Tin nông nghiệp ngày 04 tháng 10 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 04 tháng 10 năm 2019

Giá nông sản thi nhau giảm

Nguồn tin:  Sài Gòn Giải Phóng

Theo số liệu thống kê từ Bộ NN-PTNT cho thấy, hàng loạt các sản phẩm nông, thủy sản vốn là thế mạnh đang suy giảm mạnh, giá rớt...

Ngày 1-10, Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản cùng Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp – nông thôn (Bộ NN-PTNT) đã công bố báo cáo về tình hình giá cả, thị trường nông sản Việt Nam trong tháng 9 và nhận định xu thế tháng 10-2019.

Xuất khẩu gạo đã qua thời hoàng kim, giá giảm, gặp nhiều khó khăn. Ảnh: TTXVN

Trong tháng 9-2019, giá lúa gạo tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) diễn biến trái chiều trong bối cảnh nhu cầu xuất khẩu thấp. Giá cà phê tiếp tục giảm do đồng tiền Reais của Brazil duy trì ở mức thấp, tiếp tục thúc đẩy người Brazil mạnh tay bán sau niên vụ với sản lượng kỷ lục, tồn kho cà phê tại một số thị trường lớn gia tăng.

Trong khi đó, giá cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL quay trở lại xu hướng giảm do tốc độ cung tăng nhanh hơn cầu. Riêng giá tôm nguyên liệu trong tháng 9-2019 có xu hướng nhích lên so với tháng trước, giá tôm sú và tôm thẻ chân trắng cũng tăng do cung giảm.

“Nhìn lại 9 tháng đầu năm 2019, thị trường nhiều mặt hàng nông sản diễn biến theo xu hướng giảm”- Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản đưa ra đánh giá. Cụ thể, giá lúa tại khu vực ĐBSCL diễn biến giảm do nhu cầu yếu. Giá tiêu giảm do nguồn cung tăng trên toàn cầu. Giá heo hơi trên cả nước cũng trong xu hướng giảm là do chịu ảnh hưởng của dịch tả heo châu Phi.

Bên cạnh đó, giá cá tra giảm mạnh chủ yếu do ảnh hưởng bởi đầu ra xuất khẩu có phần chậm so với trước, nhất là xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc đang giảm đáng kể từ đầu năm 2019 đến nay, đồng thời xuất sang thị trường Hoa Kỳ cũng giảm mạnh. Cộng thêm xung đột thương mại giữa một số thị trường lớn đã gây ảnh hưởng.

Tuy nhiên, tính chung, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 9-2019 ước đạt 3,5 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 9 tháng năm 2019 đạt 30,02 tỷ USD, tăng 2,7% cùng kỳ năm 2018. Trong đó chỉ riêng xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi với lâm sản là tăng, còn lại đều giảm (từ lúa gạo, rau củ quả đến thủy sản vốn là những kỳ tích trong các năm về trước)

VĂN PHÚC

Giá phân bón giảm

Nguồn tin:  Báo Cần Thơ

Do nguồn cung dồi dào và nhu cầu tiêu thụ giảm, giá nhiều loại phân bón trên thị trường như: Urê, DAP, NPK... hiện giảm khoảng 5.000-10.000 đồng/bao so với cách nay hơn 1 tháng.

Bán phân bón tại một cửa hàng vật tư nông nghiệp ở huyện Thới Lai, TP Cần Thơ.

Tại nhiều cửa hàng vật tư nông nghiệp ở TP Cần Thơ và các tỉnh lân cận như: Hậu Giang, Vĩnh Long, An Giang, các loại Urê Phú Mỹ, Urê Cà Mau (Đạm Cà Mau), Urê Ninh Bình và Urê Hà Bắc có giá phổ biến từ 350.000-390.000 đồng/bao. Giá DAP Trung Quốc loại hạt nâu: 540.000-545.000 đồng/bao; DAP Trung Quốc loại hạt xanh giá 625.000-630.000 đồng/bao; DAP Hàn Quốc khoảng 690.000-700.000 đồng/bao. Trong khi đó, giá phân bón NPK 16-16-8 Việt Nhật ở mức 455.000-460.000 đồng/bao; NPK 20-20-15 Đầu Trâu 590.000-600.000 đồng/bao; Kali (Nga, Canada, Israel) có giá khoảng 380.000-400.000 đồng/bao... Ngoài ra, nhu cầu mua phân bón phục vụ cho sản xuất lúa tại nhiều tỉnh, thành vùng ĐBSCL cũng không còn nhiều do nông dân đang bước vào thu hoạch lúa thu đông 2019. Thời điểm này là mùa lũ, nông dân cũng hạn chế mua phân bón để sử dụng cho các loại cây trồng khác, nhất là cây ăn trái.

Tin, ảnh: Khánh Trung

Quảng Trị: Nỗ lực đưa thương hiệu gà Cùa vươn xa

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Vùng Cùa bao gồm địa giới hành chính hai xã Cam Chính, Cam Nghĩa và một phần đất xã Cam Thành, có tổng diện tích hơn 13.000 ha, chiếm gần 40% diện tích tự nhiên toàn huyện Cam Lộ (tỉnh Quảng Trị). Nơi đây được biết đến với nhiều sản vật thơm ngon trứ danh, trong đó có đặc sản “gà leo cây” xứ Cùa.

Chăn nuôi gà an toàn sinh học tại Tổ hợp tác chăn nuôi gà Cùa, xã Cam Chính, Cam Lộ

Gọi là “gà leo cây” bởi giống gà Cùa từ xa xưa được người dân nuôi thả rong. Ban ngày gà đi khắp các khu vườn dọc triền đồi đất đỏ ba dan đào tìm thức ăn, chiều tối tự tìm về bay lên các cành cây trong vườn nhà để ngủ. Gà Cùa không thích ngủ chuồng trại mà thích tìm các cành cây, tán lá để đậu và ngủ, do đó nhiều người liên tưởng tổ tiên của giống gà Cùa xuất phát từ gà rừng, được người dân thuần chủng đưa về nuôi trong vườn nhà và muốn có thịt gà ăn thì phải leo cây để bắt. Giống gà Cùa không to, mỗi con nuôi trong vòng 5- 6 tháng làm thịt xong cân nặng từ 1- 1,2 kg. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, với đặc điểm khí hậu và thổ nhưỡng vùng gò đồi đất đỏ ở Cùa có nhiều loại khoáng chất và thực phẩm thiên nhiên độc đáo như các loại côn trùng, kiến, mối, dế… để đàn gà di chuyển tìm kiếm thức ăn, nên thịt gà Cùa có vị ngọt thơm rất đặc trưng, thớ thịt săn chắc mà không dai, béo mà không ngậy. Thịt gà Cùa chế biến được rất nhiều món ăn ngon như nấu cháo gà, lẫu gà, gà kho, gà nướng, gà luộc…., vẫn không lẫn được vị thơm ngọt và giòn của gà Cùa so với các giống gà nơi khác. Đặc biệt, theo khẩu vị của người dân vùng Cùa thì món gà luộc ăn kèm với các loại lá hái trên rừng, chấm muối và hạt tiêu cay nồng nổi tiếng của vùng Cùa là ngon nhất, vì sẽ cảm nhận rất rõ vị ngọt thơm xuất phát từ chính đặc điểm “ngày ăn mối, tối ngủ cây” của gà Cùa.

Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cam Lộ Phạm Viết Thanh, cho biết: “Hiện vùng Cùa có tổng đàn gà khoảng 90 ngàn con, sản lượng ước đạt gần 100 tấn, thu nhập gần 5 tỉ đồng. Thời gian qua, chất lượng thịt gà Cùa đã khẳng định được uy tín trên thị trường, được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh biết đến. Tuy nhiên, sản phẩm gà Cùa vẫn chưa tạo tính khác biệt một cách rõ nét để hình thành thương hiệu của vùng miền đủ mạnh cạnh tranh trên thị trường, do nguồn cung cấp con giống chưa đáp ứng được nhu cầu của người chăn nuôi, chất lượng không đồng đều và chủng loại không đồng nhất, sản xuất manh mún và chưa có quy trình sản xuất an toàn dẫn đến nguy cơ dịch bệnh… Để xây dựng thương hiệu gà Cùa có tính khác biệt mang đặc trưng vùng miền, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống gắn với xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu của nhân dân vùng Cùa, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện xây dựng đề án thí điểm chăn nuôi gà Cùa an toàn sinh học theo chuỗi giá trị sản phẩm. Mục tiêu của đề án ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kĩ thuật để tạo ra sản phẩm khác biệt, sản xuất theo quy trình an toàn sinh học, phấn đấu đến năm 2020 hình thành được chuỗi giá trị sản xuất, quản lí và vận hành sản phẩm gà Cùa với sản lượng khoảng 40- 50 tấn gà thịt/năm, giá trị gia tăng gấp 1,2 lần so với các nông hộ không tham gia chuỗi”.

Để xây dựng thương hiệu sản phẩm gà Cùa, huyện Cam Lộ hỗ trợ tập huấn, chuyển giao quy trình kĩ thuật, cử cán bộ kĩ thuật chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, giám sát đánh giá mô hình, quảng bá xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu sản phẩm; hỗ trợ 50% vắc xin và 50% giá thành con giống cho 16 hộ tham gia nuôi gà thịt của hai tổ hợp tác chăn nuôi gà Cùa xã Cam Chính và xã Cam Nghĩa với quy mô 500 con gà thịt/hộ; hỗ trợ cho 2 tổ hợp tác mỗi tổ 50% chi phí vắc xin, mua máy nghiền và máy phối trộn thức ăn chăn nuôi, máy ấp trứng, chi phí mua gà giống sinh sản với quy mô 2.000 con gà giống. Sản phẩm gà Cùa an toàn sinh học theo chuỗi giá trị của các tổ hợp tác khi xuất bán đều được gắn thẻ chì truy xuất nguồn gốc và chỉ dẫn địa lí, tạo sản phẩm đặc trưng khác biệt để hình thành thương hiệu cạnh tranh trên thị trường.

Tổ trưởng Tổ hợp tác chăn nuôi gà Cùa xã Cam Chính Vũ Văn Bắc cho biết: “Trước đây nhiều hộ dân ở vùng Cùa đã chăn nuôi giống gà 3/4 Ri quy mô trang trại vừa và nhỏ, do có đặc điểm tương đồng với giống gà Cùa truyền thống, tuy nhiên mỗi hộ nuôi mỗi cách khác nhau. Khi tham gia tổ hợp tác sản xuất theo chuỗi giá trị, chúng tôi phải áp dụng quy trình sản xuất gà 3/4 Ri thả vườn an toàn sinh học thống nhất từ con giống, vắc xin, thức ăn và phòng dịch, đảm bảo gà “sạch” hoàn toàn tự nhiên, không sử dụng thuốc kháng sinh và thức ăn công nghiệp. Đến cuối năm 2019 này sẽ tiến hành tổ chức hội thảo đánh giá mô hình chăn nuôi gà của tổ hợp tác và nhân rộng, xuất bán sản phẩm gà Cùa an toàn sinh học ra thị trường. Dự kiến năm 2020 chúng tôi sẽ tự sản xuất con giống gà 3/4 Ri ngay tại chỗ cung cấp cho các thành viên Tổ hợp tác chăn nuôi gà Cùa, xây dựng quy trình nghiêm ngặt hướng tới sản xuất gà Cùa theo hướng hữu cơ, góp phần đưa thương hiệu gà Cùa vươn xa”.

Thanh Hải

Hội thảo ‘Các giải pháp phát triển thanh long bền vững’

Nguồn tin: Báo Bình Thuận

Nằm trong khuôn khổ chương trình Hội chợ triển lãm Nông nghiệp - Thương mại các tỉnh Đông Nam Bộ năm 2019 tại Bình Thuận, sáng nay (2/10), Trung tâm Hỗ trợ nông dân, nông thôn - Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với Hội Nông dân tỉnh tổ chức hội thảo chuyên đề: “Các giải pháp phát triển thanh long bền vững”. Tham dự hội thảo có đại diện các sở, ngành, hội nông dân các huyện và các hộ nông dân sản xuất thanh long tiêu biểu trên địa bàn Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc và TP. Phan Thiết.

Thanh long Bình Thuận hiện có diện tích tích lớn nhất nước.

Tại hội thảo, PGS.TS. Mai Thành Phụng - Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn nông nghiệp nhiệt đới cho biết, hiện nay có 60/63 tỉnh thành trong cả nước trồng thanh long, trong đó 3 tỉnh có diện tích lớn nhất là Bình Thuận khoảng 30.000 ha, Long An trên 11.000 ha và Tiền Giang gần 8.000 ha. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng năng suất cho khu vực trồng thanh long của Bình Thuận (hiện năng suất bình quân 21,7 tấn/ha)? Về chất lượng trái thanh long còn nhiều vấn đề để bàn, làm sao tránh được mùa, rớt giá?

Các đại biểu đã đặt ra câu hỏi về việc sản xuất thanh long bền vững, gồm quy hoạch, rà soát vùng quy hoạch vùng trồng thanh long, vấn đề kiểm soát chất lượng giống và đánh giá sự thích nghi loại giống nào thích hợp vùng trồng, sơ sở hạ tầng phục vụ vùng trồng thanh long…

Về các giải pháp phát triển thanh long bền vững, ngành nông nghiệp tỉnh đã đề ra những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu cần thực hiện trong thời gian tới. Trong đó, cần triển khai quyết liệt các biện pháp nâng cao chất lượng trái thanh long theo hướng đảm bảo an toàn thực phẩm và xem đây là yếu tố then chốt để cây thanh long phát triển ổn định, bền vững và lâu dài. Đặc biệt, quản lý chặt chẽ các đối tượng sâu bệnh hại trên cây thanh long, nhất là đốm nâu, ruồi đục trái, rệp sáp. Khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến thanh long và hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến các loại sản phẩm hàng hóa từ trái thanh long…

K.Hằng

Hoài Ân (Bình Định): Xây dựng mô hình trồng bưởi da xanh và dừa xiêm theo tiêu chuẩn VietGap

Nguồn tin: Báo Bình Định

UBND huyện Hoài Ân (tỉnh Bình Định) vừa thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ xây dựng mô hình trồng bưởi da xanh và dừa xiêm theo tiêu chuẩn VietGap (viết tắt của tiếng Anh: Vietnamese Good Agricultural Practices - có nghĩa là thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam). Dự án được triển khai thực hiện trên diện tích 70 ha, trong đó, bưởi da xanh 45 ha và dừa xiêm 25 ha, từ nguồn vốn hỗ trợ của Bộ KH&CN, với số tiền trên 5,4 tỷ đồng.

Việc sản xuất bưởi da xanh và dừa xiêm theo tiêu chuẩn VietGap sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, giá trị sản xuất của các loại trái cây được xem là đặc trưng của huyện Hoài Ân.

N. QUÝ

Bình Phước: Thanh An vào mùa nhãn

Nguồn tin: Báo Bình Phước

Những ngày này, tranh thủ thời tiết nắng ráo, các hộ nông dân tại ấp Thanh An, xã Thanh Lương, thị xã Bình Long (tỉnh Bình Phước) tất bật thu hoạch nhãn. Nhãn năm nay được mùa, được giá nên nhà nông rất phấn khởi.

Có mặt tại vườn nhãn của gia đình anh Phạm Văn Lực, ngụ tổ 7, ấp Thanh An, xã Thanh Lương, tôi mới cảm nhận được sự tất bật, hối hả của những người đang thu hoạch nhãn kịp cho đơn hàng trong ngày. Anh Lực cho biết, vụ nhãn năm nay hộ anh có 5,3 ha cho thu hoạch. Mấy hôm nay trời nắng ráo, gia đình anh tranh thủ thuê nhân công để tập trung thu hoạch. Năm nay, thời tiết lúc cây đơm bông kết trái thuận lợi, cộng với kinh nghiệm 15 năm trồng nhãn, áp dụng khoa học, kỹ thuật vào chăm sóc nên vườn nhãn hộ anh năng suất tăng cao. Anh Lực ước tính, với 5,3 ha nhãn, vụ này cho thu hơn 70 tấn trái. Giá thu mua tại vườn dao động từ 8.000-10.000 đồng/kg, trừ chi phí gia đình anh thu lợi trên 500 triệu đồng. “Năm nay thời tiết thuận lợi nên nhãn trúng mùa hơn mọi năm. Giá bán cũng tương đối ổn định nên nông dân rất phấn khởi” - anh Lực vui vẻ nói.

Nhân công đang thu hoạch nhãn tại vườn của gia đình ông Trần Tuấn Dũng, tổ 3, ấp Thanh An, xã Thanh Lương (Bình Long)

Gia đình ông Trần Tuấn Dũng, ngụ tổ 3, ấp Thanh An cũng đang tất bật thu hoạch hơn 3 ha nhãn để kịp giao thương lái. Ông Dũng ước tính, vườn nhãn của gia đình năm nay cho thu khoảng 45-50 tấn trái, với giá bán như hiện nay, hộ ông thu lời hàng trăm triệu đồng. Nhãn năm nay vừa được giá vừa được mùa nhưng do ảnh hưởng của những cơn mưa vào đầu vụ thu hoạch nên nhiều hộ dân không kịp thuê nhân công, thương lái chưa đến thu mua, nhãn chín rụng nhiều gây thiệt hại kinh tế cho người dân. “Toàn ấp Thanh An ước có khoảng hơn 100 ha nhãn do mưa nhiều làm trái bị thối rồi rụng” - ông Dũng cho biết thêm.

Ấp Thanh An có hơn 450 ha nhãn tiêu da bò. Mặc dù ấp đã thành lập Hợp tác xã trồng cây ăn trái theo tiêu chuẩn VietGAP và đăng ký thương hiệu nhãn tiêu da bò nhưng do hợp tác xã không có nguồn vốn để xây dựng kho bảo quản, sản phẩm lại chưa có đầu ra ổn định nên khi gặp thời tiết bất lợi, nhất là mưa nhiều mỗi khi vào vụ thu hoạch khiến nhà vườn rất khó khăn. Bên cạnh đó, số nông hộ sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP còn manh mún, cùng đặc thù của ấp Thanh An vào mùa khô lượng nước rất ít, không đủ cho nhà nông làm nhãn nghịch vụ nên việc đưa nhãn vào siêu thị còn nhiều khó khăn. “Rất mong các cấp, ngành có chính sách hỗ trợ phù hợp cho nông dân cũng như Hợp tác xã trồng cây ăn trái ấp Thanh An, đặc biệt là tạo điều kiện xây dựng kho bảo quản nông sản” - ông Trần Tuấn Dũng kiến nghị.

Ấp Thanh An là vùng trồng cây ăn trái lớn nhất của thị xã Bình Long, với hơn 900 ha. Mỗi khi vào vụ thu hoạch, nhà vườn lại “phập phồng” theo tín hiệu của thị trường. Năm nay, người trồng nhãn xã Thanh Lương rất may mắn vì không bị rơi vào cảnh “được mùa mất giá, được giá mất mùa”. Tuy nhiên, để nông dân yên tâm canh tác, góp phần phát triển kinh tế rất cần sự chung tay vào cuộc của các ngành chức năng và chính quyền địa phương giúp nông dân có hướng đi thích hợp sản xuất bền vững.

Văn Tâm

Bình Định: Phù Mỹ trồng hơn 889 ha kiệu tết

Nguồn tin: Báo Bình Định

Theo báo cáo từ Phòng NN&PTNT huyện Phù Mỹ (tỉnh Bình Định), vụ kiệu tết năm 2020, nông dân huyện Phù Mỹ đã xuống giống trồng hơn 899 ha kiệu, tăng hơn 90 ha so với cùng vụ năm trước. Kiệu được trồng tập trung ở các địa phương như: Mỹ Trinh 128 ha, Mỹ Hòa 127 ha, Mỹ Hiệp 160,2 ha, Mỹ Chánh Tây 125 ha, Mỹ Tài 103 ha, Mỹ Quang 100 ha, Mỹ Phong 75 ha. Ngoài ra, kiệu còn được nông dân các địa phương như Mỹ Thắng, Mỹ An, thị trấn Phù Mỹ… trồng với số lượng từ 5 - 75 ha.

Đến nay, nông dân các địa phương đã xuống giống xong diện tích kiệu và đang tiến hành các bước chăm sóc, với ước mong một mùa kiệu tết thu hoạch khá.

THANH TRỌN

‘Cây vàng’ Viễn Sơn

Nguồn tin: Báo Yên Bái

Là người trồng quế lâu năm, ông Triệu Tiến Bảo ở thôn Khe Lợ luôn trân trọng loại cây đem lại ấm no cho người Dao nơi đây...

Viễn Sơn chú trọng phát triển diện tích quế (ảnh minh họa).

Xã Viễn Sơn, huyện Văn Yên (tỉnh Yên Bái), có 854 hộ, 3.554 khẩu và đồng bào Dao chiếm khoảng 76% dân số. Phát huy tiềm năng, thế mạnh đồi rừng, hàng năm, xã chỉ đạo, vận động đồng bào tập trung trồng mới từ 150 - 200 ha quế, nâng tổng diện tích quế lên trên 2.700 ha.

Là người trồng quế lâu năm, ông Triệu Tiến Bảo ở thôn Khe Lợ luôn trân trọng loại cây đem lại ấm no cho người Dao nơi đây, nên dù có lúc giá cả bấp bênh, nhiều hộ phá bỏ quế trồng các loại cây khác, song ông Bảo coi cây quế luôn là "người bạn” không thể tách rời và năm nào ông cũng trồng mới từ 1 đến 2 ha quế vào diện tích đất trống, diện tích vừa khai thác.

Ông Bảo chia sẻ: "Hiện, tôi có trên 15 ha quế, trong đó, 10 ha đang khai thác cho thu nhập trên 300 triệu đồng/năm”.

Ông Bảo còn tạo việc làm thời vụ cho trên 10 lao động với thu nhập 5 - 6 triệu đồng/người/tháng. Ông Trần Văn Tráng ở thôn Khe Dứa có diện tích quế trên 20 ha; trong đó, phần lớn đang trong thời kỳ khai thác, mang lại thu nhập bình quân mỗi năm từ 150 - 200 triệu đồng.

Ông Tráng đã xây được nhà cao tầng, mua xe máy, ti vi, các vật dụng đắt tiền. Ông Tráng chia sẻ: cây quế hợp với thổ nhưỡng nơi đây, nên cứ trồng, chăm sóc là sinh trưởng tốt cho thu hoạch nhanh và đây đúng nghĩa là "cây vàng”.

Hàng năm, Viễn Sơn có trên 200 hộ trồng quế có mức thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên và giải quyết việc làm ổn định cho trên 1.000 lao động. Không chỉ phát triển ổn định diện tích, xã còn tạo điều kiện để người dân chủ động nâng cao giá trị các sản phẩm từ cây quế.

Theo đó, một số hộ mạnh dạn đầu tư máy móc, phương tiện chế biến các sản phẩm từ quế như: chưng cất tinh dầu, mua ô tô vận tải nguyên liệu quế, chế biến gỗ quế. Xã hiện có 1 doanh nghiệp chưng cất tinh dầu quế, nhiều cơ sở thu mua các sản phẩm quế và thường xuyên giải quyết việc làm cho trên 300 lao động với mức thu nhập từ 5 triệu đồng/người/tháng trở lên. Điển hình như cơ sở sản xuất của ông Trần Hồng Quân, ông Trần Văn Tráng ở thôn Khe Dứa…

Ông Bàn Phúc Hín - Chủ tịch UBND xã Viễn Sơn cho biết: việc mở rộng diện tích quế, hình thành các cơ sở chế biến sản phẩm từ quế đã tạo việc làm ổn định cho hàng ngàn lao động với nguồn thu nhập khá ổn định, góp phần vào công cuộc giảm nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân địa phương.

Đặc biệt, việc xây dựng mô hình kết hợp du lịch sinh thái rừng quế gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc Dao đã, đang và sẽ là nét văn hóa đặc sắc của Văn Yên thu hút du khách.

Trần Ngọc

Cây mắc ca ‘bén đất’ Kbang

Nguồn tin: Báo Gia Lai

Theo Quyết định số 1134/QĐ-BNN-TCLN của Bộ Nông nghiệp và PTNT về quy hoạch phát triển cây mắc ca vùng Tây Bắc và Tây Nguyên đến năm 2020 và tiềm năng phát triển đến 2030, huyện Kbang (Gia Lai) được phê duyệt trồng 600 ha, trong đó có 550 ha trồng xen và 50 ha trồng thuần. Được sự hỗ trợ từ chương trình, đến nay, người dân trên địa bàn huyện đã trồng được 554 ha cây mắc ca.

Trồng mắc ca cho thu nhập cao

Năm 2012, gia đình ông Mai Ngọc Hoàn (làng Sinh, xã Krong) được huyện hỗ trợ 130 cây mắc ca. Được hướng dẫn trồng xen canh, ông Hoàn mang số cây này về trồng trong vườn cà phê với diện tích 5 sào. Ông Hoàn cho hay: Thời điểm đó, do chưa hiểu hết giá trị của cây mắc ca nên ông chỉ trồng mà ít quan tâm chăm sóc. Vậy mà cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh, tỷ lệ sống trên 90%. Năm 2016, ông Hoàn bắt đầu tập trung chăm sóc, tưới nước, bón phân chuồng. Năm sau, cây ra hoa đậu quả. Năm nay, hơn 100 gốc mắc ca cho thu trên 7 tạ quả. Với giá bán 40.000 đồng/kg quả, gia đình ông thu về gần 30 triệu đồng. Bên cạnh đó, ông Hoàn còn thu được 20 triệu đồng từ cây cà phê. “Hiện nay, cây mắc ca cho thu nhập cao hơn so với cây trồng khác. Hạt mắc ca dễ bán, được thương lái vào tận vườn đặt mua”-ông Hoàn nhận xét.

Tương tự, năm 2014, gia đình bà Trương Thị Phước (thôn Hợp Thành, xã Sơn Lang) cũng được huyện hỗ trợ 250 cây mắc ca giống QN1. Xác định trồng thuần nên bà Phước trồng với khoảng cách 8x8 m (nếu trồng xen, cây cách cây 9-10 m) trong vườn cà phê rộng hơn 1 ha. Bà Phước nói: “Trồng mắc ca được 3 năm thì tôi phá bỏ cây cà phê. Nhờ chăm bón đầy đủ mà năm nay gia đình tôi thu được 7 tạ nhân. Với giá bán 90-120 ngàn đồng/kg nhân, gia đình tôi thu về trên 60 triệu đồng sau khi đã trừ chi phí”.

Ông Đinh Dúy (làng Tăng Lăng, xã Krong) trồng 100 cây mắc ca ở khu đất gần nhà để tiện chăm sóc. Ảnh: N.M

Hiện nay, trên địa bàn huyện Kbang có 554 ha cây mắc ca, trong đó, nhiều nhất là các xã Đak Rong 182 ha, Sơ Pai 166 ha, Sơn Lang 102 ha, Krong 46 ha, thị trấn Kbang 44 ha, Kon Pne 10 ha... Hiện đã có 54 ha mắc ca cho thu hoạch. Theo kinh nghiệm của các hộ dân, đây là loại cây không tốn nhiều công chăm sóc, không đòi hỏi kỹ thuật cao; chỉ tập trung đầu tư chi phí năm đầu tiên và giảm dần theo từng năm; hạt mắc ca được thị trường ưa chuộng, do đó đầu ra rất thuận lợi.

Hỗ trợ mở rộng diện tích

Những năm qua, nông dân huyện Kbang được hỗ trợ cây giống mắc ca từ nhiều nguồn: Chương trình 135, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Công ty cổ phần Mắc ca Liên Việt Tây Nguyên. Ngày 11-7-2019, nhân chuyến công tác đến Kbang, Bí thư Tỉnh ủy Dương Văn Trang cũng đã tặng 20 hộ dân làng Hà Đừng 1 (xã Đak Rong) 2.000 cây mắc ca. Tính từ đầu năm đến nay, người dân trên địa bàn huyện đã trồng được hơn 110 ha cây mắc ca, chủ yếu là trồng xen.

Gia đình bà Đinh Thị Thóa (làng Hà Đừng 1, xã Đak Rong) thuộc diện hộ nghèo. Bà có hơn 2 ha đất trồng đậu, bắp, lúa. Được Trung tâm Khuyến nông Quốc gia hỗ trợ 83 cây mắc ca và phân vi sinh bón trong 2 năm đầu để chuyển đổi cây trồng, bà Thóa vui mừng chia sẻ: “Tôi đã đào hố đúng kích thước, bỏ phân lót theo hướng dẫn kỹ thuật. Nhận cây về là cả nhà xúm lại trồng. Sau đó, tôi trồng trồng đậu ở phần đất trống giữa các hàng cây. Cách trồng này nhằm lấy ngắn nuôi dài, giúp tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập”.

Còn ông Đinh Dúy (làng Tăng Lăng, xã Krong) thì tâm sự: “Gia đình mình có 2,5 ha chủ yếu trồng đậu, bắp và lúa. Mình rất thích trồng cây mắc ca nhưng điều kiện khó khăn chưa thể thực hiện được. Nay được Nhà nước quan tâm hỗ trợ 100 cây mắc ca, mình vui lắm. Số cây này mình trồng ở khu đất 9 sào gần nhà để tiện cho việc chăm sóc. Mình sẽ đào hố, bón phân, tưới nước… theo đúng quy trình kỹ thuật. Cán bộ Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện hướng dẫn cho mình và bà con trong làng rồi mà”.

Nhận xét về cây mắc ca, ông Mã Văn Tình-Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Kbang-cho biết: “Cây mắc ca được trồng thí điểm trên địa bàn huyện Kbang từ năm 2011, chủ yếu trồng xen canh trong vườn cà phê. Sau thời gian theo dõi, chúng tôi thấy cây thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu ở Kbang nên sinh trưởng, phát triển tốt. Năng suất bình quân đạt 5 tạ nhân/ha, với giá bán khoảng 100 ngàn đồng/kg thì người dân thu về 50 triệu đồng/ha, chưa kể thu nhập từ cây cà phê, đậu, bắp… Ngành Nông nghiệp huyện đang tăng cường phối hợp với UBND các xã, thị trấn mở lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc cây mắc ca cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích người dân trồng từ 2 giống mắc ca trở lên trên cùng một vườn nhằm tăng năng suất, nâng cao thu nhập cho người dân”.

NGỌC MINH

Nuôi chồn hương làm giàu

Nguồn tin: Báo Cần Thơ

Những năm gần đây, mô hình nuôi chồn hương được nhiều nông hộ ứng dụng, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Với lợi thế phù hợp môi trường nuôi nhốt, chi phí nuôi thấp, giá bán cao, nuôi chồn hương là hướng đi mới, tiềm năng đang được 10 thành viên của Hợp tác xã động vật hoang dã Tư Khánh, TP Cần Thơ, khai thác.

Anh Trần Quốc Khánh, Giám đốc HTX động vật hoang dã Tư Khánh giới thiệu mô hình nuôi chồn hương của gia đình.

Chồn hương (hay còn gọi cầy vòi hương) là động vật hoang dã, sống chủ yếu ngoài môi trường tự nhiên. Gần đây, loài vật này đang được thuần hóa, trở thành vật nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao. Theo ông Hà Tấn Tòng, Chủ tịch Hội Nông dân xã Giai Xuân, huyện Phong Điền, trước đây, trên địa bàn xã có vài hộ nuôi chồn hương nhỏ lẻ. Nhận thấy đây là mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao, có đầu ra ổn định, Hội Nông dân xã đã thành lập Hợp tác xã (HTX) động vật hoang dã Tư Khánh tại ấp Thới Thạnh. Thông qua việc thành lập HTX, Hội Nông dân xã phối hợp hỗ trợ, giúp các thành viên đăng ký giấy phép kinh doanh để có điều kiện phát triển và nhân rộng mô hình này.

Là hộ đầu tiên nuôi chồn hương tại ấp Thới Thạnh, xã Giai Xuân, anh Trần Quốc Khánh, Giám đốc HTX động vật hoang dã Tư Khánh, chia sẻ: “Gia đình tôi chỉ có 4 công đất vườn. Trước đây, ngoài làm vườn, tôi chỉ nuôi cá, nuôi heo,… thu nhập bấp bênh. Cách đây 8 năm, tôi được người cậu giới thiệu mô hình nuôi chồn hương và duy trì đến nay”. Những ngày đầu thử sức với mô hình mới đầy lạ lẫm, anh Khánh chỉ mua 2 con cái và 1 con chồn hương đực để làm giống. Do chưa hiểu tập tính của loài vật này, nên sau khi sinh sản, chồn con bị chết. Dần dà, anh Khánh tìm tòi, học hỏi các tài liệu, sách báo, tự rút kinh nghiệm. Anh Khánh chia sẻ bí quyết: “Chuồng nuôi chồn hương đóng bằng cây, che lưới nên không tốn nhiều chi phí. Nuôi chồn hương không tốn nhiều diện tích, tuy nhiên vì chúng thường cắn nhau nên phải tách mỗi con một chuồng để đảm bảo an toàn. Thức ăn chính của chồn hương là chuối xiêm chín và cá đồng. Mỗi ngày, chỉ cần cho ăn 2 lần, mỗi lần vài trái chuối, vài con cá nhỏ”.

Thức ăn chính của chồn hương chỉ là trái cây và cá đồng nên ít tốn chi phí chăm sóc.

Theo anh Khánh, để tránh tình trạng chồn nuôi mắc bệnh đường tiêu hóa, anh Khánh không cho chồn ăn các loại cá biển mà chỉ cho ăn cá đồng tươi sống. Gia đình anh Khánh đang nuôi 15 con cái và 2 con chồn đực. Trung bình mỗi năm, chồn hương sinh sản 1-2 lứa, mỗi lứa 3-4 con. Hiện nay, thương lái đến tận nhà thu mua chồn thịt nên các thành viên HTX không lo lắng đầu ra. Anh Khánh nhận định: “Giá chồn hương giống 5 triệu đồng/cặp; giá chồn hương thịt từ 1-1,2 triệu đồng/ký. Với giá bán ổn định này, bình quân cứ nuôi khoảng 20 con chồn hương cái, có thể thu nhập khoảng 300 triệu đồng/năm”.

Chú Trần Văn Vui, cùng ngụ ấp Thới Thạnh, xã Giai Xuân, bộc bạch: “Gia đình tôi nuôi chồn hương 2-3 năm nay. Hiện nay, tính cả đực lẫn cái, chuồng nuôi của tôi có 12 con. So sánh với các mô hình chăn nuôi khác, tôi nhận thấy mô hình nuôi chồn hương mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Nếu biết cách chăm sóc, chồn hương có thể sinh sản 3 lứa mỗi năm. Trung bình mỗi con chồn hương mang lại thu nhập khoảng 25 triệu đồng/năm. Nuôi chồn hương không chỉ ít tốn diện tích nuôi lại nhẹ công chăm sóc. Ngoài nuôi chồn, tôi còn tranh thủ làm vườn để tăng thu nhập”.

Hiện nay, khi có giấy phép kinh doanh, các thành viên HTX động vật hoang dã Tư Khánh rất phấn khởi, dự định phát triển và nhân rộng mô hình này. Với hiệu quả kinh tế khá cao, mô hình nuôi chồn hương hứa hẹn đem lại cho các thành viên HTX nguồn thu nhập khấm khá.

Bài, ảnh: Hồng Vân

Chủ động dự trữ nguồn thức ăn cho đại gia súc trong mùa đông

Nguồn tin: Báo Tuyên Quang

Toàn tỉnh Tuyên Quang hiện có hơn 130.000 con gia súc, chủ yếu là trâu, bò. Để chủ động phòng, chống đói, rét cho đàn gia súc trong mùa đông, các địa phương trong tỉnh Tuyên Quang đang tích cực tuyên truyền các biện pháp phòng, chống đói, rét cho gia súc; triển khai tiêm phòng các loại vắc xin cho vật nuôi vụ đông xuân 2019 - 2020; hướng dẫn nông dân phương pháp dự trữ thức ăn cho đàn vật nuôi.

Ông Ma Phúc Khứu, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chiêm Hóa cho biết, những năm trở lại đây, tổng đàn gia súc trên địa bàn huyện đã tăng cả về số lượng và chất lượng với tổng đàn hơn 30.320 con. Huyện phát triển mạnh mô hình chăn nuôi trâu, bò vỗ béo tại 8 xã với hơn 1.400 con. Vì vậy, công tác bảo vệ, tránh đói, rét cho đàn gia súc trong mùa đông được huyện Chiêm Hóa thực hiện nghiêm túc. Tuy nhiên, hiện nay, ở một số xã người dân còn duy trì chăn nuôi theo hình thức chăn thả, do đó việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân trong công tác phòng, chống rét và dịch bệnh cho đàn gia súc được huyện đặc biệt quan tâm. Hơn nữa, thời gian vừa qua, trên địa bàn huyện xảy ra nhiều trận mưa, lũ khiến chuồng trại chăn nuôi của các hộ dân bị hư hỏng, ảnh hưởng đến việc chống rét cho đàn vật nuôi. Vì vậy, để vật nuôi được giữ ấm trong mùa đông năm nay, UBND huyện đã xây dựng phương án phòng, chống đói, rét và dịch bệnh cho đàn vật nuôi trong vụ đông - xuân, vận động người chăn nuôi bảo vệ đàn gia súc; chủ động phòng, chống đói, rét, trong mùa đông tới, giảm thiểu tới mức thấp nhất thiệt hại. Đồng thời, vận động các hộ dân dự trữ đủ thức ăn cho vật nuôi trong mùa đông; không thả rông gia súc trong mùa đông.

Anh Ma Trọng Kiểm, thôn Nặm Kép, xã Hùng Mỹ (Chiêm Hóa) chuẩn bị bạt che chắn và thường xuyên vệ sinh sạch sẽ khu vực chuồng nuôi.

Anh Ma Trọng Kiểm, thôn Nặm Kép, xã Hùng Mỹ (Chiêm Hóa) cho biết, gia đình anh nuôi 13 con trâu, bò vỗ béo. Để chủ động nguồn thức ăn cho đàn gia súc trong mùa đông tới, gia đình anh đã trồng 1 ha cỏ VA06, tích trữ thức ăn tinh, thô như ngô hạt, thóc, sắn, rơm, rạ, cỏ ngay sau khi thu hoạch lúa mùa và bảo quản các phụ phẩm nông nghiệp này làm thức ăn và chuẩn bị bạt để che kín chuồng nuôi giữ ấm cho gia súc trong những ngày giá rét.

Gia đình anh Cháng A Bào, thôn Tiên Tốc, xã Bình An (Lâm Bình) đã đầu tư hơn 30 triệu đồng xây mới khu vực chuồng trại chăn nuôi 6 con trâu vỗ béo của gia đình. Bảo đảm có đủ nguồn thức ăn cho đàn gia súc, gia đình anh tận dụng diện tích đất vườn tạp trồng thêm cỏ VA06, tích cực trồng cây ngô vụ đông để làm thức ăn cho gia súc trong mùa đông. Ngoài ra, gia đình còn thực hiện phương pháp ủ chua thức ăn dự trữ, bảo đảm trâu, bò đủ thức ăn trong mùa đông.

Theo ông Nguyễn Văn Công, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh, công tác phòng chống đói, rét cho đàn gia súc đang được ngành, các địa phương tập trung triển khai. Ngành Nông nghiệp tỉnh phân công cán bộ xuống các địa phương hướng dẫn người dân biện pháp kỹ thuật phòng chống đói, rét, dịch bệnh, dự trữ thức ăn cho gia súc. Qua rà soát, đánh giá của ngành, về cơ bản các hộ chăn nuôi đều có chuồng trại đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và có đủ thức ăn dự trữ trong mùa đông; gia súc phải được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin phòng chống bệnh.

Với sự vào cuộc của các ngành chức năng, sự chủ động của người dân, trong những năm qua, rất ít trâu, bò bị chết đói, chết rét trong mùa đông. Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của thời tiết năm nay, các địa phương không được chủ quan lơ là, thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống đói rét, đồng thời hướng dẫn bà con áp dụng đồng bộ các biện pháp để bảo vệ đàn gia súc trong mùa đông.

Bài, ảnh: Cao Huy

Phát triển chăn nuôi bò sữa: Vẫn chưa tương xứng tiềm năng

Nguồn tin: Hà Nội Mới

Chăn nuôi bò sữa có tốc độ tăng trưởng cao nhất ngành chăn nuôi. Tiếc rằng, việc phát triển vật nuôi này trên địa bàn thành phố Hà Nội vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, do quy mô nhỏ lẻ, giá bán sữa lên xuống bấp bênh...

Hiện tại, hầu hết các hộ chăn nuôi bò sữa ở Hà Nội gặp khó khăn và thu nhập rất thấp. Ông Đặng Thế Truyền, hộ chăn nuôi bò sữa ở xã Phù Đổng (huyện Gia Lâm) cho biết: Trước đây, gia đình nuôi 15 con bò sữa, nhưng do giá sữa không ổn định, mặt khác do thiếu vốn đầu tư cho khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sữa, nên hiện chỉ nuôi 8 con để lấy công làm lãi.

Về những khó khăn của người nuôi bò sữa, ông Trần Xuân Tĩnh, Chủ tịch UBND xã Phù Đổng lý giải do quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, thủ công nên năng suất, chất lượng sản phẩm hạn chế. Giá vật tư đầu vào tăng, trong khi giá thu mua sữa nguyên liệu giảm nên người chăn nuôi không có lãi và chuyển sang ngành nghề khác. So với giai đoạn đỉnh điểm, đàn bò sữa của xã Phù Đổng lên tới 2.000 con, nhưng hiện giảm chỉ còn 1.560 con.

Nhìn nhận về vấn đề này, ông Hoàng Kim Vũ, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển nông nghiệp Hà Nội cho hay, hiện tổng đàn bò sữa toàn thành phố khoảng 14.000 con, giảm 10% so với cùng kỳ năm 2018. Ở nhiều nơi, các hộ nuôi bò sữa đã chuyển sang làm việc khác do gặp bất lợi trong khâu tiêu thụ sản phẩm. "Các doanh nghiệp, hợp tác xã ký hợp đồng thu mua sản phẩm sữa bò của nông dân với mức giá từ 9.000 đến 14.000 đồng/kg, tùy chất lượng. Thế nhưng, việc xác định chất lượng sản phẩm sữa lại do bên mua hoàn toàn quyết định, do đó người chăn nuôi ở thế bị động và thiệt thòi", ông Hoàng Kim Vũ thông tin.

Từ thực tiễn phát triển chăn nuôi bò sữa, ông Nguyễn Mạnh Hà ở xã Phù Đổng (huyện Gia Lâm) kiến nghị: Để ổn định phát triển chăn nuôi và chất lượng sản phẩm sữa bò, các cấp, các ngành thành phố cần quy hoạch phát triển ổn định vùng trồng cỏ làm thức ăn cho vật nuôi; có chính sách hỗ trợ người dân vốn đầu tư khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm; cùng với đó, đứng ra làm khâu trung gian hỗ trợ người dân trong việc ký kết hợp đồng với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm để bảo đảm quyền lợi giữa các bên.

Để giúp người dân khắc phục khó khăn, duy trì phát triển chăn nuôi bò sữa, mang lại thu nhập cao hơn, trước mắt, ngành Nông nghiệp Hà Nội đang phối hợp với các huyện có chăn nuôi bò sữa tổ chức tập huấn kiến thức cho người chăn nuôi, như: Sử dụng đúng chủng loại, liều lượng thức ăn, vệ sinh chuồng trại chăn nuôi, tiêm phòng cho vật nuôi. Về lâu dài, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Nguyễn Huy Đăng khẳng định: Sở sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm sữa gắn kết từ người chăn nuôi đến trạm thu gom và nhà máy chế biến sản xuất sữa.

Để làm được việc này, chính quyền địa phương nơi đang phát triển chăn nuôi bò sữa cần tăng cường kiểm tra việc xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm; việc sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu của các cơ quan thu mua sữa nhằm gắn trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên trong việc tiêu thụ sữa. Cùng với đó, tuyên truyền, vận động người chăn nuôi phát triển đàn bò sữa theo vùng, xã trọng điểm nhằm hạn chế dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

NGỌC QUỲNH

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop