Tin nông nghiệp ngày 07 tháng 10 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 07 tháng 10 năm 2019

Quảng Trị: Sâm Ngọc Linh đâm chồi, nảy lá trên đỉnh Sa Mù

Nguồn tin: Sài Gòn Giải Phóng

Lần đầu tiên được Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa di thực trồng tại khu vực đỉnh đèo Sa Mù (huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị).

Trước đó, UBND tỉnh Quảng Trị đã phân bổ 500 triệu đồng để Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa đầu tư mua giống cây sâm Ngọc Linh đưa về trồng thử nghiệm ở địa phương.

Hơn 1.100 cây sâm Ngọc Linh được theo dõi, chăm sóc

Giống sâm được mua tại các vườn ươm ở huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam mang về trồng, cây giống được 1 năm tuổi, với giá 360.000 đồng/cây.

Khu vực đèo Sa Mù có độ cao từ 1.200m đến 1.500m so với mực nước biển, nơi trồng thử nghiệm thuộc khu vực rừng nguyên sinh, tán rừng ẩm, nhiều mùn, có nhiệt độ trung bình ban ngày 18-23 độ C, ban đêm 12-15 độ C khá tương đồng với vùng núi Ngọc Linh nơi được mệnh danh thủ phủ sâm Ngọc Linh.

Hiện cây sinh trưởng, phát triển tốt

Sau gần 2 tháng đưa về trồng và chăm sóc cây sâm sinh trưởng, phát triển khá tốt. Hiện một số cây, phần thân, lá đã rụng do cây bắt đầu giai đoạn ngủ đông kéo dài đến hết tháng 12.

Một số cây Sâm Ngọc Linh bắt đầu ngủ đông

Ông Hà Văn Hoan, Giám đốc Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị cho biết: “Để bảo vệ cây sâm chúng tôi luôn phân công cán bộ theo dõi khu vực thường xuyên nhằm ngăn chặn sự tác động của con người, môi trường cũng như động vật. Quá trình trồng, chăm sóc cây sâm luôn có sự tham gia, giám sát của hơn 30 hộ dân thuộc các xã Hướng Việt, Hướng Sơn, Hướng Lập… của huyện miền núi Hướng Hóa.

Các hộ dân trên được tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc, sau này người dân địa phương sẽ chủ động hơn khi đơn vị chuyển giao kỹ thuật trồng nếu mô hình trồng sâm Ngọc Linh trên đỉnh Sa Mù thành công, sẽ là hướng phát triển mới mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân”.

NGUYỄN HOÀNG

Những sản vật nổi tiếng của Bà Rịa - Vũng Tàu: Xứ sở ‘vàng đen’ - ngày ấy bây giờ

Nguồn tin: Báo Bà Rịa - Vũng Tàu

BR-VT là một trong sáu tỉnh sản xuất hồ tiêu lớn nhất của cả nước. Tiêu đen BR-VT hạt to, vỏ mỏng… rất được thị trường ưa chuộng và là sản phẩm đặc trưng của vùng đất bazan có độ phì cao. Loài cây được mệnh danh “vàng đen” này không chỉ giúp nhiều người trở thành tỷ phú, mà còn định hình một thương hiệu cây công nghiệp của BR-VT .

Thu hoạch tiêu tại nhà ông Nguyễn Phương Đông, xã Bàu Chinh, huyện Châu Đức.

Theo các hộ trồng tiêu lâu năm, hồ tiêu bắt đầu “bén rễ” ở vùng đất Quảng Thành (huyện Châu Đức) vào nửa cuối thập niên 1970, gắn với quá trình di dân làm kinh tế mới. Đầu tiên, bà con chủ yếu trồng cây lương thực. Sau khi ổn định cuộc sống, các hộ dân bắt đầu lựa chọn cây trồng để tăng thu nhập. Khu vực xã Quảng Thành, khi đó đang thuộc tỉnh Đồng Nai có diện tích đất bazan lớn, lại có nhiều hồ nước nên rất phù hợp với cây hồ tiêu. “Do đó, nhiều bà con đã lựa chọn loại cây này để trồng. Tôi còn nhớ, cuối những năm 1970, đầu 1980, hồ tiêu đã có giá trị rất lớn. Có những thời điểm 5kg tiêu đổi được khoảng 1 chỉ vàng, 3kg đổi được được 1 tạ gạo nên đời sống các hộ dân nơi đây rất khấm khá. Các vườn tiêu thẳng tắp, xanh ngát liên tiếp được mọc lên”, ông Võ Khắc Thuyết, Chủ tịch UBND xã Quảng Thành, huyện Châu Đức kể lại.

Bên cạnh khai hoang, khá nhiều diện tích canh tác hồ tiêu của huyện Châu Đức hiện nay thuộc Nông trường Cà phê Đồng Nai cũ. Đến năm 1991, khi tách tỉnh, một phần diện tích này được chia lại để cán bộ, công nhân của nông trường canh tác, sản xuất. Ông Trần Văn Mậu (ấp Tân Thành, xã Quảng Thành, huyện Châu Đức) cho biết, đa số các hộ được mua lại đất đều chọn trồng hồ tiêu bởi thời điểm đó giá bán rất cao. Nhiều gia đình xây nhà lầu, mua xe hơi, con cái học hành thành đạt cũng nhờ thu nhập từ hồ tiêu. Từ đó đến nay, diện tích trồng loại cây này liên tục tăng lên và đã trở thành loại cây trồng chủ lực tại địa phương.

Nhưng nói đến hồ tiêu BR-VT không thể không nhắc đến thương hiệu tiêu Bầu Mây do anh Lâm Ngọc Nhâm, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nông nghiệp Thương mại Du lịch Bầu Mây ở huyện Xuyên Mộc cấy ghép. Anh Lâm Ngọc Nhâm cho biết: “Năm 2005, tôi phát hiện trong vườn có một gốc tiêu năm nào cũng cho năng suất cao gấp rưỡi so với các giống khác, kháng bệnh tốt, ít dịch hại. Tôi đã thử nghiệm cắt dây làm giống, năng suất cao gấp 2-3 lần so với các loại giống tiêu thông thường như Vĩnh Linh, Ấn Độ… Tôi đã lấy thương hiệu Bầu Mây đặt tên cho giống tiêu này. Đây cũng là giống tiêu được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam trao chứng nhận “Sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu năm 2014”.

Theo quy hoạch đến năm 2020, diện tích hồ tiêu toàn tỉnh là 7.000ha, sản lượng tiêu khoảng 16.800 tấn, trong đó xuất khẩu 16.200 tấn, còn lại tiêu thụ nội địa. Để đảm bảo lợi nhuận cho người nông dân và phát triển bền vững, huyện Châu Đức và huyện Xuyên Mộc đã triển khai dự án “Phát triển hồ tiêu bền vững”. Dự án nhằm hướng dẫn người dân canh tác theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm, đáp ứng các tiêu chí xuất khẩu của các nước trong đó chủ yếu là hạn chế thành phần dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Giống tiêu Bầu Mây do anh Nhâm dày công nghiên cứu, ươm tạo và phát triển với những đặc điểm khác biệt: có bộ rễ cái to khỏe gấp 10 lần giống khác, tiêu trưởng thành phân bố mầm đều, chịu được hạn, kháng bệnh tốt, năng suất cao từ 10-12 tấn/ha, ổn định qua các năm. Hiện giống tiêu Bầu Mây đã được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Tiêu Bầu Mây tại Cục Sở hữu trí tuệ, chất lượng hạt tiêu vượt trội được đối tác Nhật Bản, một thị trường khó tính đánh giá cao. Bộ sản phẩm thương hiệu Bầu Mây cung cấp đến người tiêu dùng hiện nay gồm: nước chấm, muối tiêu xanh, tiêu không hạt, tiêu đỏ, tiêu đen, tiêu xanh, củ hoài sơn,… Đặc điểm nổi bật của các sản phẩm thương hiệu Bầu Mây là có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; đạt chuẩn quốc tế Global GAP; là thương hiệu nông sản sạch hữu cơ của Việt Nam, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, giá trị và hàm lượng dinh dưỡng cao; áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn ISO 22000, hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử gắn với bộ nhận diện thương hiệu Bầu Mây.

QUANG VINH

Xuất khẩu nông sản Sơn La đạt hơn 100 triệu USD trong 9 tháng

Nguồn tin:  VOV

Giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu của Sơn La đạt 100,4 triệu USD trong 9 tháng năm 2019, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Hoạt động quảng bá, xúc tiến tiêu thụ, xuất khẩu nông sản tiếp tục được tỉnh Sơn La triển khai tích cực. Nhờ vậy, 9 tháng qua, tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của tỉnh đã đạt 103 triệu USD, tăng hơn 14% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu đạt 100,4 triệu USD, tăng 11,4%. Thị trường xuất khẩu sang các nước ngày càng được mở rộng, ngoài xuất sang Trung Quốc, Campuchia, sản phẩm nông sản của Sơn La đã vươn đến các nước: Anh, Mỹ, Australia, Hàn Quốc, Nhật Bản…

Xoài là một trong những mặt hàng xuất khẩu của tỉnh Sơn La.

Theo Lãnh đạo ngành nông nghiệp tỉnh Sơn La: 9 tháng năm 2019, Sơn La tiếp tục trồng mới trên 11.000ha cây ăn quả, nâng tổng số cây ăn quả và cây sơn tra toàn tỉnh lên 70.000ha; mục tiêu đến năm 2020 là 100.000ha cây ăn quả.

Để giúp người trồng cây ăn quả ngày càng thu nhập cao, thị trường xuất khẩu ổn định, tỉnh Sơn La xác định tiếp tục đẩy mạnh liên kết sản xuất với nhu cầu thị trường, tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng kinh tế với các doanh nghiệp thu gom, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu.

Bên cạnh đó là phát triển các hợp tác xã, khuyến khích hình thành liên hiệp hợp tác xã cho một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực có quy mô lớn, có sức lan tỏa, trên cơ sở hình thành các chuỗi sản xuất, cung ứng sản phẩm nông sản an toàn…

Đến hết năm 2019, tỉnh phấn đấu tiêu thụ, chế biến, xuất khẩu đạt gần 150 triệu USD, tăng 30% so với năm trước./.

Thu Thùy/VOV-Tây Bắc

Bạc Liêu: Những mô hình sản xuất hiệu quả

Nguồn tin:  Báo Bạc Liêu

Thời gian qua, nông dân trong tỉnh áp dụng nhiều mô hình sản xuất tuy không mới nhưng đạt hiệu quả kinh tế khá cao, mang tính bền vững và được nhân rộng. Qua đó góp phần đa dạng hóa cây trồng - vật nuôi, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho nông dân.

Mô hình lúa - tôm ở TX. Giá Rai.

Nông dân huyện Phước Long thu hoạch tôm càng xanh.

Nông dân xã Vĩnh Phú Đông (huyện Phước Long) thu hoạch bắp. Ảnh: M.Đ

MÔ HÌNH LÚA - TÔM

Lúa - tôm được khẳng định là mô hình sản xuất hiệu quả, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, cho thu nhập bình quân khoảng 100 triệu đồng/ha/năm. Toàn tỉnh hiện có gần 45.000ha áp dụng mô hình này, tập trung ở các huyện: Hồng Dân, Phước Long và một phần của TX. Giá Rai. Đặc biệt ở huyện Hồng Dân và Phước Long, phần lớn nông dân áp dụng 1 vụ tôm - 1 vụ lúa kết hợp với nuôi tôm càng xanh nên cho thu nhập cao hơn.

Ông Tăng Văn Dũng (xã Phước Long, huyện Phước Long) có 1,5ha đất sản xuất theo mô hình lúa - tôm, mỗi năm lãi 260 triệu đồng. Theo ông Dũng, mô hình lúa - tôm đạt hiệu quả cao, nhất là ở vụ lúa trên đất tôm. Nhờ thực hiện chương trình “3 giảm - 3 tăng”, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) nên năng suất lúa đạt khá cao.

Ở TX. Giá Rai, nhiều diện tích đất sản xuất kém hiệu quả cũng được nông dân chuyển sang mô hình lúa - tôm. Ông Nguyễn Minh Hoàng (xã Phong Tân, TX. Giá Rai) cho biết: “Tôi có 2,5ha đất nuôi trồng thủy sản. Ban đầu tôi áp dụng thử nghiệm 0,5ha theo mô hình lúa - tôm, thấy có hiệu quả nên tôi chuyển toàn bộ diện tích đất sản xuất theo mô hình này. Mô hình sản xuất lúa - tôm không gây ảnh hưởng đến môi trường; giảm được dịch bệnh trên cả tôm và lúa; giảm chi phí và tăng lợi nhuận”.

Những diện tích áp dụng mô hình lúa - tôm đều cho năng suất khá cao. Tôm nuôi trong ruộng lúa năng suất bình quân 300 - 400kg/ha, lợi nhuận khoảng 50 - 60 triệu đồng/ha/năm (lợi nhuận cao hơn so với chuyên trồng lúa). Còn lúa trên đất nuôi tôm (áp dụng các giống lúa chịu mặn như OM 5451, OM 2017...) nên năng suất đạt 4 - 5 tấn/ha.

ĐƯA MÀU XUỐNG RUỘNG

Nhiều năm qua, ông Lâm Kinh Sử (xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long) áp dụng mô hình đưa màu xuống ruộng. Gia đình ông có 6 công đất, trong đó 4 công đất ruộng và 2 công đất trồng chuối. Trước đây, thu nhập chủ yếu của gia đình là từ trồng lúa. Năm 2010, sau khi đi tham quan các mô hình sản xuất hiệu quả từ các địa phương khác, ông Sử quyết định chuyển đổi sản xuất, trồng cây bắp trên ruộng. Ông Sử cho biết: “Lúc đầu tôi trồng thử 4 công bắp để xem hiệu quả như thế nào. Qua một năm trồng thử nghiệm, thấy thu nhập ổn định nên tôi trồng hết 6 công bắp. Mỗi năm, sau khi trừ chi phí, tôi lãi khoảng 110 triệu đồng, lợi nhuận gấp 2 lần so với trồng lúa. Bắp được thương lái mua tại ruộng, giá cả cũng ổn định”.

Anh Nguyễn Văn Hùng (thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình) cũng khá lên nhờ mô hình đưa dưa hấu xuống ruộng. Sau khi tham quan các mô hình trồng màu ở nhiều nơi, anh Hùng quyết định chuyển đổi gần 1ha đất trồng lúa sang trồng bắp và dưa hấu, trên bờ bao thì trồng đu đủ. Nhờ áp dụng mô hình đưa màu xuống ruộng kết hợp với đa cây nên mỗi năm anh Hùng lãi từ 150 - 180 triệu đồng. Anh Hùng chia sẻ: “Từ khi chuyển đổi sản xuất đưa màu xuống ruộng, gia đình tôi thoát cảnh khó khăn, có của ăn của để”.

Hiện nay, nhiều nông dân trong tỉnh đã ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật để sản xuất nông sản sạch cung ứng cho thị trường, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Để giúp bà con sản xuất bền vững, ngành chức năng cần tăng cường mở các lớp tập huấn, hướng dẫn nông dân sản xuất theo hướng bền vững, an toàn sinh học nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, tăng thu nhập.

Theo ông Dương Thành Trung, Chủ tịch UBND tỉnh: Nông dân cần liên kết sản xuất, tạo nguồn nông sản sạch để nâng cao giá trị sản phẩm. Thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã làm đầu mối liên kết với các doanh nghiệp thực hiện chuỗi giá trị trong nông nghiệp (từ sản xuất, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm). Phát triển mô hình lúa - tôm theo hướng tôm sạch, lúa chất lượng để nâng cao giá trị sản phẩm, tăng thêm nguồn thu nhập cho nông dân…

MINH ĐẠT

Nông dân xuất sắc năm 2019: Trồng chanh tứ quý, có nông dân lãi 5 tỷ đồng mỗi năm

Nguồn tin:  Sài Gòn Giải Phóng

Tại cuộc họp báo về lễ tôn vinh 63 nông dân xuất sắc nhất năm 2019, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cho biết, có rất nhiều gương nông dân đặc biệt, trở thành tỷ phú, đại tỷ phú nhờ những cách làm mới mẻ. Trong đó, có nông dân lãi tới 5 tỷ đồng/năm chỉ nhờ trồng chanh tứ quý.

Sáng nay 4-10, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức họp báo công bố danh sách 63 nông dân Việt Nam đạt danh hiệu “xuất sắc năm 2019” và tổ chức lễ trao giải báo chí toàn quốc viết về nông dân tiêu biểu 2018-2019.

Cuộc họp báo về lễ tôn vinh nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2019 vào sáng nay 4-10

Theo đó, năm nay, lễ tôn vinh và trao danh hiệu “nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2019” sẽ được tổ chức vào tối 12-10 tại Hà Nội. Chương trình được truyền hình trực tiếp trên sóng của VTV.

Nằm trong chuỗi chương trình “Tự hào nông dân Việt Nam”, sẽ diễn ra diễn đàn nông dân quốc gia lần thứ 4 với chủ đề chọn cho năm nay là: “Từ CPTPP đến EVFTA – cùng nông dân đi chợ thế giới”.

Về quy trình bình chọn 63 nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2019, Ban tổ chức cho biết, năm nay có những điển hình nổi bật. Trong tổng số 63 người, người ít tuổi nhất là anh Long Văn Nghĩa đến từ tỉnh Bạc Liêu, người cao tuổi nhất là ông Trần Thành Nam đến từ tỉnh Bến Tre.

Dưới đây là danh sách một số điển hình nông dân thành tỷ phú, đại tỷ phú, căn cứ trên hồ sơ đề cử từ các địa phương gửi về:

1. Nông dân có nhiều đất sản xuất nhất là ông Ngô Thành Đông, xã Đông An, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Hiện ông An có 300ha đất, trong đó trồng quế 146ha, còn lại là trồng các loại cây ăn quả, bưởi, chanh, cam, chuối. Doanh thu năm 2018 là 30 tỷ đồng, lợi nhuận 3 tỷ đồng.

2. Nông dân trồng nhiều cao su, mít Thái siêu sớm và bưởi da xanh nhất là ông Phan Văn Thà, thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ông Thà có 160ha đất sản xuất, trong đó cao su là 80ha, bưởi da xanh ruột hồng là 20ha, mít Thái siêu sớm là 60ha.

3. Nông dân có doanh thu cao nhất là ông Nguyễn Hồng Cương, phường Quỳnh Di, TX Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Ông Cương sản xuất tôm giống, quy mô 19,5ha, doanh thu 50 tỷ đồng (2018). Ông cũng là “Nông dân Việt Nam xuất sắc 2019” tạo ra nhiều việc làm nhất với 55 lao động thường xuyên hưởng lương và 50-70 lao động thời vụ.

4. Nông dân sở hữu hệ thống trang trại chăn nuôi gà đẻ hiện đại nhất, doanh thu chăn nuôi cao nhất là ông Nguyễn Văn Công, xã Hải Xuân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Năm 2011, ông Công đã xây dựng trại nuôi gà công nghệ Thái Lan. Đến nay, ông Công có tổng cộng 5 trại gà đẻ công nghệ Thái Lan, cộng nghệ Đức với tổng đàn gà đẻ hơn 60.000 con, ngoài ra còn 1 trại lợn, 1 trại vịt đẻ. Tổng doanh thu năm 2018 đạt tới hơn 24 tỷ đồng.

5. Nông dân có quy mô sản lượng chăn nuôi gà công nghiệp lớn nhất là bà Nguyễn Thị Lạc, xã Tam Thới Thôn, huyện Hóc Môn, TPHCM. Bình quân 1 năm, bà Lạc nuôi 5 lứa gà công nghiệp, mỗi lứa 120.000 con, cả năm sản lượng là 600.000 con.

Nông dân trẻ Nguyễn Hữu Hà với mô hình 12,5ha chanh tứ quý không hạt, lãi gần 5 tỷ đồng/năm

6. Nông dân có tỷ suất lợi nhuận cao nhất là ông Nguyễn Hữu Hà, xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Ông Hà trồng 12,5ha chanh tứ quý không hạt, lãi gần 5 tỷ đồng/năm.

7. Nông dân trồng nhiều khoai lang đặc sản nhất là ông Nguyễn Trình, xã Tân Bình, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai. Hiện ông Trình có 40ha canh tác, trong đó có 35ha trồng khoai lang đặc sản Lệ Cần.

8. Nông dân nuôi nhiều trâu nhất là bà Tô Thị Bắc, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Hiện bà Bắc đang nuôi đàn trâu 50 con và đàn lợn nái 50 con, đàn thỏ nái 150 con...

9. Nông dân nuôi nhiều cừu nhất là ông Đạo Thanh Thích (dân tộc Chăm), xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Hiện ông Thích đang nuôi đàn cừu 150 con và đàn bò sinh sản 60 con.

Đại diện Ban tổ chức trao giải 40 triệu đồng cho nhóm tác giả đoạt giải nhất cuộc thi viết về nông dân 2019

Tại cuộc họp báo, Ban tổ chức đã trao giải nhất cho bài viết về mô hình, gương nông dân điển hình với trị giá 40 triệu đồng, cùng các giải khác.

VĂN PHÚC

Khá lên từ trồng mít lá bàng

Nguồn tin: Báo Bình Dương

Với 1,3 ha mít Thái lá bàng, mỗi năm gia đình anh Bùi Văn Tuân, ngụ ấp Tân Bình, xã An Thái, huyện Phú Giáo (tỉnh Bình Dương) có doanh thu 400 triệu đồng.

Dễ trồng, năng suất cao

Anh Tuân bắt đầu trồng mít từ năm 2007. Lúc đó, anh quyết định chặt bỏ 1,3 ha điều để chuyển sang trồng mít. Đây là loại cây có tốc độ sinh trưởng nhanh, rễ cọc ăn sâu, rễ phân bổ rộng và dày nên khả năng chịu hạn rất tốt, hơn nữa có chu kỳ sinh trưởng lâu năm. Bên cạnh đó, chi phí trồng, chăm sóc loại mít này tương đối thấp, khoảng 60 triệu đồng/ha, với 400 cây. Sau 2 năm rưỡi xuống giống, mít cho trái đầu mùa (trái bói), sau 3 năm đã có thể thu hoạch bán cho khách hàng.

Anh Tuân bên vườn mít của gia đình Ảnh: HOÀI PHƯƠNG

Cũng trồng mít nhưng có một số hộ dân trồng giống khác trên địa bàn đến nay vườn mít đã cằn cỗi, nhiều cây bị chết. Còn với giống mít lá bàng, tỷ lệ cây chết chỉ khoảng 20%. Đây còn là loại cây phát triển nhanh, rất sai trái, cây trưởng thành có 80 - 120 trái/cây. Bình thường mỗi trái mít nặng 6 - 12kg, nếu đầu tư chăm sóc đúng kỹ thuật trái có thể nặng 14 - 15kg, thậm chí có trái nặng 25 - 26kg.

Vườn mít của gia đình anh mỗi năm thu hoạch trung bình 80 tấn. Cứ 10 ngày anh thu hoạch một lần; chu kỳ thu hoạch kéo dài khoảng 1 tháng rưỡi. Để bảo đảm sức chịu đựng cho cây, mỗi năm anh để mít ra trái 2 - 3 vụ.

Theo anh Tuân, cây mít lá bàng có nhiều ưu điểm, như ngoài việc ra trái quanh năm, chịu hạn tốt, loại mít này dễ sống, dễ chăm sóc, ít sâu bệnh; có thể trồng trên các loại đất. Đặc biệt, vào mùa khô loại mít này đạt năng suất 90 - 98 tấn/ha. Múi của loại mít này có vị ngọt đậm, giòn, thơm nên được thị trường ưa chuộng.

Đầu ra ổn định

Tuy nhiên, dù loại mít này ít sâu bệnh nhưng người trồng cũng không nên chủ quan, vì một số bệnh có thể xuất hiện như bệnh thối quả, bệnh ruồi vàng chích hút, cùng nấm hồng. Bệnh nấm hồng hay ruồi vàng người trồng có thể phòng trị được nhưng bệnh thối nhũn quả rất khó chịu. Bệnh này thường xuất hiện vào mùa mưa, khi độ ẩm trong không khí cao.

Anh Tuân chia sẻ, mít càng ngọt thì càng thu hút nhiều loại sâu hại, côn trùng tìm đến. Cho nên, khi mít có trái người trồng phải theo dõi từng cây xem sâu đẻ trứng chỗ nào rồi dùng thuốc sinh học xịt ngay, không để chúng phát triển. Khi xịt phải trộn thêm hỗn hợp chất bám dính để hạn chế sự di chuyển của sâu bệnh. Riêng vườn của gia đình, anh áp dụng quy trình sạch, sử dụng các chế phẩm sinh học không độc hại để phun xịt nên sản phẩm bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

Về đầu ra cho mít, anh Tuân rất an tâm vì thương lái ký kết thu mua lâu dài. Họ còn ra tận vườn cây tự thu hoạch trái. Có những thời điểm anh không đủ mít để bán. Hiện giá mít anh bán ổn định ở mức 6.000 - 7.000 đồng/kg, mỗi năm thu về hàng trăm triệu đồng.

Ngoài 1,3 ha mít lá bàng, anh Tuân cũng vừa xuống giống thêm 2 ha nữa. Tuy vậy, theo anh, bất cứ sản phẩm nào cũng có giới hạn của nó. Nếu người dân ồ ạt chạy theo nhu cầu trước mắt để trồng mít lá bàng thì sẽ đến lúc trái ế ẩm, như mít Thái, mít nghệ đã từng xảy ra. Điều quan trọng nhất vẫn đầu ra cho sản phẩm, nhất là cung phải hài hòa với cầu.

Ông Trần Phi Long, Chủ tịch Hội Nông dân xã An Thái, cho biết anh Bùi Văn Tuân là một trong những điển hình nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi. Ngoài sản xuất, kinh doanh trên diện tích đất của gia đình, anh còn thu mua mủ cao su tiểu điền trên địa bàn. Anh đã giải quyết việc làm ổn định cho 6 lao động, với mức thu nhập từ 6 - 8 triệu đồng/tháng.

HOÀI PHƯƠNG

Trồng na hoàng hậu cho thu nhập tiền tỷ ở Sơn La

Nguồn tin: VOV

Cùng với các loại na bở, na dai, nông dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã đưa vào trồng giống na mới là na hoàng hậu, cho thu nhập tiền tỷ mỗi năm.

Na hoàng hậu hay còn gọi là na nữ hoàng, na Thái Lan có ưu điểm sinh trưởng, phát triển tốt, có khả năng kháng bệnh, chịu úng, chịu hạn cao, phù hợp với nhiều loại đất và khí hậu, cho năng suất cao, ít hạt, ít bị nứt vỡ khi chín, đặc biệt giá bán cao gấp 3 lần na thường.

Trọng lượng mỗi quả trung bình từ 6 lạng đến 1 kg. Giống na này cho thu hoạch sau khi trồng được 3 năm. Tùy vào việc chăm sóc, mỗi cây cho thu từ 30 - 60 kg quả.

Nông dân thu tiền tỷ từ trồng na hoàng hậu.

Vụ mùa năm nay, sản phẩm na hoàng hậu của nông dân Mai Sơn chỉ cung cấp tới các siêu thị lớn, không đủ để bán lẻ, với giá bán buôn từ 90.000 – 120.000 đồng/kg.

Hiện ở Mai Sơn có khoảng 40ha na hoàng hậu được trồng theo tiêu chuẩn Vietgap, trong đó đã có 10ha cho thu hoạch, sản lượng gần 35 tấn quả/vụ.

Ông Bùi Văn Lộc ở xã Cò Nòi, năm nay thu gần 2 tỷ đồng từ trồng na hoàng hậu, cho biết: “Gia đình tôi năm nay có 4ha na Thái gần 4 năm tuổi cho thu hoạch, thu về sản lượng khoảng 30 tấn. Riêng năm nay thời tiết khắc nghiệt, sản lượng không đạt cao nhưng giá cả lại cao nên bà con rất phấn khởi”./.

Thanh Thủy/VOV-Tây Bắc

Sóc Trăng: Nông dân thành công chiết ghép giống thanh nhãn lên cây nhãn da bò

Nguồn tin: Báo Sóc Trăng

Những năm qua, bệnh chổi rồng trên nhãn da bò làm giảm năng suất cũng như chất lượng của cây trồng. Nhiều nhà vườn đã chuyển đổi sang trồng mới các giống nhãn như: nhãn Ido, nhãn xuồng, thanh nhãn... có hiệu quả cao. Tuy nhiên, để rút ngắn thời gian trồng, nhà vườn ở xã An Lạc Tây (Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng) đã nghĩ ra cách ghép nhánh giống thanh nhãn lên gốc nhãn da bò.

Đó là ông Đỗ Thanh Liêm ở ấp An Lợi, xã An Lạc Tây đã ghép thành công nhánh của giống thanh nhãn lên gốc nhãn da bò. Là nhà vườn tiên phong thực hiện giải pháp kỹ thuật này tại địa phương.

Ông Liêm cho biết: “Vườn nhãn da bò của gia đình đã trồng hơn 13 năm, theo thời gian cây cho trái cũng giảm dần. Hơn nữa, giống nhãn da bò rất dễ bị dịch bệnh mà điển hình là bệnh chổi rồng rất khó trị nên ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng rất nhiều. Đã có một số bà con ở đây chuyển đổi sang trồng mới các giống nhãn khác cho hiệu quả kinh tế khá cao”.

Thanh nhãn bán được giá cao hơn gấp 3 lần so với nhãn da bò.

Theo ông Liêm, nếu như trồng mới các loại cây trồng khác thì phải mất thời gian rất lâu cây mới có trái thu hoạch được. Như đối với cây nhãn, khoảng từ 4 năm thì cây mới bắt đầu có trái. Còn ghép nhánh nhãn lên gốc cây có sẵn, rút ngắn được thời gian hơn, khoảng từ 2 năm là đã có trái.

Đưa chúng tôi ra tham quan khu vườn trồng nhãn, ông Liêm cho rằng: “Thanh nhãn là giống nhãn mới được biết đến vài năm trở lại đây, có nguồn gốc từ Bạc Liêu. Ở đây cũng đã có vài hộ trồng giống nhãn này”. Khoảng 2 năm trước, trong một lần đi tham quan khu vườn trồng thanh nhãn của một người bạn và biết được cây trồng bằng cách ghép nhánh lên gốc cây nhãn da bò. Thấy cây phát triển tốt, ông Liêm đã tìm hiểu và trồng thử nghiệm ngay tại khu vườn của gia đình.

“Nhờ đi được nhiều nên tôi đã học hỏi và tích lũy được một số kinh nghiệm về kỹ thuật trồng cũng như cách chăm sóc các loại cây ăn trái. Khi biết được cách lấy nhánh của thanh nhãn ghép lên nhãn da bò, do mình chưa có nhiều kinh nghiệm nên chỉ dám đốn xen kẽ 60 cây nhãn da bò và lấy gốc để trồng thử nghiệm. Hiện cây phát triển tốt, đang cho trái đợt đầu tiên và có thể thu hoạch được. Tôi có ý định sẽ triển khai từ từ hết phần diện tích còn lại, chuyển vườn nhãn da bò sang vườn thanh nhãn” - ông Liêm chia sẻ thêm.

Cũng theo ông Liêm, ưu điểm của thanh nhãn là trái to, cơm dày, hạt nhỏ, ráo nước, không ngọt lịm như nhãn long hay nhãn da bò mà chỉ ngọt thanh. Giống nhãn này cũng giống như nhãn xuồng, không cần xử lý ra hoa, đến mùa là nhãn tự ra hoa và cho trái. Mỗi năm chỉ thu hoạch được 1 đợt. Vườn cây thanh nhãn của ông đang trồng theo hướng hữu cơ, hoàn toàn không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng như các loại thuốc kích thích cho cây trồng. Sau thời gian khoảng 2 năm trồng, cây đã cho trái đợt đầu tiên, trung bình khoảng 20kg trái/cây và hiện được thương lái đến thu mua tại vườn với giá 50.000 đồng/kg, so với giá bán nhãn da bò thời điểm này thì cao hơn gấp 3 lần.

Huyện Kế Sách được xem là “thủ phủ” cây ăn trái của tỉnh, với khoảng 16.000ha, trồng cây ăn trái các loại, trong đó, ước khoảng 2.900ha diện tích trồng nhãn, chủ yếu là giống nhãn da bò. Những năm qua, do bất lợi về giá cả cùng với bệnh chổi rồng thường xuyên xuất hiện nên việc cải tạo những khu vườn nhãn da bò bị “lão hóa” kém hiệu quả và thay đổi giống cây trồng là một trong số các mục tiêu tái cấu trúc nền nông nghiệp của địa phương. Theo ngành chuyên môn, cấy ghép nhánh thanh nhãn lên gốc nhãn da bò là cách làm rất linh hoạt, vừa rút ngắn thời gian vừa có thể giữ lại gốc nhãn da bò. Giải pháp kỹ thuật này được ngành nông nghiệp đánh giá là giải pháp hữu ích về năng suất và chất lượng.

Tuyết Xuân

Những sản vật nổi tiếng của Bà Rịa - Vũng Tàu: Bơ Châu Đức - thương hiệu mới

Nguồn tin: Báo Bà Rịa - Vũng Tàu

Nhắc đến quả bơ, lâu nay người tiêu dùng thường cho rằng chỉ có ở Đắk Lắk, Lâm Đồng mới thơm ngon. Nhưng tại huyện Châu Đức, vài ba năm trở lại đây đã nổi tiếng không kém với thương hiệu bơ Thái Dương, bơ QM01, trở thành sản phẩm được yêu thích và đem lại lợi nhuận cao cho người trồng, ghi tên vào danh sách nông sản độc đáo và có thương hiệu của BR-VT.

Ông Nguyễn Cảnh Thái Dương (trái) trao đổi với nông dân kỹ thuật chăm sóc bơ.

Sau hơn chục năm trồng, nghiên cứu, thử nghiệm từ các giống bơ nổi tiếng trong và ngoài nước, ông Đỗ Chiếm Quang, Giám đốc Công ty TNHH giống cây trồng Quốc Minh (xã Xà Bang, huyện Châu Đức) đã chọn lọc được giống bơ tốt nhất, cho năng suất và chất lượng cao. Khi so sánh với các loại bơ, ông Quang nghiệm ra rằng giống bơ mới này sinh trưởng nhanh, nhiều trái, tỷ lệ thịt bơ trên 90%, màu vàng tươi, dẻo, không có chỉ, lại không trùng với vụ bơ ở Đắk Lắk. Ông đã đặt tên cho giống bơ này là bơ sáp QM01. Theo ông Quang, giống bơ này cho năng suất cao, chất lượng quả ngon, lại kháng bệnh khá tốt.

Hiện vườn bơ của ông có diện tích 11ha với khoảng 3.000 cây. Theo ông Quang, bơ sáp QM01 ra trái quanh năm, không phân biệt chính vụ hay nghịch vụ và trái kết thành từng chùm, mỗi trái bơ khi chín có trọng lượng từ 550-650g, nặng gấp rưỡi trái bơ thường. Sản lượng thu hoạch bình quân mỗi năm khoảng 600 tấn, sau khi trừ chi phí đầu tư, nhân công, ông Quang có thu nhập trên dưới 1 tỷ đồng. “Trước đây, trong quá trình nghiên cứu, tôi lưu giữ gen của 25 loại bơ khác nhau, nhưng hiện chỉ còn giữ lại 5 loại gen trong đó có gen của 1 loại bơ ngoại. Tôi cũng đã đăng ký xác nhận cho 4 cây bơ đầu dòng. Những cây bơ đầu dòng này được tôi đánh số từ 1 đến 4 để tiện theo dõi và có chế độ chăm sóc riêng. Tôi chỉ nhân giống và kinh doanh 1 loại bơ duy nhất là bơ sáp QM01”, ông Quang cho biết thêm.

Ông Đỗ Chiếm Quang, kiểm tra chất lượng trái bơ trong vườn bơ của gia đình. Ảnh: ĐÔNG HIẾU

Hiện nay bơ sáp QM01 đã có mặt tại một số tỉnh, thành như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Dương, Tây Ninh… Ngoài vườn bơ thương phẩm, ông Quang còn tạo dựng được một vườn ươm bơ giống tại ấp Liên Sơn, xã Xà Bang, mỗi năm cung cấp ra thị trường từ 30-50 ngàn cây giống được cấy ghép sẵn mang thương hiệu QM01 với giá 60 ngàn đồng/cây.

Cũng không kém cạnh bơ sáp QM01, bơ sáp Thái Dương được cấy ghép thành công bởi một kỹ sư ngành xây dựng cũng đã nức tiếng cả nước. Bơ sáp Thái Dương có đặc điểm trái thon dài, hạt nhỏ, cơm vàng, mịn, béo ngậy... Ông Nguyễn Cảnh Thái Dương - chủ nhân của bơ Thái Dương cho biết, trong một lần ra vườn, nhìn những cây bơ còn sót lại xơ xác, chết dần, ông đã tìm hiểu và quyết định hồi sinh vườn bơ. Ông bắt đầu mày mò, nghiên cứu để ghép và chọn giống bơ phù hợp với thổ nhưỡng của Châu Đức. Qua thời gian, ông Dương nhận thấy giống bơ sáp phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng quả dẻo, thơm, ít có vùng đất nào sánh được. Bơ sáp Thái Dương được trồng hoàn toàn theo quy trình VietGAP. Việc bón phân được kiểm soát nghiêm ngặt. Từng công đoạn chăm sóc đều được theo dõi, ghi chép cẩn thận. Để nhanh chóng đưa sản phẩm ra thị trường, xác định xây dựng thương hiệu ngay từ đầu, tháng 3/2017, HTX Nông nghiệp Thái Dương (ấp Liên Lộc, xã Xà Bang, huyện Châu Đức) được thành lập. Bơ sáp Thái Dương hiện đã có mặt ở các tỉnh như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bình Định, Đồng Nai… với giá bán từ 60-90 ngàn đồng/kg, cao gấp đôi so với giá bơ trên thị trường.

Theo ông Lê Thanh Liêm, Phó Chủ tịch UBND huyện Châu Đức, so với các loại cây ăn quả khác, bơ là loại cây dễ trồng, khả năng thích nghi rộng, có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, tốt cho sức khỏe, được thị trường ưa chuộng, đem lại thu nhập ổn định, vì vậy được nhiều bà con nông dân ở huyện Châu Đức ưu tiên lựa chọn canh tác. Từ hiệu quả của mô hình này, nhiều hộ nông dân trên địa bàn xã Xà Bang đã liên kết với HTX Nông nghiệp Thái Dương để sản xuất bơ sạch và có đầu ra ổn định. Địa phương đã nhân rộng mô hình trồng bơ ra trên các địa bàn như: Xà Bang, Kim Long, Láng Lớn. Từ vài chục ha đến nay toàn huyện đã có hơn 300ha diện tích trồng bơ với năng suất bình quân mỗi ha từ 30-40 tấn/năm. Châu Đức hiện là địa phương có diện tích và sản lượng bơ lớn nhất BR-VT.

Bài, ảnh: ĐÔNG HIẾU

TP. Tân An (Long An): Trồng bưởi xen ổi - Hướng đi mới trong chuyển đổi cây trồng

Nguồn tin: Báo Long An

Những năm qua, nhiều nông dân trên địa bàn TP.Tân An, tỉnh Long An mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp. Trong đó, mô hình trồng bưởi xen ổi của vợ chồng anh Nguyễn Văn Kia Ri và chị Lý Thị Ngọc Bích (ấp Nhơn Trị 2, xã Nhơn Thạnh Trung) mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa tiết kiệm chi phí sản xuất, vừa phát triển kinh tế hộ gia đình.

Mô hình trồng bưởi xen ổi mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trước đây, vợ chồng chị được ba mẹ chồng giao cho 1ha đất trồng lúa nhưng hiệu quả kinh tế không cao. Năm 2015, vợ chồng chị mạnh dạn đầu tư trồng 800 gốc bưởi da xanh xen 1.200 gốc ổi nữ hoàng. Ổi nữ hoàng sau khi trồng khoảng 6 tháng thì bắt đầu thu hoạch quanh năm, còn bưởi da xanh sau 3 năm mới thu hoạch. Mỗi năm, anh chị thu hoạch khoảng 20 tấn ổi, bán với giá từ 12.000-13.000 đồng/kg. Vợ chồng chị dùng nguồn thu nhập từ ổi để đầu tư phân bón cho cây bưởi với phương châm "lấy ngắn nuôi dài".

Theo chị Bích, trồng ổi sẽ hạn chế được ký sinh trùng gây hại cho cây bưởi. Để ổi không bị sâu, bệnh, sau khi ra trái được 1 tháng, vợ chồng chị dùng túi nylon bọc trái non lại. Ngoài ra, anh chị sử dụng chế phẩm sinh học, phân bò ủ mục để bón cho cây. Cách làm này vừa tiết kiệm chi phí sản xuất, vừa bảo vệ sức khỏe người sản xuất lẫn người tiêu dùng. Tết năm rồi là vụ thu hoạch bưởi đầu tiên với hơn 100 cặp trái, bán giá bình quân 55.000-60.000 đồng/kg, nhờ đó anh chị có nguồn thu nhập ổn định.

Mô hình trồng bưởi da xanh xen ổi của vợ chồng anh Nguyễn Văn Kia Ri đang mang lại hiệu quả kinh tế. Đây là mô hình mới tại địa phương, mở ra hướng đi cho nhiều hộ nông dân đang muốn chuyển đổi cây trồng, cải tạo vườn tạp để trồng các loại cây ăn trái, hướng đến sản xuất nông nghiệp ven đô, ứng dụng công nghệ cao./.

Phương Đài - Ngọc Nhanh

Thu nhập - Tiêu chí khó trong xây dựng nông thôn mới

Nguồn tin:  Báo Bà Rịa - Vũng Tàu

Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân được xác định là mục tiêu cốt lõi trong xây dựng nông thôn mới (NTM) của BR-VT. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn 14/45 xã chưa đạt tiêu chí này.

Hầu hết các hộ gia đình tại xã Hòa Hưng (huyện Xuyên Mộc) đều làm nông nghiệp theo phương pháp truyền thống nên thu nhập chưa cao. Trong ảnh: Anh Đỗ Minh Tuấn (tổ 3, ấp 1, xã Hòa Hưng) chăm sóc vườn tiêu.

Trong số 14 xã chưa đạt tiêu chí về thu nhập trong xây dựng NTM, huyện Xuyên Mộc chiếm số lượng lớn (6 xã chưa đạt). Xã Tân Lâm là một trong những địa phương của huyện Xuyên Mộc xây dựng NTM trong giai đoạn 2018-2020. Ông Phạm Ngọc Tùng, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết, hiện 90% người dân của xã sống bằng nghề nông nhưng đất canh tác ít màu mỡ, giá cả nông sản bấp bênh. Do đó, để nâng cao thu nhập cho người dân là hết sức khó khăn. “Thu nhập bình quân đầu người của xã rất thấp, khoảng 30 triệu đồng/người/năm, chỉ bằng 2/3 so với quy định để được công nhận tiêu chí NTM”, ông Phạm Ngọc Tùng cho biết thêm.

Ứng dụng khoa học - kỹ thuật trong trồng cây sầu riêng cho thu hoạch trái vụ giúp nhiều nhà vườn ở xã NTM Long Phước (TP. Bà Rịa) nâng cao thu nhập. Trong ảnh: Vườn sầu riêng của gia đình ông Văn Danh (xã Long Phước, TP.Bà Rịa) cho năng suất cao, chất lượng trái tốt hơn nhờ ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất.

Xã Hòa Hưng (huyện Xuyên Mộc) đang bước vào giai đoạn nước rút nhằm đạt mục tiêu được công nhận xã NTM vào cuối năm 2019. Đã bước sang tháng 10/2019 nhưng xã Hòa Hưng vẫn còn 4 tiêu chí chưa đạt. Ông Bùi Sĩ Ươm, Chủ tịch UBND xã Hòa Hưng cho biết, khó khăn nhất hiện nay là tiêu chí số 10 về thu nhập. Bởi đa số người dân trên địa bàn xã đều làm nông. Những năm gần đây, một số cây trồng chủ lực của xã như tiêu, điều rớt giá. Hoạt động chăn nuôi, dịch bệnh (tả heo châu Phi, cúm gà) xảy ra liên tục nên đa số hộ chăn nuôi bị lỗ nặng. Nhiều hộ dân đã phải treo chuồng trại. Do đó, thu nhập bình quân của người dân 9 tháng năm 2019 giảm 15-25% so với cùng kỳ năm 2018”.

Tiêu chí thu nhập không chỉ là vấn đề khó khăn đối với các xã trong quá trình xây dựng NTM, mà còn là thách thức lớn với các xã đã được công nhận NTM ở giai đoạn trước. Là 1 trong 6 xã điểm của tỉnh hoàn thành 19/19 tiêu chí NTM vào năm 2014, xã Long Tân (huyện Đất Đỏ) đã có những thay đổi tích cực. Hiện tiêu chí thu nhập của xã vẫn được duy trì với bình quân đầu người đạt gần 50 triệu đồng/người/năm. Hiện Long Tân đang duy trì và phấn đấu đạt xã NTM nâng cao, tuy nhiên, theo quy định mới của Chính phủ, trung bình thu nhập của người dân tại các xã NTM nâng cao phải đạt 59 triệu đồng/người/năm, tương đương khoảng 5 triệu đồng/tháng. “Hầu hết người dân trong xã đều làm nông nghiệp, trong khi việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp chưa đồng bộ; ứng dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa chưa nhiều nên thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của người dân vẫn chưa cao… Do đó, để đạt được tiêu chí thu nhập 59 triệu đồng/người/năm là không hề đơn giản”, ông Nguyễn Hồng Phúc, Chủ tịch UBND xã Long Tân cho biết.

Ông Nguyễn Văn Quý, Chuyên viên Văn phòng điều phối xây dựng NTM (Sở NN-PTNT) cho biết, đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh có 27/45 xã được công nhận đạt chuẩn NTM. Thu nhập bình quân đầu người tại các xã xây dựng NTM hiện nay khoảng 50 triệu đồng/người/năm, tăng 3,45 lần so với năm 2010. Tuy nhiên, theo quy định mới chỉ tiêu chung về mức thu nhập của người dân ở xã NTM (tiêu chí số 10) là 54 triệu đồng/người/năm. “Giữ vững tiêu chí NTM là nỗi lo chung của các địa phương bởi thời gian qua ngành nông nghiệp gặp nhiều khó khăn như dịch bệnh, cây trồng rớt giá, do vậy, nhiều xã mức thu nhập bình quân không những không tăng mà còn bị kéo giảm”, ông Quý cho biết.

BR-VT phấn đấu đến cuối năm 2019 có 7 xã được UBND tỉnh công nhận xã đạt chuẩn NTM, nâng tổng số xã được công nhận đạt chuẩn lên 34 xã, đạt 75,5%; giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí cho 27 xã được công nhận đạt chuẩn NTM, trong đó có 7 xã được công nhận đạt chuẩn NTM nâng cao. Mục tiêu đến năm 2020, tỉnh phấn đấu đạt thu nhập bình quân đầu người tại các xã NTM ở mức 54 triệu đồng/người/năm. Để đạt mục tiêu này, theo đề xuất của các địa phương, tỉnh cần tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu thiết yếu phục vụ sản xuất trong nông nghiệp của người dân; triển khai đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp và các đề án sản xuất hiệu quả. Đồng thời, tăng cường mở rộng việc liên kết giữa DN và bà con nông dân để hỗ trợ người dân tiếp cận các ứng dụng khoa học - kỹ thuật canh tác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, bao tiêu đầu ra...

Bài, ảnh: QUANG VŨ

Chuẩn bị đàn heo dịp Tết

Nguồn tin: Báo Khánh Hòa

Đây là thời điểm người chăn nuôi bắt đầu vào vụ nuôi phục vụ nhu cầu tiêu dùng thịt heo dịp Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, thay vì tập trung thả giống, các hộ chăn nuôi lại đang phải căng mình chống chọi với dịch tả heo châu Phi (ASF), không ai còn thiết tha với việc tăng đàn, nuôi heo vụ Tết. Hộ chăn nuôi phập phồng

Trưa 3-10, chúng tôi có mặt tại nhà ông Nguyễn Anh Tuấn ở thôn Phú Bình 2 (xã Cam Tân, huyện Cam Lâm - thủ phủ chăn nuôi heo của tỉnh Khánh Hòa). Hộ nuôi này có 6 con heo nái, gần 20 con heo thịt và 12 con heo con đang ở độ bú mẹ. Lúc chúng tôi đến, cơ quan chức năng huyện Cam Lâm và xã Cam Tân đang cùng với hộ nuôi tiến hành tiêu hủy toàn bộ đàn heo. Gương mặt thẫn thờ, ông Tuấn chia sẻ, ngày 29-9, đàn heo xuất hiện dịch bệnh, dương tính với ASF rồi chết dần. Đàn heo là nguồn sinh kế chủ yếu của gia đình đã buộc phải tiêu hủy.

Lực lượng chức năng tiến hành tiêu hủy heo bệnh tại Cam Tân.

Ông Nguyễn Võ Luân - Phó Chủ tịch UBND xã Cam Tân cho biết, ASF xuất hiện trên địa bàn xã từ ngày 19-9 và nhanh chóng lây lan. Đến ngày 1-10, đã có 16 hộ nuôi có heo dương tính với ASF, tổng đàn heo tiêu hủy lên tới 488 con với trọng lượng gần 48 tấn. “Bây giờ trên địa bàn xã không hộ nuôi nào có ý định tăng đàn, tái đàn hay tổ chức thả giống cho dịp heo Tết. Một số hộ đã chuyển sang nuôi vịt, gà nhằm tận dụng chuồng trại, thức ăn còn lại của nuôi heo để gỡ gạc chút nào hay chút đó”, ông Luân nói.

Hơn 1 tháng nay, bà Nguyễn Thị Ngọc (thôn Cửu Lợi 2, xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm) chưa thể gặp được chồng và các con bởi họ đang phải hàng ngày căng mình phòng, chống dịch cho trại heo. Gia đình bà nuôi 200 con heo, để đảm bảo an toàn, bà và chồng, con phải sống cách ly, nhằm tránh dịch bệnh lây lan trong quá trình tiếp xúc. Trong khi bà Ngọc chạy lo việc bên ngoài, thì chồng và các con bà lo ở trại heo. “Cả gia tài của gia đình và tiền vay mượn hàng trăm triệu đồng đã đổ vào trại heo này, nếu bị dịch coi như trắng tay. Đã hơn 1 tháng nay, cả nhà tôi ăn ngủ không yên, lo âu bởi ASF. Mỗi lần thấy các hộ xung quanh báo dịch, tiêu hủy những con heo lớn nhỏ mà xót xa, thấp thỏm. Giờ đây, gia đình tôi đang phải cố gắng thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp phòng, chống dịch. Chỉ mong sao dịch sẽ không lây lan tới đàn heo của gia đình”, bà Ngọc nói.

Hoạt động tiêu độc, khử trùng tại các hộ có đàn heo dương tính với ASF được thực hiện nghiêm ngặt.

Ông Trần Ứng - cán bộ thú y xã Suối Tân, huyện Cam Lâm chia sẻ: “Mấy tháng nay, cả xã đang phải căng mình chống dịch, cốt để khống chế, không cho dịch lây lan sang những hộ còn lại. Tổ đi tiêu hủy gần như ngày nào cũng hoạt động từ sáng đến tối. Khi xảy ra dịch bệnh, người chăn nuôi là khổ nhất, có những hộ chúng tôi đến tiêu hủy, vợ chồng chỉ biết ôm nhau khóc. Có những con heo nái sắp đến ngày sinh vẫn buộc phải tiêu hủy, xót xa lắm!”.

Tại huyện Diên Khánh, một địa phương cũng có lượng heo tương đối lớn, tình hình ASF vẫn diễn biến hết sức phức tạp, chỉ trong tháng 9 đã có thêm 2 xã mới của địa phương này xuất hiện dịch, nâng tổng số xã của Diên Khánh có ASF lên con số 12. Tâm trạng chung của các hộ nuôi nơi đây đó là chưa nghĩ đến việc tái đàn. Thậm chí ngay cả với những xã chưa xuất hiện ASF, tình hình chăn nuôi heo cũng rất trầm lắng. Tại Diên Xuân, trao đổi với ông Ngô Đăng Khoa - Chủ tịch UBND xã, mặc dù trên địa bàn chưa xảy ra ASF, nhưng trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh, trong các cuộc họp, qua các đợt tiếp xúc với người dân, chúng tôi đều vận động tuyên truyền người dân không đẩy mạnh chăn nuôi, mà chỉ nuôi cầm chừng và giảm dần cả về số hộ lẫn số heo trong chuồng kể từ khi xuất hiện ASF đến nay. Ngoại trừ 1 doanh nghiệp chăn nuôi quy mô lớn với đàn heo 20.000 con, ở khu vực nông hộ hiện chỉ còn 12 hộ nuôi với tổng đàn 230 con. Nhiều hộ đã chuyển từ nuôi heo sang nuôi gà, nuôi bò.

Các công ty cam kết

Đó là nhận định của cơ quan chuyên môn cũng như một số doanh nghiệp cung cấp thịt heo lớn trên địa bàn tỉnh.

Đàn heo ở các trang trại chăn nuôi lớn đang được bảo vệ an toàn.

Trao đổi với chúng tôi, ông Lê Thắng - Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh cho biết, dựa trên quy mô đàn, có thể phân chia hoạt động chăn nuôi heo thành 3 hình thức: Chăn nuôi nông hộ chủ yếu dưới 50 con, chăn nuôi trại lớn của các công ty và chăn nuôi gia công. Ở khu vực nông hộ, toàn tỉnh hiện có 4.500 hộ chăn nuôi heo, chiếm tới 95% tổng số hộ nuôi, nhưng đàn heo ở khu vực này chỉ có 46.000 con, chiếm 17% tổng đàn. Ngược lại, với 210 trại chăn nuôi gia công chủ yếu cho Công ty CP và 10 trang trại quy mô lớn lại đang đóng góp khoảng 230.000 con heo. Nói cách khác, nguồn heo từ các công ty lớn, trại gia công đang cung ứng cho thị trường khoảng 80% lượng thịt heo. Trong khi đó, ASF lại đang xảy ra ở các hộ chăn nuôi nhỏ, lẻ, không đảm bảo an toàn sinh học. “Dịch bệnh đang khiến cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ gặp rất nhiều khó khăn, tổn thất nặng nề, nhưng mức độ ảnh hưởng đến thị trường thịt heo lại không quá lớn”, ông Lê Thắng nói.

Theo thống kê của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh, tính đến hết tháng 9, ASF đã xảy ra tại 227 hộ, 73 thôn, 33 xã, 5 huyện, thành phố: Cam Lâm, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Nha Trang và Cam Ranh. Số heo chết, bệnh buộc phải tiêu hủy hơn 4.200 con, trọng lượng hơn 248.400kg.

Liên quan vấn đề này, ông Võ Ngọc Lâm - Giám đốc Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, Chi nhánh Khánh Hòa (CP Khánh Hòa) cho biết, hiện trên địa bàn tỉnh có 169 trại nuôi gia công cho CP Khánh Hòa. Các trại này đang ổn định đàn heo khoảng 145.000 con. Hàng ngày, số heo xuất bán từ 600 - 800 con, chiếm khoảng 70% thị trường. Với 145.000 con heo, mỗi năm bình quân 2 lứa, mỗi ngày các trại gia công của CP Khánh Hòa đáp ứng cho thị trường trong tỉnh khoảng 820 con heo. Vào dịp Tết Nguyên đán, nhu cầu thịt heo tăng gấp đôi so với ngày thường, nhưng thời gian tăng cũng chỉ kéo dài trong khoảng 10 ngày, các trại nuôi sẽ được điều tiết, có thể xuất bán sớm hơn, khi heo đạt trọng lượng 80kg trở lên thay vì 100kg như ngày thường. Điều này nhằm đảm bảo không thiếu hụt nguồn cung khi nhu cầu tăng cao trong thời gian ngắn. Nói khác đi, CP Khánh Hòa sẽ có các giải pháp nhằm phục vụ đủ nhu cầu của thị trường, kể cả dịp Tết Nguyên đán với nhu cầu tăng gấp đôi.

Đối với công tác phòng dịch, các trang trại quy mô lớn đang tập trung áp dụng hàng loạt giải pháp nhằm không để cho ASF có thể xâm nhiễm. “Ở các trại nuôi, hoạt động ra vào trại đang bị nghiêm cấm. Khi phương tiện, cán bộ của CP thực sự cần thiết mới vào trại, và phải áp dụng tất cả các biện pháp an toàn nghiêm ngặt. Ngoài ra, với quy trình hoàn toàn khép kín từ con giống, thức ăn, quy trình nuôi cho đến xuất bán ra thị trường, hoạt động chăn nuôi theo hình thức gia công đang đảm bảo an toàn sinh học tốt hơn so với hình thức nông hộ. Tuy vậy, với tính chất dễ lây lan, chúng tôi cũng đang nỗ lực hết sức để bảo vệ đàn heo”, ông Lâm cho biết.

Có thể nói, tình hình ASF đang diễn biến phức tạp và có dấu hiệu tăng mạnh ở khu vực chăn nuôi nông hộ trong tháng 9 đang tác động xấu đến tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi ở khu vực này không chiếm tỷ trọng quá lớn, do đó mức độ ảnh hưởng đến thị trường không cao. Nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay, là bên cạnh công tác xử lý dịch bệnh ở những hộ nuôi đã bị xâm nhiễm, hoạt động bảo vệ hệ thống chăn nuôi trang trại, trại gia công quy mô lớn đang là nhiệm vụ cấp bách, quyết liệt của các cấp, ngành, địa phương trước sự uy hiếp của ASF.

Hồng Đăng - Văn Giang

Chăn nuôi dịp cuối năm: Thận trọng tái đàn lợn, tăng quy mô gia cầm

Nguồn tin: Báo Bắc Giang

Cuối năm, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân tăng cao, nhất là các loại thịt gia súc, gia cầm. Để bảo đảm nguồn cung, cơ quan chuyên môn khuyến cáo người chăn nuôi thận trọng tái đàn lợn song tăng mạnh những loài vật nuôi khác.

Làm chủ kỹ thuật

Năm nào cũng vậy, vào thời điểm này người chăn nuôi trong tỉnh cũng tính toán vào đàn để bán dịp cuối năm với mong muốn có thêm khoản thu nhập trong dịp Tết. Với hộ có kinh nghiệm, làm chủ kỹ thuật thường lên kế hoạch kỹ càng. Gia đình chị Giáp Thị Hiệp, thôn Tân Lập, xã Cao Thượng (Tân Yên-Bắc Giang) là một ví dụ.

Người dân xã Đông Lỗ (Hiệp Hòa) vỗ béo bò thịt.

Hiện nay, chị đang nuôi 6 nghìn con gà thương phẩm, trong đó hơn một nửa chuẩn bị được xuất chuồng. Nếu giá bán ổn định gần 60 nghìn đồng/kg, trừ chi phí mỗi một nghìn gà chị thu lãi khoảng 18 triệu đồng. Thâm niên nuôi gà gần chục năm nên chị có nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc đàn vật nuôi.

Trên diện tích vườn đồi rộng hơn một ha, chị nuôi gà gối lứa, mỗi đàn xuất chuồng cách nhau chừng một tháng. Chị chia sẻ: “Sau khi xuất chuồng lứa gà lai chọi vào giữa tháng này, tôi sẽ vào đàn khoảng 3 nghìn gà chíp (gà trống mào đỏ- PV) để bán dịp Tết và sang tháng Giêng”.

Theo chị Hiệp, nuôi gà để đạt hiệu quả cũng khá kỳ công. Ngoài thường xuyên vệ sinh sạch sẽ chuồng trại, chọn con giống cẩn thận, bảo đảm khẩu phần ăn cho từng giai đoạn, người nuôi phải có con mắt nhà nghề. Với chị, chỉ cần nhìn lướt qua chuồng nuôi và cách gà đi, chạy, ăn mỗi bữa là có thể đoán được bệnh của vật nuôi để có cách chữa trị. Nhờ vậy, đàn gà của gia đình chị luôn khỏe mạnh, tỷ lệ sống đạt cao.

Đối với đàn gia súc, nhất là lợn nhiều hộ đã tái đàn. Do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu phi (DTLCP), trang trại nuôi lợn của hộ ông Nguyễn Văn Tuấn, thôn Cấm, xã Lương Phong (Hiệp Hòa) có 70 con bị chết phải tiêu hủy. Sau một thời gian ngừng nuôi, khử trùng chuồng trại, đầu tháng 5 năm nay, ông bắt đầu tái đàn trở lại với hơn 100 con.

Các khâu chăm sóc lợn theo quy trình an toàn sinh học được thực hiện nghiêm ngặt nên dịch bệnh không tái phát. Hiện bình quân mỗi con khoảng 1,1 tạ, dự kiến sẽ được xuất bán vào ngày 10-10 tới. Ngoài ra, trang trại còn 100 con lợn nữa để tiêu thụ trong dịp Tết.

Quản lý chặt dịch bệnh

Sự nhạy bén, làm chủ kỹ thuật của người chăn nuôi góp phần không nhỏ trong việc ngăn chặn dịch bệnh. Riêng DTLCP đã giảm rõ rệt, chỉ còn xuất hiện vài ổ dịch lẻ tẻ. Đến ngày 2-10, toàn tỉnh có 184 xã đã qua 30 ngày không phát sinh ổ dịch mới. Giá bán thịt lợn dự báo tăng cao trong thời gian tới. Những yếu tố này cho thấy đây là thời điểm thuận lợi cho tái đàn phát triển sản xuất chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong mùa cưới và dịp Tết Nguyên đán Canh Tý.

Ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT: Điều đáng ngại là hiện nay dù còn 20% tổng số xã xuất hiện DTLCP song lại nằm ở khắp các huyện, TP. Vì vậy, Sở chỉ đạo cần tiếp tục giám sát, bao vây ổ bệnh để không lan rộng, tiến tới dập tắt không có bệnh. Bên cạnh đó, việc tái đàn lợn là cần thiết song không tái đàn toàn bộ mà chỉ tập trung tại trang trại lớn, an toàn".

Trên cơ sở đánh giá tình hình thực tế, Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang vừa đề nghị các huyêṇ, TP hỗ trợ người chăn nuôi phát triển gia cầm, thủy cầm, gia súc ăn cỏ để bù đắp phần thực phẩm thiếu hụt do lợn mắc bệnh DTLCP phải chôn hủy; tiêm phòng các loại vắc-xin cho đàn vâṭ nuôi. Với các huyện, TP không có lợn chết do DTLCP đã qua 30 ngày trở lên cần chuẩn bi ̣các điều kiện cần thiết để công bố hết DTLCP.

Thực hiện chỉ đạo trên, tại Tân Yên, UBND huyện yêu cầu đội ngũ cán bộ thú y giám sát vận chuyển lợn giống phục vụ tái đàn. Theo bà Đào Thu Phương, Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, tại huyện từng phát hiện giống lợn không rõ nguồn gốc được chở từ nơi khác về mang mầm bệnh song đã được xử lý sớm. Nhằm hạn chế tình trạng trên, đơn vị thường xuyên phối hợp với lực lượng chuyên môn nắm bắt tình hình, kịp thời ngăn chặn nguồn giống không bảo đảm đến bà con.

Tại huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang), nhiều trang trại, gia trại đã tái đàn lợn thành công và đang có lãi. Một số hộ đã chuyển đổi sang chăn nuôi vỗ béo bò, nuôi gia cầm, thủy cầm thay cho lợn cũng cho thu nhập khá. Cơ quan chuyên môn của huyện cũng khuyến cáo, hướng dẫn các hộ chăn nuôi an toàn.

Theo Sở Nông nghiệp và PTNT, tổng đàn lợn của tỉnh hiện còn khoảng 700 nghìn con, giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Giá lợn hơi đang ở mức cao - 48 nghìn đồng/kg, người chăn nuôi lợn đang có lãi khoảng 1,3-1,5 triệu đồng/con. Phía Trung Quốc lại thiếu thịt lợn trầm trọng, một số tỉnh miền Nam của nước ta DTLCP diễn biến phức tạp là cơ hội cho người chăn nuôi trong tỉnh tái đàn.

Ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT thông tin: “Điều đáng ngại là hiện nay dù còn 20% tổng số xã xuất hiện DTLCP song lại nằm ở khắp các huyện, TP. Vì vậy, Sở chỉ đạo cần tiếp tục giám sát, bao vây ổ bệnh để không lan rộng, tiến tới dập tắt không có bệnh. Bên cạnh đó, việc tái đàn lợn là cần thiết song không tái đàn toàn bộ mà chỉ tập trung tại trang trại lớn, an toàn. Cùng đó, phát triển mạnh chăn nuôi gia cầm, thủy cầm, dự kiến tổng đàn tăng lên 10% so với cùng kỳ năm trước; tiếp tục vỗ béo đàn bò, trâu, dê… để tăng sản lượng”.

Trịnh Lan

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop