dịch bệnh nên năng suất quýt nhà ông Hớn giảm mạnh. Ông Hớn cho biết: “Khoảng 3 năm trở lại đây, dịch bệnh vàng lá thối rễ, chết xanh trên cây có múi ảnh hưởng nhiều đến cây quýt hồng khiến nông dân gặp nhiều khó khăn. Vụ quýt Tết 2021, sản lượng quýt hồng của nhà tôi dự kiến chỉ còn 10 tấn, giảm 60% so với các năm trước. Vì khan hiếm nên giá quýt hồng hiện được thương lái đến chào hàng mua khoảng 70.000 - 75.000 đồng/kg. Song, quýt Tết cũng đang đối diện với việc ruồi vàng chích hút khiến lượng trái bị rụng nhiều”.

Còn theo ông Nguyễn Văn Hồng ngụ ấp Long Khánh A, xã Long Hậu tính toán, nếu quýt phát triển bình thường, ước tính 7 công quýt hồng của gia đình sẽ thu hoạch khoảng 30 tấn trái bán cung ứng cho thị trường. Ông Hồng buồn bã nói: “Mấy năm gần đây, dịch ảnh hưởng mạnh nên vụ Tết chỉ cho khoảng 6 tấn trái, tức là giảm hơn 70% sản lượng. Điều này khiến nông dân như tôi coi như mất cái Tết!”.

Vừa nhặt từng trái rụng trong vườn, bà Nguyễn Thu Văn ngụ ấp Long Hưng 2, xã Long Hậu than thở: “Vào mỗi dịp Tết, gia đình tôi trông chờ vào 5.000m2 quýt hồng cho trái để có tiền sắm sửa. Thế nhưng, năm nay, quýt hồng bị chết cây và suy kiệt quá nhiều nên sản lượng thu hoạch rất ít. Cùng với đó, từ đây đến Tết, lượng trái rụng sẽ càng nhiều do sức đề kháng của cây rất yếu”.

Là người có kinh nghiệm lâu năm trong sản xuất quýt cung cấp cho thị trường Tết, ông Nguyễn Văn Sữa ngụ ấp Long Khánh A, xã Long Hậu đang buồn bã vì vườn quýt hồng đối diện với nguy cơ suy kiệt từng ngày. Qua khuyến cáo của nhiều chuyên gia, ông Sữa có can thiệp nhiều biện pháp nhưng vườn quýt của ông vẫn không khá hơn. Ông Sữa cho biết: “Tình trạng này cứ tái diễn thì tôi không biết phải dùng biện pháp nào để cứu vãn. Giờ thì chỉ phó mặc cho trời, có bao nhiêu trái thì bán bấy nhiêu. Tôi và nhiều nông dân trồng quýt hồng rất mong nhận được sự hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương và các ngành liên quan”.

Ông Huỳnh Văn Tồn – Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lai Vung cho biết: “Năm nay, ảnh hưởng của dịch bệnh vàng lá thối rễ, chết xanh trên cây có múi nên sản lượng quýt Tết bị giảm đi nhiều. Toàn huyện dự kiến chỉ cung ứng khoảng 4.000 tấn quýt hồng ra thị trường, giảm rất nhiều so với các năm trước. Thời gian qua, huyện Lai Vung và ngành nông nghiệp tỉnh, các viện trường, chuyên gia đã tích cực hỗ trợ cho nông dân trong việc tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp khôi phục lại diện tích sản xuất. Bên cạnh đó, huyện phối hợp với các ngành liên quan và các nhà khoa học triển khai xây dựng mô hình ứng dụng quy trình khắc phục bệnh vàng lá thối rễ, chết xanh trên cây có múi tại 5 hộ nông dân trên địa bàn huyện... Đến nay, các mô hình thí điểm đã sang năm thứ 3 và cho thấy tính hiệu quả trong việc khắc phục bệnh trên cây quýt hồng”.

Trang Huỳnh

Nhà vườn Văn Chấn lại ‘khóc dở, mếu dở’ trước mùa cam trĩu quả

Nguồn tin: VOV

Từ 2 năm trở lại đây, thị trường cam bị chững lại, cộng thêm ảnh hưởng từ dịch Covid-19 nên giá cam ở Văn Chấn cũng vì thế giảm thấp.

Cam Văn Chấn (Yên Bái) đã có thời điểm được bày bán ở các siêu thị lớn tại Hà Nội và được nhiều thương lái từ các tỉnh, thành đổ xô về thu mua. Thế nhưng, vụ cam năm nay lại vắng lặng hơn thường; giá cam, quýt cũng xuống rất thấp, chỉ từ 5.000 – 7.000 đồng/kg, khiến đời sống của người trồng cam gặp nhiều khó khăn.

HTX sản xuất cam, bưởi Hồng Sơn, huyện Văn Chấn hiện có hơn 20 thành viên tham gia trồng cam, với diện tích khoảng 25ha, sản lượng ước khoảng 500 tấn. Ông Hà Khắc Lâm, Giám đốc HTX cho biết, mấy năm trước cứ vào vụ cam là thương lái đến tìm mua rất nhiều. Cam của HTX được trồng theo tiêu chuẩn VietGAP nên khách hàng ưa chuộng. Nhưng từ năm ngoái đến nay, thị trường cam bị chững lại, cộng thêm ảnh hưởng từ dịch Covid-19 nên giá cam cũng vì thế mà giảm thấp.

Theo khảo sát hiện nay, giá cam đường canh được cắt tại vườn dao động từ 15.000 – 17.000 đồng/kg; cam chanh chỉ 7.000 đồng/kg, thậm chí có thời điểm thương lái đến tận vườn mua chỉ còn khoảng 5.000 đồng/kg. Mỗi chuyến hàng, thương lái chỉ mua khoảng vài ba tấn chứ không mua nhiều. Thế nên, có những vườn cam đã chín mọng, sai lúc lỉu mà không có người mua.

“Cam được bà con trồng theo tiêu chuẩn VietGAP và các tiêu chuẩn khác nhưng hiện nay giá rất rẻ, có những vườn cam bán với giá chỉ từ 7.500 - 8.000 đồng/kg. Với mức giá này để người trồng cam theo chương trình VietGAP sẽ thực sự khó khăn”, ông Lâm cho hay.

Tham gia sản xuất cam, quýt theo tiêu chuẩn VietGAP từ nhiều năm nay, song nhiều hộ trồng cam ở các HTX của huyện Văn Chấn hiện không mấy mặn mà; bởi chi phí cho sản xuất cam VietGAP cao hơn, mất nhiều thời gian chăm sóc hơn, giá bán hiện lại không cao...

Ông Vũ Như In ở thôn Thiên Bữu, xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn cho biết, trước đây đã có những khách hàng truyền thống, nhưng năm nay đã thấy ít đi. “Mọi năm khách hàng đến đặt mua cam từ sớm, nhưng năm nay mình có chào bán họ cũng không mặn mà”, ông In kể.

Việc tiêu thụ các sản phẩm cam, quýt ở Văn Chấn chủ yếu phụ thuộc vào các thương lái nên đầu ra thiếu ổn định. Trong khi đó, cam quý còn có những thua kém về mẫu mã, chất lượng, nên không cạnh tranh được với sản phẩm cùng loại của địa phương khác.

“Cam Hưng Yên, Cam Bắc Giang, Cam Cao Phong ngon hơn ở Văn Chấn. Nhiều người tiêu dùng thích cam canh kích thước nhỏ nhưng cam ở Văn Chấn bà con vẫn chưa biết làm bằng nơi khác, quả to hơn nên giá không được bằng nơi khác”, chị Lê Thị Hoa, thương lái ở tỉnh Vĩnh Phúc cho biết.

Theo ông Nông Ích Chấn, Phó Chủ tịch UBND huyện Văn Chấn, tổng diện tích cam, quýt trên địa bàn huyện hiện gần 2.000ha; tổng sản lượng năm nay đạt khoảng 8.000 tấn quả. Cây cam tập trung chủ yếu ở 9 xã vùng ngoài của huyện, gồm 5 giống chủ lực có thời vụ thu hoạch kéo dài từ đầu tháng 9 đến tháng 3 năm sau như cam chanh, cam đường canh, cam sen, cam V2, cam sành; trong số đó, nhiều diện tích cam, quýt đã được bà con trồng và chăm sóc theo tiêu chuẩn VietGAP...

Nhiều vườn cam ở Văn Chấn chín vàng mà chưa bán được khiến người trồng cam không khỏi lo lắng.

“Cây cam đang được nhiều nơi phát triển nên có lẽ vì thế khiến cam Văn Chấn chịu tác động, ảnh hưởng từ các vùng cam của các địa phương khác. Trong khi đó, việc vận chuyển cam đi lại khó khăn, tác động đến chi phí vận chuyển và từ đó cũng tác động đến vấn đề giá thành”, ông Chấn phân tích.

Từ tháng 12/2016, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã công bố chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể “Cam Văn Chấn”. Thế nhưng làm gì để sản phẩm này có được chỗ đứng vững chắc trên thị trường; để người trồng cam không phải "khóc dở, mếu dở" trước mỗi vụ cam trĩu quả? Đây hiện là câu hỏi không dễ giải đối với chính quyền và người trồng cam nơi đây./.

Đinh Tuấn/VOV-Tây Bắc

Thừa Thiên Huế: Cây trái Nam Đông

Nguồn tin: Báo Thừa Thiên Huế

Từ chỗ chỉ là “cây nhà lá vườn” để trao đổi, làm quà và quẩn quanh nơi quê, nay cây ăn quả của Nam Đông (tỉnh Thừa Thiên Huế) dần tạo được thương hiệu, từng bước trở thành ngành kinh tế chủ lực của địa phương.

Cam Nam Đông được người tiêu dùng trong và ngoài địa phương ưa chuộng

Nam Đông trước đây chủ yếu là đồng bào Cơ Tu với tập quán du canh du cư, sau năm 1975 có thêm người dân đồng bằng lên xây dựng kinh tế mới. Với khát vọng xây dựng cuộc sống mới, một thời gian dài người dân Nam Đông cứ loay hoay với câu chuyện trồng cây gì phù hợp, hiệu quả kinh tế cao.

Cơ duyên

Hiện nay, nhắc tới cây ăn quả tại huyện Nam Đông đầu tiên phải kể đến cây cam. Cam Nam Đông giờ đã có thương hiệu, được nhiều người biết đến. Nhưng ít ai biết rằng, quả cam này vốn không có nguồn gốc từ địa phương mà là giống cây ngoại lai, với tên gọi ban đầu là cam Sài Gòn.

Theo lời giới thiệu của Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) huyện Nguyễn Hữu Ánh, tôi tìm gặp ông Phan Thế Xê, nguyên Trưởng phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Nam Đông - người được mệnh danh là “cha đẻ” của cam Nam Đông.

Ông Xê cho biết, đây vốn là giống cam được người Mỹ đưa vào miền Nam Việt Nam. Sau khi đất nước thống nhất, người dân các nơi đi kinh tế mới, đến khai hoang tại Nam Đông và mang theo cây giống dưới dạng chiết cành, được trồng nhỏ lẻ trong vườn của một số ít hộ dân.

Dứa Kaien có vị ngọt thanh và kích cỡ lớn

Khoảng năm 1990, cam Nam Đông bắt đầu có những bước chuyển đầu tiên khi Sở NN&PTNT chọn thử nghiệm 4ha cam Vân Du Nghệ An tại huyện, nhưng không hợp thổ nhưỡng. Bản thân ông Xê khi đó được giao nhiệm vụ cùng đoàn đi khảo sát một số vườn của hộ gia đình tại xã Hương Lộc, phát hiện giống cam Sài Gòn vẫn còn được bảo tồn tại đây và quyết định nhân giống bằng phương pháp ghép cành với những cây cam chua Nghệ An được chọn lọc kỹ lưỡng.

Đến đầu năm 2002, ông Xê bắt tay vào trồng đại trà giống cam Sài Gòn với diện tích 3ha và thu được kết quả khả quan vào năm 2006. Cũng từ đó, nhiều hộ dân dần nhân rộng, điển hình như gia đình ông Phan Gia Năm ở xã Hương Hữu, ông Đặng Trợ ở xã Thượng Quảng, hàng năm cho thu hoạch hàng trăm triệu đồng từ cam.

Cũng theo chân người dân kinh tế mới, giống chuối tiêu và Thanh Tiên có mặt ở Nam Đông từ khá lâu, nhưng chỉ trồng rải rác trong các hộ gia đình. Đây là hai giống chuối thơm ngon, phù hợp với thổ nhưỡng, sinh trưởng tốt và được người tiêu dùng ưa chuộng. Từ chương trình xây dựng nông thôn mới, Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp (DVNN) huyện Nam Đông đã chọn lọc các cây chuối con đạt chuẩn tại những vườn chuối chất lượng cao để nhân giống đại trà hỗ trợ bà con phát triển kinh tế vườn.

Với dứa Kaien, đây cũng là giống ngoại lai “thâm nhập” vào Nam Đông từ năm 1996. Theo lời kể của ông Trần Công Thành, Giám đốc Trung tâm DVNN huyện Nam Đông, khi đó có một doanh nghiệp dự định xây dựng nhà máy chế biến dứa trên địa bàn tỉnh nên triển khai một số vùng nguyên liệu. Đáng tiếc dự án không thực hiện, dứa Kaien dần mai một.

Ông Lê Minh Hòa (thôn Ta - rung, xã Hương Sơn), một trong những hộ có diện tích trồng dứa lớn của xã với khoảng 1.000 gốc cho biết, giống dứa Kaien trước đây đã xuất hiện tại xã, nhưng không phổ biến và chỉ còn một vài người dân địa phương lưu giữ. Năm 2018, ông Hòa bỏ công tìm mua giống dứa Kaien chính gốc từ bà con địa phương và “đánh liều” trồng xen canh trên diện tích cam của gia đình.

Theo ông Hòa, dứa Kaien trồng mất chừng 1,5 năm mới bắt đầu cho quả. Tháng 5/2020, vườn dứa của gia đình lần đầu cho thu hoạch khoảng 700 quả với trọng lượng trung bình 3,5 kg, giá bán thị trường từ 50 - 60 nghìn đồng/quả.

Nâng tầm đặc sản

Những năm gần đây, với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, người nông dân Nam Đông có cơ hội xác định lại các loại cây hiện hữu và “Gạn đục khơi trong”, tìm ra những cây trồng chủ lực để phát triển lâu dài.

Ông Nguyễn Hữu Ánh, Trưởng phòng NN&PTNT huyện thông tin, hiện huyện Nam Đông xác định 3 loại cây chủ lực trong phát triển kinh tế vườn gồm: Cam Nam Đông, chuối đặc sản và dứa Kaien. Đến nay, toàn huyện Nam Đông đã phát triển được gần 220 ha cam, 199 ha chuối đặc sản và khoảng 50 ha dứa Kaien. Vừa qua, hai sản phẩm là chuối đặc sản và cam Nam Đông của Hợp tác xã nông nghiệp Hương Hòa đã tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) và đang trong quá trình chuyển lên hội đồng thẩm định của tỉnh.

Anh Lê Bá Hùng, người dân tại TP. Huế cho biết, gia đình có người thân ở Nam Đông nên thường được biếu tặng nhiều loại cây ăn quả. Trong đó, ấn tượng nhất là cam và dứa, 2 lại quả này có chất lượng không thua kém các vùng đặc sản nổi tiếng trong nước.

Ông Lê Thanh Hồ, Phó Chủ tịch UBND huyện Nam Đông thông tin, một trong những đột phá của Nghị quyết Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2020-2025 là đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp; phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, khu gia trại, trang trại tập trung.

Theo đó, huyện tập trung phát triển các cây trồng có giá trị, hiệu quả, an toàn (trong đó có các loại cây ăn quả); tiến hành xây dựng các chuỗi giá trị sản phẩm nông sản đặc sản Nam Đông. Đồng thời, tích cực thu hút các nguồn lực đầu tư vào sản xuất nông nghiệp theo hướng liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm giữa hộ nông dân với doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ trang trại. Xây dựng và triển khai kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với lợi thế và nhu cầu của thị trường, phát triển các vùng thâm canh, chuyên canh nông nghiệp quy mô lớn.

“Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao, các vườn cây ăn quả của Nam Đông vài năm trở lại đây còn là địa điểm thu hút du khách tham quan và trải nghiệm. Nếu tận dụng được lợi thế trên, đây sẽ là “đòn bẩy” góp phần phát triển du lịch của địa phương”, ông Lê Thanh Hồ thông tin.

Bài, ảnh: Minh Nguyên

Ninh Thuận: Phát triển chuỗi liên kết măng tây xanh

Nguồn tin: Báo Ninh Thuận

Măng tây xanh (MTX) là 1 trong 12 sản phẩm đặc thù, có lợi thế cạnh tranh của tỉnh Ninh Thuận, được bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận (NHCH) năm 2018 đã góp phần đem lại thay đổi về thị trường, hình thức tổ chức sản xuất, diện tích canh tác và sản lượng tiêu thụ ngày càng được mở rộng. Đơn vị chủ sở hữu NHCN là Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã chọn Công ty TNHH Linh Đan Ninh Thuận áp dụng thí điểm mô hình liên kết phát triển sản phẩm mang NHCN theo chuỗi giá trị.

Thực hiện mô hình liên kết MTX, doanh nghiệp (DN) được hỗ trợ xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu cho sản phẩm, xúc tiến chương trình marketing. Với những hoạt động thiết thực, chỉ sau thời gian ngắn thực hiện mô hình, danh tiếng và chất lượng sản phẩm được nâng cao, khuyến khích nông dân mở rộng diện tích trồng từ gần 160 ha vào năm 2019 tăng lên khoảng 300 ha hiện nay. Kết quả mang lại rất khả quan, hộ trồng 1 ha sau khi trừ chí phí thu lãi từ 200 đến 300 triệu đồng/năm, đặc biệt có hộ thu lãi 600 triệu đồng/năm. Ngành chức năng, các địa phương có nhiều chương trình hoạt động giúp nông dân chuyển đổi canh tác như hỗ trợ đầu tư máy móc, nguyên vật liệu, cây giống. DN, cơ sở sản xuất hỗ trợ nông dân trong chuyển giao kỹ thuật vào sản xuất, đưa các sản phẩm MTX vào một số siêu thị, cơ sở bán lẻ ở Thủ đô Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và xuất khẩu.

Theo ông Phạm Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, tham gia vào chuỗi giá trị MTX đưa lại lợi ích cho các bên. Đối với cá nhân, DN, tiết kiệm được khoản chi phí liên quan đến vận chuyển và lưu kho; sản phẩm cung ứng cho thị trường có giá trị cao hơn so với phân phối thông thường; đồng thời, có thông tin cần thiết để hoàn thiện chuỗi liên kết sản phẩm trong tương lai cũng như việc áp dụng chiến lược marketing nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh. Đối với người tiêu dùng, sử dụng các sản phẩm của DN có chuỗi liên kết biết được những thông tin mà mình dự định mua, tránh sử dụng nhầm những sản phẩm kém chất lượng.

Tại Hội thảo về mô hình liên kết phát triển sản phẩm mang NHCN “Măng tây Ninh Thuận” theo chuỗi giá trị do Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức vừa qua, PGS.TS. Lê Thị Nam Giang, cố vấn cao cấp Công ty TNHH Sở hữu trí tuệ AGL cho rằng: Ninh Thuận có những thuận lợi khi thực hiện chuỗi liên kết MTX nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc canh tác. Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành các chính sách ưu đãi thu hút DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, cũng có những khó khăn nhất định liên quan đến chất lượng sản phẩm, cũng như sự kiểm tra, giám sát của các bên tham gia vào chuỗi liên kết MTX. Đối với người dân, đa số các hộ sản xuất nhỏ, lẻ, manh mún. Trong khi đó, mặc dù DN đóng vai trò chủ đạo nhưng chỉ quan tâm một phần nhỏ trong chuỗi liên kết và việc trao đổi thông tin chỉ mới dừng lại ở khâu thu mua, dẫn đến hạn chế khi xâm nhập, phát triển thị trường lớn. Sản phẩm MTX chủ yếu chỉ dừng ở mức xuất thô, nên giá trị chưa cao.

Cũng theo PGS.TS. Lê Thị Nam Giang, để phát triển chuỗi liên kết MTX, DN phải tăng cường hơn nữa các chương trình đào tạo, hướng dẫn người dân khi canh tác MTX đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Mở rộng sản xuất MTX thông qua việc tìm hiểu nhu cầu của khách hàng tại các thị trường lớn; hoàn thiện trang mạng xã hội mang chiến lược nhằm đảm bảo tính truyền thông và khả năng nhận diện thương hiệu của MTX. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về khả năng phát triển của sản phẩm trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế; tập huấn nâng cao trình độ cho cán bộ khi giao nhiệm vụ quản lý và phát triển chuỗi liên kết là điều cần được quan tâm, chú trọng.

Thúc đẩy chuỗi liên kết trong sản xuất nông nghiệp được xem là giải pháp quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm một cách bền vững. Trong bối cảnh nông nghiệp của tỉnh đang có hướng phát triển mạnh mẽ, việc cơ cấu lại nông nghiệp gắn với phát triển chuỗi giá trị MTX là cần thiết.

Anh Tùng

Mô hình cánh đồng lớn: Nâng cao giá trị sản xuất cho nông dân

Nguồn tin: Báo Bạc Liêu

Thực hiện chuỗi liên kết sản xuất và bao tiêu nông sản cho nông dân, ngành chức năng đã xây dựng các cánh đồng lớn (CĐL) và liên kết nông dân lại trong sản xuất. Các tổ hợp tác (THT), hợp tác xã (HTX) đứng ra ký kết với các công ty, doanh nghiệp cung ứng đầu vào và bao tiêu nông sản đầu ra cho nông dân. Đây là mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao đã và đang được ngành chức năng và các địa phương khuyến khích nhân rộng trong thời gian tới.

Nông dân tham quan mô hình cánh đồng lớn ở TX. Giá Rai.

NHỮNG LỢI ÍCH KHI THAM GIA CÁNH ĐỒNG LỚN

Năm 2020, Bạc Liêu đã xây dựng thêm 10 cánh đồng lớn, nâng tổng số toàn tỉnh lên 38 cánh đồng, với tổng diện tích 27.818ha. Nhằm tạo điều kiện và khuyến khích nông dân phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, Sở NN&PTNT đã phối hợp với các địa phương tuyên truyền, vận động nông dân liên kết sản xuất, thành lập các THT, HTX sản xuất theo mô hình chuỗi liên kết giá trị, xây dựng CĐL, ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất. Nông dân đồng loạt xuống giống, sản xuất từ 1 - 2 giống lúa chất lượng cao, tạo vùng nguyên liệu đủ lớn đáp ứng yêu cầu thị trường. Từ đó, tạo thuận lợi cho ngành Nông nghiệp, các địa phương kêu gọi các công ty, doanh nghiệp ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho nông dân, đảm bảo lợi ích thiết thực giữa các bên tham gia liên kết.

Khi tham gia CĐL, các thành viên, xã viên THT, HTX sẽ được nhiều lợi ích như: cần sản xuất giống gì thì công ty sẽ cung cấp giống đó; chủ động được nguồn nước, bơm tát tập trung, ít tốn công và thời gian. Đồng thời, được bao tiêu sản phẩm đầu vào, đầu ra và giá thành cao hơn giá thị trường (tùy thuộc vào giống lúa).

Việc xây dựng CĐL liên kết sản xuất bước đầu đạt những kết quả tích cực, giúp nông dân nâng cao nhận thức trong liên kết làm ăn, thay đổi tập quán canh tác, đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao thu nhập…

Cơ giới hóa trong thu hoạch lúa trên cánh đồng lớn.

ƯU TIÊN SẢN XUẤT LÚA CHẤT LƯỢNG CAO

Từ đầu năm đến nay, các công ty, doanh nghiệp, HTX thực hiện liên kết sản xuất lúa trên diện tích hơn 76.000ha, sản lượng bao tiêu 478.000 tấn. Việc thực hiện liên kết nhằm làm thay đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ của nông dân, tạo ra sản phẩm đủ lớn để thuận tiện cho các doanh nghiệp thu mua. Nông dân Nguyễn Văn Dũng (xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi) phấn khởi cho biết: “Gia đình tôi có 3ha tham gia mô hình CĐL và mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Các doanh nghiệp cung ứng lúa giống, vật tư đầu vào và nông dân trong CĐL xuống giống đồng loạt, chủ động về nguồn nước, thu hoạch tập trung. Sau khi thu hoạch, các công ty, doanh nghiệp bao tiêu toàn bộ sản lượng và giá thu mua cao hơn nên lợi nhuận tăng hơn so với các ruộng lúa sản xuất nằm ngoài CĐL”. Tiêu biểu trong hình thức liên kết sản xuất và bao tiêu lúa cho nông dân là HTX Vĩnh Cường, Công ty Cổ phần vật tư nông nghiệp Bạc Liêu, Công ty TNHH MTV Lương thực Vĩnh Lộc, Công ty Lương thực Bạc Liêu, Công ty Đất Phù Sa, Công ty An Gia Nông, Trung tâm Giống nông nghiệp tỉnh...

Nông dân huyện Vĩnh Lợi vận chuyển lúa để các doanh nghiệp bao tiêu. Ảnh: M.Đ

Hiện nay, các CĐL ở các huyện Vĩnh Lợi, Phước Long và Hồng Dân đều gắn liền với ô đê bao khép kín, các trạm bơm điện. Trong khi đó, ngành chức năng và địa phương tiếp tục làm cầu nối để các công ty, doanh nghiệp ký kết sản xuất, cung cấp giống và bao tiêu đầu ra cho các THT, HTX trong CĐL.

Ông Lưu Hoàng Ly, Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết: Mô hình CĐL đã mang lại nhiều lợi ích cho nông dân, song phát triển còn khá chậm và chưa tạo được những đột phá lớn trong sản xuất, nâng cao giá trị của hạt lúa. Thời gian tới, ngành Nông nghiệp sẽ tiếp tục đầu tư xây dựng thêm các CĐL gắn với các ô đê bao khép kín. Đồng thời, ưu tiên sản xuất các giống lúa chất lượng cao, được thị trường ưa chuộng và thích ứng với biến đổi khí hậu như: Nàng hoa 9, Đài thơm 8, RVT, OM 5451, OM 7347, hay các giống lúa thích ứng với hạn mặn như ST 24, ST 25…

MINH ĐẠT

Giúp người dân phát triển cây mắc ca hiệu quả

Nguồn tin: Báo Đắk Nông

Sau gần 10 năm phát triển cây mắc ca, nhiều nhà vườn tỏ ra thất vọng vì cây không cho trái, hiệu quả kinh tế chưa cao. Trước thực tế này, ngành Nông nghiệp tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp giúp nông dân phát triển cây mắc ca đúng hướng.

Theo Trung tâm Khuyến Nông tỉnh Đắk Nông, người trồng mắc ca thiếu thông tin về kỹ thuật trồng, chăm sóc, giá cả thị trường và các chính sách thu hút phát triển cây mắc ca. Do đó, thời gian qua, việc trồng cây mắc ca đã bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa phản ánh đúng giá trị của loại cây này có thể mang lại.

Mắc ca là loại cây trồng mới, khá phù hợp với một số vùng đất trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. Tuy nhiên, đến nay, chưa có quy trình chuẩn về kỹ thuật trồng và chăm sóc phù hợp loại cây này. Các hộ trồng mắc ca thường gặp khó khăn trong việc áp dụng kỹ thuật trong chăm sóc, phòng bệnh cho vườn cây.

Ông Ninh Hồng Giang, thôn 6, xã Quảng Tâm (Tuy Đức) cho hay, vào thời điểm tháng 10-11 hằng năm, cường độ gió khu vực Tuy Đức rất mạnh, rễ cây mắc ca lại ăn nông, nên dễ bị đổ ngã.

Cũng thời điểm này, cây mắc ca bắt đầu ra hoa và bị gió mạnh đánh tơi tả, nên hoa không đậu được. "Năm nào cây cũng ra hoa nhiều, nhưng không đậu quả được là do vậy”, ông Giang chia sẻ.

Theo ông Phạm Tấn Minh, cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông tỉnh, ngành Khuyến nông đang tiếp tục tham mưu quy hoạch, nghiên cứu, khảo nghiệm ở từng vùng trồng mắc ca cụ thể.

Trên địa bàn huyện Tuy Đức, nơi được đánh giá là có khí hậu, thổ nhưỡng khá phù hợp với cây mắc ca, nhưng không phải xã nào cũng trồng được. Thậm chí trong cùng một xã, nhưng cũng có nơi, cây mắc ca phát triển tốt, nơi khác lại rất khó ra hoa, đậu trái, năng suất lại thấp.

Nguyên nhân là do điều kiện lập địa, hướng gió của từng vùng khác nhau. Chẳng hạn cùng trong một vùng sản xuất của thôn 6, xã Quảng Tâm, nhưng mắc ca trồng ở sườn đông thì khả năng phát triển kém, tỷ lệ đậu quả thấp. Còn trồng ở sườn Tây lại cho năng suất, hiệu quả cao hơn.

Cán bộ kỹ thuật hướng dẫn người dân biện pháp tỉa cành, tạo tán cho cây mắc ca giai đoạn kiến thiết

Cũng theo ông Minh, tình trạng này là do giai đoạn mắc ca nở hoa gặp gió mùa đông bắc thổi mạnh, kết hợp với sương mù, sương muối, làm hoa rụng, giảm tỷ lệ đậu quả.

Cây mắc ca ra hoa tập trung vào tháng đầu năm dương lịch. Đây là thời điểm bà con tưới nước cho cà phê. Do đó, những diện tích mắc ca trồng xen với cà phê sẽ bị ảnh hưởng đến sinh lý, làm cho hoa rụng nhiều.

Cây mắc ca sinh trưởng tốt nhất và cho năng suất ổn định ở mức nhiệt từ 18 – 21 độ C. Thế nhưng, hầu hết các vùng trong tỉnh, thời điểm mắc ca ra hoa, đậu quả lại có nhiệt độ phổ biến trên 23 độ C. Mức nhiệt này làm cho cây ra hoa đậu quả kém.

Mặc khác, do kỹ thuật chăm sóc như cắt cành, tạo hình, chế độ chăm sóc chưa đúng kỹ thuật cũng ảnh hưởng đến quá trình ra hoa đậu quả của mắc ca. Nhiều thời điểm giống mắc ca khan hiếm, người dân sử dụng nguồn giống không bảo đảm, dẫn đến vườn mắc ca cho chất lượng không đồng đều, có cây đã 7 năm trồng bằng nhưng vẫn không ra hoa…

Ông Minh cho biết, để giúp cây mắc ca mang lại hiệu quả, trước khi trồng, bà con nông dân cần tham khảo ý kiến tư vấn của cán bộ kỹ thuật nông nghiệp. Bà con nên tìm hiểu kỹ hơn về những yêu cầu sinh thái của vùng đất đang canh tác có phù hợp với mắc ca hay không.

Trước khi trồng mắc ca, bà con cần chú ý chọn đất phù hợp, tránh hướng gió mạnh và nên chọn những giống mắc ca chịu được gió như: 741, A4, A16…

Thực tế, mắc ca không phải là loại cây dễ trồng như thông tin lâu nay. Bởi loại cây này chỉ phát triển ở những vùng cao tương đối từ 300 - 1.200 m so với mực nước biển, kết hợp với địa hình bằng phẳng, độ dốc không quá lớn.

Do đó, ở khu vực bán sơn địa, đất đồi dốc như Tuy Đức, Đắk Song, Đắk R’lấp…, người dân cần nắm bắt kỹ những yếu tố về khí hậu, thời tiết, điều kiện thổ nhưỡng... để đưa ra quyết định có nên trồng cây mắc ca hay không.

Bài, ảnh: Thành Tâm

Năng suất lúa của Hậu Giang đứng thứ 2 vùng ĐBSCL

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Tổng cục Thống kê vừa công bố năng suất lúa bình quân năm 2020 tại 13 tỉnh vùng ĐBSCL. Theo đó, tỉnh Hậu Giang đang đứng vị trí thứ 2 của vùng khi đạt năng suất lúa bình quân cả năm là 6,37 tấn/ha, chỉ xếp sau tỉnh Đồng Tháp là 6,39 tấn/ha và cao hơn so với một số tỉnh lân cận như: Vĩnh Long (5,99 tấn/ha), Sóc Trăng (6,06 tấn/ha), Cần Thơ (6,01 tấn/ha), Kiên Giang (5,85 tấn/ha) và mặt bằng chung của khu vực ĐBSCL là 5,95 tấn/ha.

Nhờ áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp trong sản xuất nên năng suất lúa của tỉnh đang đứng thứ 2 vùng ĐBSCL.

Để có được kết quả trên thì ngoài việc tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi như hệ thống sông, rạch chằng chịt cung cấp nguồn nước ngọt và lượng phù sa dồi dào thì thời gian qua ngành nông nghiệp tỉnh còn triển khai nhiều chương trình, dự án để đẩy mạnh việc chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người nông dân, qua đây giúp bà con canh tác lúa hiệu quả. Ngoài năng suất cao thì trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp tỉnh còn khuyến cáo và được người dân chọn, sử dụng các giống lúa chất lượng cao trong gieo sạ, từ đó góp phần tăng giá trị và ổn định đầu ra. Các giống lúa đang được nông dân trong tỉnh sử dụng phổ biến gồm: Jasmine 85, nhóm giống ST, Đài thơm 8, RVT, OM 5451, OM 6976, OM 18, OM 4900…

Tin, ảnh: TUẤN PHÁT

Những nông dân thời đại 4.0

Nguồn tin:  Báo Nam Định

Trong nắng vàng ấm áp của một buổi chiều cuối năm, chúng tôi đến thăm trang trại công nghệ cao của anh Mai Ngọc Chấn, xóm Xuân Dục, xã Xuân Ninh (Xuân Trường, tỉnh Nam Định). Những cành hoa ly, hoa hồng rực rỡ nhiều màu sắc như đang vươn mình chào đón xuân mới. Sau khi tìm hiểu, học tập và tích lũy kinh nghiệm từ các mô hình nông nghiệp tiên tiến trong Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Bình Thuận, Đồng Tháp… năm 2016, khi mới 24 tuổi, nông dân “9x” Mai Ngọc Chấn đã mạnh dạn vay vốn, thuê đất, xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao rộng 1.000m2 có hệ thống quạt mát, camera tự động, trồng các loại rau, quả theo quy trình sản xuất được giám sát chặt chẽ. Nhờ tư duy mới và mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, đến nay, anh đã sở hữu trang trại quy mô 5.0002 nhà màng trồng dưa lưới, dưa chuột và các loại hoa theo công nghệ 4.0, bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cao… Trong đó, toàn bộ 15 nghìn gốc dưa lưới, dưa chuột được trồng trong bầu, sử dụng 100% giá thể trồng là xơ dừa và được cung cấp nước, phân bón qua hệ thống tưới nhỏ giọt điều khiển bằng bộ hẹn giờ tự động. Hệ thống được đặt chế độ tự động tưới 10 lần/ngày với thời gian mỗi lần tưới từ 3-4 phút. Nước và phân bón từ bể tập trung được bơm tới từng gốc cây qua đầu béc tưới với lượng chính xác đến từng giọt vừa đủ cho cây, vừa tiết kiệm nước, giúp cho cây sinh trưởng, phát triển nhanh, góp phần tăng năng suất, tạo ra những sản phẩm “siêu sạch”, có mẫu mã đẹp hơn. Cách tưới này không tạo thành dòng giúp tránh hiện tượng xói mòn đất. Các công thức luân canh, xen canh “Đầu năm dưa chuột - Giữa năm dưa lưới - Cuối năm trồng hoa” được áp dụng thực hiện một cách bài bản cùng với ứng dụng công nghệ đã giúp “vườn cây không đất” của anh Chấn mỗi năm lãi hàng trăm triệu đồng.

Trình diễn mô hình phun thuốc bảo vệ thực vật bằng máy bay không người lái tại xã Trung Đông (Trực Ninh).

Bắt nhịp kịp thời với tiến bộ khoa học kỹ thuật, anh Ninh Văn Thuyên, xóm 11, xã Trực Tuấn (Trực Ninh) đã đầu tư thiết bị bay không người lái để phun thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) cho 1 mẫu ruộng nhà mình. Anh Thuyên cho biết: Các thông số lưu lượng, tốc độ phun, tọa độ… được lập trình bằng thuật toán thông minh và tự động lưu, người sử dụng chỉ cần bấm nút khởi động và lập trình bản đồ, diện tích phun trên điện thoại thông minh, sau đó chỉ việc theo dõi máy bay qua điện thoại di động thông minh, không cần phải trực tiếp điều khiển. Với dung tích bình chứa thuốc lên tới 10 lít, một lần sử dụng phun thuốc cho hơn 1ha cây trồng chỉ trong 7-10 phút tính cả thời gian pha thuốc, nhanh hơn 50 lần so với các phương pháp phun truyền thống và tiết kiệm khoảng 1 triệu đồng/ha thuê nhân công phun thuốc. Ngoài ra, máy bay còn sử dụng hệ thống vòi phun ly tâm kết hợp lực gió đẩy xuống của thiết bị chắt nhỏ hạt dung dịch ở dạng micromet, phun chính xác tới từng centimet giúp thuốc BVTV bám đều lên 2 mặt lá giúp cây hấp thụ tốt, thuốc không kết thành hạt rơi xuống đất gây hại môi trường. “Kể từ khi áp dụng phun thuốc bằng máy bay không người lái, tôi nhận thấy lợi ích rõ rệt như giúp người sản xuất tiết kiệm và chủ động về thời gian, giảm chi phí, tăng chất lượng nông sản, không còn nỗi lo phụ thuộc vào nhân công mỗi khi có dịch bệnh bùng phát. Ngoài ra, sử dụng công nghệ này không gây độc hại cho người sản xuất” - anh Thuyên cho biết thêm. Thành công từ mô hình của gia đình đã thuyết phục, hấp dẫn bà con. Từ đó, anh Thuyên còn phát triển kinh doanh dịch vụ phun thuốc BVTV thuê cho bà con trong huyện. Hiệu quả thấy rõ, “tiếng lành đồn xa” đến nay dịch vụ phun thuốc BVTV bằng máy bay của anh Thuyên rất “đắt” khách. Vừa có thu nhập, thỏa mãn được niềm đam mê công nghệ, anh Thuyên còn nhận được sự quý mến của bà con khi giúp họ giải quyết được khâu khó khăn, độc hại nhất trong canh tác nông nghiệp này.

Nổi tiếng với mô hình nuôi lợn bằng thảo dược, nghe nhạc trữ tình, hiện nay ông Nguyễn Văn Thục, xóm 4, xã Trực Thái (Trực Ninh) còn là một trong những người tiên phong của tỉnh trong việc sử dụng tem điện tử thông minh (QR code) truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm của mình là thịt lợn thảo dược Hiền Thục, xúc xích Hiền Thục và ruốc Hiền Thục. Ông Thục cho biết: Thời gian qua, dịch tả lợn châu Phi hoành hành, tin tức về tình trạng bán tống bán tháo lợn bệnh khiến người tiêu dùng vô cùng hoang mang, bối rối khi không thể phân biệt được đâu là thịt lợn khỏe và thịt lợn bệnh trên thị trường. Bên cạnh đó, tình trạng thịt lợn không rõ nguồn gốc được bán tràn lan trên thị trường, thậm chí nhiều doanh nghiệp cung cấp thịt lợn chân chính còn bị các đối tượng xấu làm giả thương hiệu gây thiệt hại đến uy tín, doanh thu. “Từ năm 2018, tôi đã áp dụng tem điện tử gắn mã QR cho từng sản phẩm để thể hiện sự thiện chí, ý thức minh bạch đảm bảo về chất lượng hàng hóa của mình. Người tiêu dùng có thể sử dụng điện thoại thông minh để truy xuất nguồn gốc sản phẩm qua mã QR để tra các thông tin của nhà sản xuất như: quy trình, địa chỉ, ngày sản xuất, hạn sử dụng sản phẩm… Việc dán tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm còn trở thành kênh cung cấp thông tin giữa đơn vị sản xuất và người tiêu dùng, giúp cơ quan quản lý Nhà nước kiểm soát chất lượng thực phẩm sau khi ra thị trường, giúp người tiêu dùng nâng cao ý thức tiêu dùng, sử dụng sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đấu tranh với hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Đồng thời đây cũng là hình thức quảng cáo, xây dựng thương hiệu thông minh cho doanh nghiệp” - ông Thục chia sẻ. Việc dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc sản phẩm của ông Nguyễn Văn Thục còn khẳng định ý thức, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Trong một diễn đàn liên quan đến phát triển ngành Nông nghiệp, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường từng nhận định: Các tiến bộ khoa học kỹ thuật của cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ mở ra triển vọng phát triển kinh tế cho Việt Nam, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp. Đây là cơ hội rất tốt để nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam vươn lên trong quá trình công nghiệp hóa… Những năm qua, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp đầu tư xây dựng vùng nông nghiệp công nghệ cao. Trong khi đó, những người nông dân cũng đang dần thay đổi cách thức, tư duy sản xuất nông nghiệp, tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để trở thành những “nông dân 4.0”, xây dựng một nền nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu… Nếu như trước đây, các mô hình sản xuất rau, hoa, cây cảnh trong nhà màng, nhà kính, nhà lưới ứng dụng công nghệ cao còn ít thì nay ở hầu hết các huyện, thành phố đều có những mô hình hiệu quả kinh tế cao, sản phẩm đảm bảo chất lượng xuất khẩu. Nhiều trang trại chăn nuôi áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật như chuồng nuôi khép kín, lắp đặt máng ăn, núm uống tự động, có hệ thống điều hòa nhiệt độ làm mát về mùa hè, sưởi ấm về mùa đông, hệ thống quạt thông gió… áp dụng các mô hình xử lý chất thải chăn nuôi như “nuôi lợn tiết kiệm nước”, “sử dụng công nghệ men vi sinh”, “nuôi giun quế xử lý chất thải”, “máy tách phân”… bảo đảm quy trình chăn nuôi an toàn dịch bệnh, không gây ô nhiễm môi trường. Trong nuôi trồng thủy sản, các mô hình ứng dụng công nghệ 4.0 cũng được phổ biến rộng rãi hơn như: mô hình kiểm tra môi trường, nhiệt độ được tích hợp trên điện thoại di động thông minh để giám sát ao nuôi và điều khiển từ xa trong nuôi tôm ở Hải Hậu; mô hình nuôi tôm công nghệ cao trong nhà lưới, nhà kính ở Giao Thủy, Hải Hậu; ứng dụng công nghệ vi sinh biofloc trong nuôi tôm ở Nghĩa Hưng… Thời gian qua, Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã tư vấn, hướng dẫn, hỗ trợ cho 87 cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến ứng dụng tem điện tử truy xuất nguồn gốc với 137 dòng sản phẩm phục vụ quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc thực phẩm và chống gian lận thương mại điện tử. Hiện nay, ngành Nông nghiệp đang tiếp tục xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, thúc đẩy phát triển thêm nhiều mô hình mới và hướng tới xuất khẩu nông sản công nghệ cao. Tập trung triển khai rộng rãi các chương trình quản lý chất lượng sản phẩm tiên tiến VietGAP, HACCP, GlobalGAP, GMP… góp phần xây dựng nền nông nghiệp an toàn, bền vững, giá trị gia tăng.

Những mô hình “Vườn rau không đất”, “Trang trại tự động”, “Trồng hoa công nghệ cao”, “Nuôi tôm công nghệ”… là những thành công bước đầu của nông dân Nam Định khi đưa công nghệ vào quy trình sản xuất, kinh doanh, chế biến nông sản hàng hóa. Đây cũng là tiền đề căn bản để nông dân trong tỉnh, từng bước làm chủ công nghệ, khoa học kỹ thuật và ứng dụng vào đời sống, sản xuất hàng ngày để hướng tới nền nông nghiệp chuyên nghiệp, hiện đại hơn trong tương lai./.

Bài và ảnh: Ngọc Ánh

Dự án VnSAT góp phần vào tái cơ cấu nông nghiệp địa phương

Nguồn tin:  Báo Sóc Trăng

Dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững (Dự án VnSAT) tỉnh Sóc Trăng triển khai thực hiện từ năm 2016 tại 30 xã, thuộc 6 huyện, gồm: Kế Sách, Long Phú, Mỹ Tú, Châu Thành, Thạnh Trị và Mỹ Xuyên. Theo đó, mục tiêu của dự án là góp phần thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh, giúp tăng thu nhập cho nông dân sản xuất lúa gạo, tăng khả năng cạnh tranh của ngành hàng lúa gạo, giảm tác động tiêu cực tới môi trường đối với sản xuất lúa.

Qua 5 năm triển khai thực hiện dự án tại các xã đã giúp cho hàng ngàn nông dân trên địa bàn tỉnh thay đổi tập quán sản xuất từ truyền thống sang áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, góp phần tăng thu nhập trên cùng diện tích đất, đặc biệt là tập hợp nông dân thành lập các hợp tác xã (HTX), sản xuất ra lượng lúa lớn cùng chất lượng, thuận tiện liên kết tiêu thụ…

Công trình cầu, đường giao thông dẫn đến cánh đồng lúa HTX giúp nông dân trong và ngoài vùng dự án đi lại thuận tiện. Ảnh: THÚY LIỄU

Lợi ích thiết thực cho địa phương…

Huyện Châu Thành là một trong những địa phương nằm trong vùng Dự án VnSAT triển khai thực hiện và thông qua dự án hỗ trợ đã có 3 nhà kho được hình thành tại các HTX. Theo đó, Dự án VnSAT triển khai trên địa bàn 6 xã, thị trấn gồm: Hồ Đắc Kiện, Phú Tâm, Phú Tân, An Hiệp, Thuận Hòa và thị trấn Châu Thành, với tổng diện tích 6.803ha, có 5.547 hộ nông dân canh tác. Để nông dân nắm vững các kỹ thuật sản xuất lúa, giảm chi phí, tăng lợi nhuận, khi mới bắt đầu triển khai tại các địa phương, dự án đã mở các lớp tập huấn “3 giảm 3 tăng” (3G3T), “1 phải 5 giảm” (1P5G). Đồng thời, nhằm tạo giống lúa chất lượng cao cung cấp cho hộ dân, dự án đã hướng dẫn nông dân việc nhân giống lúa kết hợp xây dựng mô hình sản xuất lúa theo chương trình, xây dựng các mô hình như: mô hình luân canh cây màu trên đất lúa, mô hình tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân hữu cơ… Bên cạnh đó, để tạo đầu ra ổn định cho hạt lúa sau thu hoạch, dự án hỗ trợ HTX trong khâu liên kết bao tiêu lúa.

Phó trưởng Phòng NN-PTNT huyện Châu Thành Nguyễn Công Định chia sẻ: “Dự án VnSAT đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nông dân vùng dự án. Theo thống kê, có 100% hộ trồng lúa trong vùng dự án của huyện (5.547 hộ, 6.803ha) được đào tạo tập huấn 3G3T và 1P5G, trong đó có khoảng 80% hộ áp dụng 3G3T (trong số này có 50% hộ áp dụng 1P5G). Đồng thời, dự án hỗ trợ địa phương củng cố và thành lập mới trong vùng dự án 7 HTX, tổ hợp tác (THT). Thông qua việc áp dụng kỹ thuật sản xuất lúa do dự án hướng dẫn, giảm tác động tiêu cực môi trường mùa vụ sản xuất bởi giảm lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác lúa…”.

Phó trưởng Phòng NN-PTNT huyện Thạnh Trị Trần Trang Nhã thông tin: “Dự án VnSAT trên địa bàn huyện được triển khai thực hiện tại 5 xã: Lâm Kiết, Lâm Tân, Tuân Tức, Thạnh Trị, Thạnh Tân, trong đó có 3 HTX được dự án đầu tư xây dựng nhà kho, đường giao thông, trạm bơm, cống. Các công trình trên đã hỗ trợ HTX và bà con vùng dự án có nơi dự trữ lúa sau thu hoạch, chờ giá tốt để bán, kèm theo đó con đường giao thông tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại, vận chuyển hàng hóa… Song song đó, dự án còn tổ chức hàng chục lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý HTX, THT và tập huấn về 3G3T, 1P5G, luân canh cây trồng, tận dụng phụ phẩm trong nông nghiệp, nhằm giúp cho nông dân trong vùng dự án tiếp cận được với các tiến bộ khoa học mới, góp phần tăng thu nhập và đạt mục tiêu của dự án”.

Lợi ích công trình Dự án VnSAT đem đến cho HTX

Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Long Phú Lâm Văn Vũ cho biết: “Dự án VnSAT triển khai tại huyện trong những năm qua không chỉ giúp cho nông dân canh tác lúa hiệu quả hơn mà còn góp phần giúp huyện cơ cấu giống lúa tại các xã vùng dự án thuận tiện hơn và tập hợp nông dân liên kết sản xuất tạo ra sản lượng lúa lớn cùng chất lượng. Cùng với đó huyện có 1 HTX được dự án đầu tư xây dựng nhà kho, cầu giao thông và một số trang thiết bị làm dịch vụ trên đồng ruộng đem lại lợi nhuận tốt cho HTX, đơn cử như nhà kho sẽ giúp HTX triển khai các dịch vụ kinh doanh mua bán vật tư phân bón, lúa giống, tạm trữ lúa và tận dụng làm trụ sở làm việc. Lò sấy tạo điều kiện cho HTX chủ động trong liên kết sản xuất và bao tiêu lúa với các thành viên trong và ngoài HTX.

Lãnh đạo Phòng NN-PTNT huyện Châu Thành và Thạnh Trị mong muốn Dự án VnSAT tiếp tục triển khai thực hiện trong những năm tiếp theo tại các địa phương trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, để phát huy thành quả dự án đem đến cho nông dân, địa phương sẽ tiếp tục tuyên truyền, vận động nông dân tăng cường các biện pháp ứng dụng chương trình 3G3T, 1P5G. Song song đó, hỗ trợ các HTX, THT, nông dân trong và ngoài vùng dự án phát triển mô hình lúa đặc sản, mô hình lúa an toàn, mô hình sản xuất lúa theo tiêu chuẩn SRP… liên kết sản xuất giữa các xã trong vùng dự án với tinh thần hợp tác đôi bên cùng có lợi. Hỗ trợ các HTX sử dụng quản lý và khai thác có hiệu quả các công trình, trang thiết bị được Dự án VnSAT đầu tư...

THÚY LIỄU

Nghề làm muối ở Bạc Liêu là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Nguồn tin:  Tuổi Trẻ

Nghề làm muối ở Bạc Liêu được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tỉnh Bạc Liêu yêu cầu cơ quan chức năng tiếp tục mở rộng sản xuất muối trong thời gian tới.

Một cánh đồng muối tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu - Ảnh: NGỌC HÂN

Ngày 31-12, tại ấp Gò Cát (xã Điền Hải, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu) đã diễn ra lễ công bố và đón nhận bằng chứng nhận của bộ trưởng Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch đối với di sản văn hóa phi vật thể quốc gia "Nghề làm muối ở Bạc Liêu".

Theo Sở Văn hóa - thể thao và du lịch tỉnh Bạc Liêu, với bề dày hơn trăm năm, nghề làm muối đã trở thành văn hóa của vùng đất Bạc Liêu, phản ánh được bản sắc, điều kiện tự nhiên độc đáo của địa phương là làm ra hạt muối vị ngọt, không có vị đắng, vị chát, đây chính là tinh hoa được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác của diêm dân Bạc Liêu.

Với tính chất là một di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ngoài ý nghĩa tạo sự gắn kết cộng đồng, nghề làm muối còn góp phần giải quyết công ăn việc làm, giáo dục tinh thần lao động cần cù, sáng tạo cho người dân và đóng góp vào việc phát triển kinh tế của địa phương.

Phát biểu tại buổi lễ, bà Cao Xuân Thu Vân - phó chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu - cho rằng việc công nhận "Nghề làm muối ở Bạc Liêu" là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngoài là niềm tự hào của địa phương, còn góp phần thiết thực vào việc giữ gìn sự phong phú, đa dạng của kho tàng của di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam.

Đây cũng là điều kiện để bạn bè trong nước và quốc tế hiểu biết hơn về nét đẹp, văn hóa vùng đất ven biển Hòa Bình, Đông Hải nói riêng và vùng đất Bạc Liêu nói chung.

Bà Vân đề nghị UBND huyện Đông Hải, UBND huyện Hòa Bình sớm triển khai xây dựng đề án, kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể "Nghề làm muối ở Bạc Liêu", trong đó chú trọng xây dựng các giải pháp nhằm mở rộng diện tích làm muối, nâng cao chất lượng muối, tập trung nâng cao đời sống cho bà con diêm dân trên địa bàn; xây dựng thương hiệu Muối Bạc Liêu và quảng bá, giới thiệu mạnh mẽ để thương hiệu muối ngày càng vang xa…

Tại Bạc Liêu, nghề làm muối tập trung chủ yếu tại hai huyện Đông Hải và Hòa Bình, diện tích khoảng 1.360ha với gần 900 hộ dân làm nghề.

CHÍ QUỐC

Yên Bái: Chăn nuôi đang trở thành ngành kinh tế chủ lực

Nguồn tin: Báo Yên Bái

Trong năm 2020, ngành chăn nuôi Yên Bái tiếp tục gặp khó khăn bởi dịch bệnh, giá vật tư đầu vào từ con giống đến thức ăn, thuốc thú y tăng cao, thị trường đầu ra không ổn định. Nhưng với những giải pháp căn cơ và sự nỗ lực cao độ của ngành nông nghiệp, các địa phương, đặc biệt là các hộ, chủ trang trại, ngành chăn nuôi vẫn đạt kết quả cao và trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu nội ngành nông nghiệp.

Trong năm, tỉnh đã triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ, qua đó tăng nhanh mô hình chăn nuôi quy mô lớn.

Có thể nói, chưa bao giờ nhà nông Yên Bái lại gặp nhiều bất lợi như năm 2020, thời tiết cực đoan, nhất là đại dịch Covid-19 ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Dù vậy, sản xuất nông nghiệp vẫn đạt những kết quả tích cực, tốc độ tăng tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2020 vẫn đạt trên 6%; các chỉ tiêu cơ bản đều đạt và vượt kế hoạch, nhất là chỉ tiêu về tổng đàn gia súc và sản lượng thịt hơi.

Kết thúc năm 2020, tổng đàn gia súc chính đạt 658.000 con, đạt 100% kế hoạch, tăng 6,1%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng các loại đạt 55.800 tấn, đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch. Trong năm, tỉnh cũng triển khai thực hiện hiệu quả Đề án phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản. Nhờ đó góp phần tăng nhanh cơ sở chăn nuôi quy mô lớn nhất là đàn gia súc chính, đàn lợn. Sản lượng thủy sản ngày một tăng, tổng sản lượng đạt trên 11.640 tấn, đạt 101,2% kế hoạch năm.

Giờ đây, chăn nuôi không chỉ chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp mà còn góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và ổn định đời sống khu vực nông thôn.

Ông Nguyễn Đức Điển - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phấn khởi cho biết: "Từ những đàn trâu, bò giống địa phương thể trạng yếu, tầm vóc bé, đến nay đã có trên 50% đàn bò lai Sind, lai Brahman, lai BBB...; đàn lợn, tỷ lệ lợn lai, lợn ngoại tăng cao chiếm trên 75% tổng đàn; chăn nuôi gà đã có bước đột phá mạnh mẽ cả về giống, số lượng và sản lượng. Chăn nuôi trước đây chủ yếu là nông hộ, quy mô nhỏ lẻ là chính thì nay chuyển sang chăn nuôi hàng hóa theo quy mô tập trung, đầu tư tăng năng suất, sản lượng”.

Chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi là động lực, nền tảng cho chăn nuôi lợn công nghiệp, bán công nghiệp, đã đạt trên 50% tổng đàn với trên 1.200 cơ sở chăn nuôi công nghiệp, chiếm gần 70% sản lượng tổng đàn. Trấn Yên là huyện có phong trào chăn nuôi phát triển mạnh góp phần xóa đói, giảm nghèo xây dựng nông thôn mới.

Hiện, huyện Trấn Yên có trên 618 cơ sở chăn nuôi hàng hóa, trong đó có 243 cơ sở chăn nuôi lợn và 4 trang trại nuôi lợn thịt và lợn nái hậu bị theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp thông qua hình thức liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp.

Đáng chú ý như: Doanh nghiệp Hòa Phát, xã Lương Thịnh chăn nuôi công nghệ cao với quy mô trên 1.500 con lợn nái và trên 10.000 con lợn thịt/lứa; Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp MQ, xã Minh Quán, xây dựng được chuỗi liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm gà Minh Dư thương phẩm với quy mô 180.000 con của 45 hộ dân…

Phát huy kết quả đã đạt được, trong năm 2021 và những năm tiếp theo, Yên Bái phát triển chăn nuôi, thủy sản cơ bản theo hướng tập trung, bảo đảm an toàn sinh học, có sự liên kết chặt chẽ theo chuỗi giá trị. Tỉnh đặt mục tiêu trong năm 2021 đưa tổng đàn gia súc đạt trên 752.000 con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 53.000 tấn và đến năm 2025 tăng tổng đàn gia súc đạt trên 1 triệu con, đưa chăn nuôi trở thành ngành kinh tế chủ lực.

Thanh Phúc

Chàng 9X ‘kết duyên’ với giống thỏ Newzealand

Nguồn tin: Báo Lâm Đồng

Được “trải thảm đỏ” tại một công ty dược ở TP Hồ Chí Minh, với thu nhập gần 40 triệu đồng/tháng, nhưng anh Vũ Quang Chính (26 tuổi) vẫn chọn nơi mình sinh ra và lớn lên để lập thân, lập nghiệp. Chính chọn giống thỏ Newzealand để “kết duyên” và thành công bằng 4 trang trại nuôi thỏ công nghệ cao, mang lại nguồn thu nhập hơn 1 tỷ đồng/năm.

2 ha cỏ sả xanh tốt là nguồn thức ăn giúp chàng trai 9X Vũ Quang Chính tự tin phát triển trang trại chăn nuôi

Chọn hướng đi riêng

Sau nhiều lần lỡ hẹn, cuối cùng tôi cũng gặp được Chính tại trang trại nuôi thỏ ở Thôn 3 (xã Lộc Châu, TP Bảo Lộc). Đây là trang trại nuôi thỏ đầu tiên trong 4 trại thỏ mà chàng trai 26 tuổi đã đầu tư và liên kết với các hộ dân trên địa bàn TP Bảo Lộc và huyện Di Linh, với tổng mức đầu tư gần 2 tỷ đồng.

Vừa gặp tôi, Chính giãi bày: “Anh thông cảm! Hẹn anh nhiều lần, nhưng do công việc nhiều quá nên giờ mới gặp được. Một mình em phải lo quán xuyến khâu kỹ thuật 4 trại vừa vào hơn 7.000 con thỏ để chuẩn bị nguồn hàng cung cấp cho chuỗi nhà hàng, khách sạn họ đã đặt hàng phục vụ tết nên bận bịu suốt ngày. Hôm nay, công việc đã tạm ổn nên mới hẹn gặp anh được”.

Nói xong, Chính dẫn chúng tôi đi tham quan trại thỏ mà mình dành tất cả tâm huyết đầu tư vốn liếng xây dựng tìm hướng đi riêng để lập nghiệp trên chính mảnh đất mình sinh ra và lớn lên. Chính kể với tôi, anh là con út trong gia đình thuần nông với 6 anh, chị em và cuộc sống thuộc vào diện khá giả. Sau khi tốt nghiệp THPT, Chính thi đậu vào Trường Cao đẳng Y dược TP Hồ Chí Minh. Ra trường, Chính được nhận vào làm tại một công ty dược ở Sài Gòn, với mức lương gần 40 triệu đồng/tháng. Mặc dù công việc, thu nhập của mình là mơ ước của nhiều người, nhưng Chính vẫn không bằng lòng.

Cuối năm 2019, Chính xin nghỉ việc về quê và đem ý tưởng mở trang trại nuôi thỏ mà mình đã lên kế hoạch và ngỏ ý với bố mình là ông Vũ Quang Đĩnh. Chính tâm sự: “Khi em đem chuyện mở trang trại nuôi thỏ kể với bố chưa dứt lời thì bị ngay “một gáo nước lạnh”. Bố em bảo, “Bố đầu tư tiền của cho ăn học, mong con có việc làm ổn định ở thành phố. Giờ công việc, thu nhập đang ổn định ai lại về quê nuôi thỏ. Đất đai, vườn tược cứ để bố mẹ lo, không làm được thì thuê người. Bố mẹ khuyên con dừng ngay ý tưởng điên rồ này lại”.

Mặc cho mọi người căn ngăn, Chính vẫn quyết tâm đầu tư 100 triệu đồng dành dụm được xây dựng chuồng trại và mua 50 cặp thỏ Newzealand về nuôi thử nghiệm để gây dựng niềm tin với bố mẹ. “Khi đó, mình không có vốn, nên phải xây dựng niềm tin để được bố mẹ hỗ trợ. Đây là niềm đam mê và cũng là tâm huyết của em” - Chính nói.

Vũ Quang Chính dành hết tâm huyết để “kết duyên” với giống thỏ trắng Newzealand.

Uy tín làm nên thương hiệu

Tâm huyết, niềm tin và đam mê của Chính được đền đáp từ 50 cặp thỏ trắng Newzealand nuôi thử nghiệm sạch bệnh, lớn nhanh đúng như mình kỳ vọng. Cũng từ đây, Chính được gia đình tin tưởng ủng hộ, đầu tư vốn xây dựng trang trại mở rộng quy mô chăn nuôi để anh “kết duyên” với giống thỏ trắng Newzealand.

Với Chính, để thành công thì bất cứ làm nghề gì đều cần phải có chữ “tín”. Đối với các sản phẩm chăn nuôi tác động trực tiếp tới sức khỏe con người thì chữ “tín” đặc biệt quan trọng. Muốn vậy, tự bản thân mình phải tạo ra được sản phẩm thỏ sạch đảm bảo chất lượng an toàn tuyệt đối cho người tiêu dùng. Từ đây, Chính bắt tay vào đầu tư xây dựng trang trại nuôi thỏ gần 400 m2, với quy mô từ 2.500 - 3.000 con/lứa. Hệ thống trại chăn nuôi này được Chính đầu tư hoàn toàn tự động bằng công nghệ hiện đại từ khâu chăm sóc, đến hệ thống khử trùng phòng bệnh. Đặc biệt, để đảm bảo vệ sinh chuồng trại, chàng trai trẻ sử dụng đệm lót sinh học xử lý chất thải. Ngoài ra, trang trại còn được đầu tư hệ thống loa cho thỏ nghe nhạc 24/24 giờ.

Chính chia sẻ: “Hiện tại, thỏ đã có vắc xin phòng bệnh, nên người chăn nuôi phần nào đỡ lo về các bệnh truyền nhiễm khiến đàn thỏ bị chết hàng loạt như trước đây. Tuy nhiên, để đàn thỏ phát triển đồng đều, khỏe mạnh thì khâu chọn giống vô cùng quan trọng. Cần lựa chọn mua thỏ giống tại những nơi có đủ uy tín, để tránh mua phải con giống trùng huyết. Đặc biệt, người chăn nuôi phải chủ động được nguồn thức ăn sạch cho thỏ. Ngoài việc lựa chọn thương hiệu cám chất lượng, thì nguồn cỏ vẫn là thức ăn chính chiếm hơn 60% khẩu phần ăn của thỏ. Với quy mô nuôi từ 2.500 - 3.000 con, em phải trồng 2 ha cỏ sả để chủ động nguồn thức ăn cho thỏ”.

Được đầu tư hiện đại, với quy mô gần 3.000 con thỏ, mỗi ngày Chính chỉ mất khoảng 5 tiếng đồng hồ để hoàn thành các công việc tại trại thỏ.

Để tạo ra sản phẩm thỏ sạch cung cấp cho thị trường, cùng với nguồn thức ăn sạch thì khâu chăm sóc, phòng bệnh quyết định đến sự thành bại của người chăn nuôi. Phương châm chăn nuôi mà Chính tự đặt ra cho mình và cam kết với các đầu mối tiêu thụ sản phẩm thỏ “1 đền 100 lần” nếu phát hiện thịt thỏ có thuốc kích thích, tăng trọng. Nhờ vậy, sản phẩm thỏ thịt của Chính được các chuỗi nhà hàng, khách sạn tại TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai ký hợp đồng đặt mua thường xuyên. Khi có được đầu ra ổn định, Chính hạch toán một cách dễ hiểu để phát triển: Một con thỏ mẹ đẻ 5 - 7 lứa/năm, mỗi lứa 5 - 10 con. Sau 3,5 tháng tuổi nặng khoảng 2,5 - 3 kg và có thể giết thịt. Với giá thỏ hiện nay từ 80 - 120.000 đồng/kg, mỗi năm, trừ chi phí một thỏ mẹ có thể mang về lợi nhuận cho người nuôi từ 1,2 - 1,5 triệu đồng. Tính ra, hơn 1.000 con thỏ mẹ đang nuôi mang lại cho Chính nguồn lợi nhuận từ 1 - 1,2 tỷ đồng/năm.

Tuy nhiên, với phương thức lấy ngắn, nuôi dài và uy tín, thương hiệu đang có nên có được khoản thu nhập nào, Chính tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô nuôi thỏ. Sau hơn 1 năm “kết duyên” với thỏ, Chính đã sở hữu cho mình 1 trang trại thỏ có quy mô duy trì từ 2.500 - 3.000 con. Ngoài ra, Chính còn liên kết với 3 hộ dân khác tại xã Đại Lào (TP Bảo Lộc) và xã Hòa Ninh (huyện Di Linh) mở thêm 3 trang trại, với tổng đàn thỏ được nhân thêm hơn 5.000 con.

Đang là chủ một trang trại thỏ quy mô lớn và liên kết mở rộng quy mô với 3 hộ dân, nhưng Chính vẫn chưa hài lòng. Mới đây, Chính tiếp tục xây dựng chuồng trại và đầu tư hơn 500 triệu đồng mua 21 con dê Boer (20 con cái và 1 con đực giống) về nuôi. Đây là giống dê siêu thịt, trọng lượng dê trưởng thành có thể đạt tới từ 80 - 110 kg/con. Cùng với đó, Chính đang xây dựng chuồng trại nuôi heo rừng với quy mô từ 100 - 150 con. Nói về chuyện đầu ra, Chính khẳng định: “Em đã có định hướng thì mới dám làm. Đối với thỏ, mỗi tháng, khách hàng đang cần hơn 1,5 tấn thỏ thịt, nhưng em chỉ mới cung cấp được 700 kg. Các chuỗi nhà hàng, khách sạn sang trọng tại TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Vũng Tàu và Đồng Nai đang hối em cung cấp sản phẩm thịt dê và heo rừng lai. Nhưng phương châm của em tất cả các sản phẩm mình cung ứng cho họ phải có nguồn gốc, nên mình phải tự nuôi để đảm bảo chất lượng tốt nhất. Vì vậy, chuyện đầu ra sản phẩm không phải là vấn đề đáng ngại đối với em. Quan trọng là mình phải có được sản phẩm sạch để đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng”.

Ông Vũ Hoàng Tập - Chủ tịch UBND xã Lộc Châu, cho biết: “Mô hình nuôi thỏ Newzealand của anh Chính đem lại hiệu quả kinh tế rất cao, sản phẩm ra đến đâu được tiêu thụ đến đấy. Đây là một mô hình làm kinh tế trang trại điển hình của xã, nên thời gian tới, địa phương sẽ giới thiệu để người dân ai có nhu cầu đầu tư thì học hỏi nhân rộng phát triển kinh tế. Riêng đối với Vũ Quang Chính, tuy còn trẻ tuổi nhưng phải nói rằng đây là tấm gương sáng để những người trẻ ở địa phương học hỏi nhằm tìm hướng đi lập thân, lập nghiệp phát triển kinh tế gia đình và xây dựng địa phương ngày càng phát triển”.

KHÁNH PHÚC

Bến Tre: Chăn nuôi heo thịt theo hướng an toàn sinh học

Nguồn tin: Báo Đồng Khởi

Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bến Tre phối hợp Trung tâm Khuyến nông huyện Mỏ Cày Nam vừa tổ chức tổng kết mô hình chăn nuôi heo thịt (heo ngoại) theo hướng an toàn sinh học tại xã Thành Thới B.

Đây là mô hình nằm trong dự án “Xây dựng mô hình chăn nuôi heo ngoại theo hướng an toàn sinh học tại các tỉnh Nam Bộ” do Trung tâm Khuyến nông tỉnh phối hợp với Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp Tiền Giang thực hiện từ nguồn vốn khuyến nông Trung ương.

Mô hình được triển khai thực hiện từ tháng 8 đến hết tháng 12-2020, gồm 10 hộ tham gia với tổng số heo giống là 100 con. Tham gia mô hình, hộ chăn nuôi được hỗ trợ 70% chi phí con giống, thức ăn hỗn hợp, vắc-xin, thuốc thú y và thuốc sát trùng.

Qua đánh giá của ngành chức năng, mô hình cơ bản đạt yêu cầu đề ra. Các hộ tham gia thực hiện tốt việc đối ứng của mô hình; đàn heo phát triển tương đối tốt và đồng đều. Sau khi xuất chuồng, với giá heo thịt như hiện nay, lợi nhuận đạt trên 13,5 triệu đồng. Tuy không cao nhưng vẫn đảm bảo cho người chăn nuôi an tâm tái đầu tư sản xuất.

Lý giải về mức lợi nhuận trên, ngành chức năng cho biết, nguyên nhân lợi nhuận không cao là do trượt giá heo giống (thời điểm triển khai giá heo giống là 100 ngàn đồng/kg, đến khi nhập heo giống thì giá đẩy lên 190 ngàn đồng/kg) và tỷ lệ heo hao hụt chiếm 10% so với tổng đàn (do sự thay đổi về thời tiết, dịch bệnh tiêu chảy cấp bùng phát và hộ nuôi chưa có kinh nghiệm nhiều trong khâu chăm sóc heo ngoại)…

Kỹ sư Nguyễn Chánh Bình - Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh đánh giá: “Mô hình chăn nuôi heo thịt (heo ngoại) theo hướng an toàn sinh học tuy chỉ mới thành công bước đầu nhưng đã góp phần hỗ trợ người chăn nuôi tái đàn, tiếp tục duy trì và phát triển nghề chăn nuôi heo sau dịch bệnh, giải quyết việc làm cho hộ gia đình; đồng thời, nâng cao ý thức, kinh nghiệm cho hộ nuôi trong việc áp dụng biện pháp an toàn sinh học trong khâu phòng bệnh cho vật nuôi…”.

Tin, ảnh: Ngọc Vũ

Mức hỗ trợ phòng, chống bệnh Dịch tả lợn châu Phi

Nguồn tin: Hà Nội Mới

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành quyết định về cơ chế, chính sách, đối tượng hỗ trợ, mức hỗ trợ kinh phí trong phòng, chống bệnh Dịch tả lợn châu Phi năm 2020.

Theo quyết định, Nhà nước hỗ trợ người chăn nuôi, hộ chăn nuôi nông hộ, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất, các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang kinh doanh trong lĩnh vực chăn nuôi (cơ sở chăn nuôi) có lợn buộc phải tiêu hủy do bệnh Dịch tả lợn châu Phi với mức cụ thể như sau: Đối với lợn con, lợn thịt các loại: Hỗ trợ 30.000 đồng/kg lợn hơi; đối với lợn nái, lợn đực đang khai thác: Hỗ trợ 35.000 đồng/kg lợn hơi.

Hỗ trợ doanh nghiệp chăn nuôi nhỏ và vừa theo tiêu chí quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12-6-2017 (không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa là công ty con hoặc là công ty có vốn cổ phần chi phối của doanh nghiệp lớn) có lợn buộc phải tiêu hủy do bệnh Dịch tả lợn châu Phi với mức hỗ trợ cụ thể như sau: Đối với lợn con, lợn thịt các loại: Hỗ trợ 10.000 đồng/kg lợn hơi; đối với lợn nái, lợn đực đang khai thác: Hỗ trợ 12.000 đồng/kg lợn hơi.

Mức hỗ trợ cho các doanh nghiệp tối đa không quá 30% số lỗ do dịch bệnh sau khi đã sử dụng các quỹ dự phòng và tiền bồi thường bảo hiểm (nếu có).

Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tiêu chí quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12-6-2017 (không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa là công ty con hoặc là công ty có vốn cổ phần chi phối của doanh nghiệp lớn) và chủ hộ nuôi giữ lợn giống cụ kỵ, ông bà với mức 500.000 đồng/con lợn đến ngày 31-12-2020 nhằm nâng cao các biện pháp an toàn sinh học, sát trùng tiêu diệt các loại mầm bệnh, đảm bảo duy trì đàn lợn giống phục vụ tái đàn khi kiểm soát được dịch bệnh.

Các cơ sở chăn nuôi bị thiệt hại được xem xét hỗ trợ khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định số 02/2017/NĐ-CP ngày 9-1-2017 của Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; các quy định của Luật Chăn nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chăn nuôi.

Cơ chế hỗ trợ từ ngân sách trung ương

Theo quy định, đối với các tỉnh miền núi, Tây Nguyên, ngân sách trung ương hỗ trợ 80% mức ngân sách nhà nước hỗ trợ thiệt hại.

Còn các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương từ 50% trở lên thì chủ động sử dụng dự phòng ngân sách địa phương để thực hiện.

Các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương dưới 50% thì ngân sách trung ương hỗ trợ 50% phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.

Các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách còn lại thì ngân sách trung ương hỗ trợ 70% phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, các địa phương huy động thêm tối đa 70% quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh để hỗ trợ thiệt hại do bệnh Dịch tả lợn châu Phi.

Trường hợp các địa phương có mức độ thiệt hại lớn, nếu phần ngân sách địa phương đảm bảo vượt quá nguồn lực của địa phương, gồm 50% nguồn dự phòng ngân sách địa phương (bao gồm cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã) và 70% quỹ dự trữ tài chính địa phương, ngân sách trung ương sẽ bổ sung phần chênh lệch vượt quá nguồn lực của địa phương để các tỉnh, thành phố có đủ nguồn để thực hiện.

A.T

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-28) 37445447-(84-28) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop