Tin nông nghiêp ngày 08 tháng 01 năm 2020

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiêp ngày 08 tháng 01 năm 2020

Sa Pa phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Nguồn tin:  Báo Lào Cai

Nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, thị xã Sa Pa đang tập trung khai thác những thế mạnh về khí hậu, thổ nhưỡng để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với phát triển du lịch. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được ngành nông nghiệp và chính quyền thị xã đặc biệt quan tâm.

Sa Pa có khí hậu mát mẻ quanh năm, phù hợp với việc phát triển các sản phẩm nông nghiệp ôn đới như các loại rau, hoa, dược liệu… Hiện nay, Sa Pa có gần 300 ha đất sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tập trung chủ yếu tại những nơi có thời tiết mát mẻ, độ ẩm không khí cao như khu vực thị trấn Sa Pa cũ và những xã lân cận. Một số công nghệ đã được người dân, doanh nghiệp ứng dụng mang lại hiệu quả rõ rệt như xây dựng hệ thống nhà lưới; cơ giới hóa khâu làm đất; áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt; sử dụng công nghệ trong sơ chế, bảo quản sau thu hoạch…

Vườn dâu ứng dụng công nghệ cao vừa tạo sản phẩm an toàn vừa thu hút khách du lịch. Ảnh: T.L

Công ty TNHH Hà Lâm Phong là một trong những doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để trồng nấm hương. Với hơn 1,5 ha, công ty đã xây dựng 17 nhà trồng nấm, 13 nhà ươm và 2 nhà cấy nhân giống. Đây là mô hình trồng nấm hương áp dụng quy trình công nghệ cao, học hỏi theo mô hình sản xuất tại Trung Quốc - một trong những nơi có công nghệ trồng nấm hương tốt nhất trên thế giới. Mỗi năm, doanh nghiệp này sản xuất hơn 80 tấn nấm hương đã sấy khô, chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Đài Loan, lợi nhuận 5 tỷ đồng/năm. Công ty cũng tạo việc làm ổn định cho khoảng 30 lao động tại Sa Pa.

Bên cạnh trồng nấm, điều kiện khí hậu tại Sa Pa cũng khá lý tưởng cho việc trồng các loại hoa. Trên địa bàn thị xã hiện có 3 doanh nghiệp, hợp tác xã và 102 hộ đầu tư trồng hoa ứng dụng công nghệ cao như hoa ly, hoa hồng... Diện tích trồng hoa ứng dụng công nghệ cao tại Sa Pa hiện nay đạt 168 ha, là địa phương có diện tích ứng dụng công nghệ cao vào trồng hoa lớn nhất tỉnh. Mô hình sản xuất này mang lại doanh thu bình quân 1,4 tỷ đồng/ha/năm, lợi nhuận bình quân 520 triệu đồng/ha/năm. Ngoài ra, thay vì canh tác thông thường, các loại rau, cây ăn quả, cây dược liệu cũng được người dân ứng dụng công nghệ cao. Tính bình quân, khi ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, giá trị kinh tế đạt 250 triệu đồng/ha/năm, cao hơn rất nhiều so với sản xuất truyền thống.

Mặc dù hiệu quả kinh tế từ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là rất lớn, nhưng để phát triển loại hình sản xuất này tại Sa Pa gặp không ít khó khăn. Tuy có lợi thế về khí hậu, nhưng địa hình của Sa Pa lại phức tạp, chia cắt mạnh, độ dốc lớn gây khó khăn cho việc đưa cơ giới hóa vào sản xuất, giao thông chưa thực sự thuận lợi nên làm tăng chi phí đầu tư, vận chuyển. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại thị xã Sa Pa hiện khoảng 7 nghìn ha (gần 9% diện tích đất tự nhiên), trong đó có 3,6 nghìn ha ruộng bậc thang 1 vụ, còn lại chủ yếu là đất đồi, dốc, phù hợp với trồng ngô, rau, dược liệu, cây ăn quả. Do vậy, để sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, bên cạnh sản xuất trên diện tích đất tự nhiên, nhà đầu tư cần sản xuất trên giá thể để tận dụng diện tích núi đá, đất bạc màu. Chi phí đầu tư cho sản xuất nông nghiệp công nghệ cao rất lớn nên việc mở rộng gặp không ít khó khăn. Ngoài ra, để sản xuất mang tính hàng hóa với diện tích đủ lớn là rất khó, bởi đất đai tại Sa Pa manh mún, nhỏ lẻ và người dân lo ngại khi cho thuê, chuyển quyền sử dụng đất…

Bà Trần Thị Lan Hương, Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thị xã Sa Pa cho biết: Sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, đây là một trong những hướng sản xuất được Sa Pa đặc biệt quan tâm. Việc sản xuất ứng dụng công nghệ cao tại Sa Pa đang gặp không ít khó khăn, cần sự vào cuộc của nhiều cơ quan chuyên môn cũng như chính quyền địa phương. Trong bối cảnh Sa Pa được quy hoạch thành thị xã, việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao sẽ được định hướng phát triển gắn với du lịch để khai thác tối đa thế mạnh về điều kiện tự nhiên. Những mô hình sản xuất nông nghiệp sẽ trở thành một trong những điểm đến thu hút du khách, làm đa dạng sản phẩm du lịch của địa phương cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân từ sản xuất nông nghiệp.

THÚY PHƯỢNG

Tem truy xuất nguồn gốc: Tấm thẻ bảo hành cho nông sản sạch

Nguồn tin:  Báo Ninh Bình

Bắt đầu triển khai từ năm 2016, “Đề án Nông dân Ninh Bình nói không với thực phẩm bẩn” đã từng bước giúp thay đổi nếp nghĩ, cách làm của bà con nông dân đối với vấn đề an toàn thực phẩm. Trong đó, cùng với việc hỗ trợ nông dân sản xuất sạch, tiêu thụ nông sản an toàn, từ giữa năm 2019, lần đầu tiên Hội Nông dân tỉnh đã bắt tay vào việc giúp bà con làm tem nhãn điện tử. Hoạt động này tuy chưa được triển khai rộng rãi song có thể coi đây là bước đi tiên phong cần thiết ở thời điểm hiện nay nhằm minh bạch hóa “lý lịch” của nông sản sạch, tiến tới việc chinh phục những thị trường khó tính hơn…

Hội Nông dân tỉnh trao tem xuất xứ sản phẩm cho thành viên HTX Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản an toàn xã Khánh Thành (Yên Khánh). Ảnh: Trường Giang

Hiện toàn tỉnh đã có hơn 460 mô hình “Nông dân nói không với thực phẩm bẩn” trên các lĩnh vực như: mô hình sản xuất rau an toàn; mô hình HTX chăn nuôi dê núi đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y; mô hình sản xuất mắm tép an toàn, mô hình sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP…

Toàn bộ số nông sản từ các mô hình này chủ yếu bán cho thương lái hoặc bán lẻ tại các chợ truyền thống và một phần được tiêu thụ ở các cửa hàng nông sản sạch do Hội Nông dân tỉnh hỗ trợ thành lập. Một số mặt hàng đã dần trở nên quen thuộc với người tiêu dùng, tuy nhiên nỗi lo vẫn hiện hữu khi trên thị trường còn nhiều thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, khiến cho ranh giới giữa sản phẩm an toàn, chất lượng cao và sản phẩm không an toàn, chất lượng thấp chưa được phân biệt rõ.

Hơn nữa để nông sản sạch có thể chinh phục những thị trường khó tính hơn, đưa sản phẩm vào được các chuỗi siêu thị thì thực sự vẫn còn nhiều việc phải làm. Trong đó, theo lãnh đạo Hội Nông dân tỉnh: một trong những việc cần triển khai trước tiên là phải xây dựng hệ thống minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa nông sản giúp người tiêu dùng có thể nhận diện nguồn gốc và an tâm khi sử dụng sản phẩm. Việc sử dụng tem nhãn điện tử được đánh giá có thể giải quyết tốt những yêu cầu này. Đây là một loại tem điện tử có chứa mã xác thực dưới dạng mã QR Code và được doanh nghiệp, người sản xuất dán lên trên những sản phẩm do mình sản xuất và cung cấp. Trên bề mặt tem chứa những thông tin được mã hóa, khi sử dụng phần mềm hoặc ứng dụng quét mã QR, mọi thông tin về sản phẩm như: nguồn gốc, ngày sản xuất, hạn sử dụng cũng như lưu ý khi sử dụng sản phẩm hoặc thông tin liên quan đến sản phẩm sẽ hiện ra. Nhờ đó mà người tiêu dùng có thể nắm rõ được những thông tin cần thiết về sản phẩm trước khi chọn mua.

Trong năm 2019, các cấp Hội đã từng bước triển khai tuyên truyền, vận động giúp hội viên, nông dân làm quen với Tem nhãn điện tử. Đồng thời tiến hành hỗ trợ trực tiếp đối với Cơ sở sản xuất rau Vietgap của ông Tống Viết Vinh ở xóm 4, xã Mai Sơn (Yên Mô) từ việc cung cấp thông tin đến việc hoàn thiện các thủ tục giấy tờ để làm tem. Ông Vinh cho biết: chúng tôi được Hội Nông dân tỉnh trao hơn 20 nghìn chiếc tem điện tử với trị giá khoảng 8 triệu đồng. Khi dán tem này lên các sản phẩm rau, củ quả của trang trại thì dù ở đâu chỉ cần một thiết bị điện thoại thông minh, người tiêu dùng có thể quét mã nhận diện sản phẩm từ nơi sản xuất, đơn vị sản xuất, quy trình, thậm chí là ngày thu hoạch, hạn sử dụng và các chứng chỉ kèm theo. Tuy nhiên, khi triển khai thì buộc chúng tôi phải làm quen với việc ghi chép và lưu trữ hồ sơ trong quá trình sản xuất.

Cuối tháng 12 vừa qua, Hội Nông dân tỉnh tiếp tục hỗ trợ hơn 20 nghìn chiếc tem truy xuất nguồn gốc cho Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ nông sản an toàn xã Khánh Thành, huyện Yên Khánh. Theo lãnh đạo HTX: Mục tiêu của HTX trong thời gian tới là nâng cao chất lượng sản phẩm, chinh phục thị trường khó tính, đưa sản phẩm vào các chuỗi siêu thị. Để làm được việc này, sản phẩm cần được gắn tem truy xuất nguồn gốc.

Ông Hoàng Văn Hà, thành viên của Hợp tác xã phấn khởi tiếp lời: khi sử dụng tem này, chúng tôi có thể bảo vệ và phát triển, nâng cao tính cạnh tranh tốt hơn cho “thương hiệu” ổi lê Đài Loan của mình; tạo được niềm tin đến khách hàng nhiều hơn; chia sẻ được dữ liệu thời gian cho các đối tác thu mua, giúp họ yên tâm hơn khi lựa chọn sản phẩm… Điều này càng khiến chúng tôi chú trọng nhiều hơn nữa đến kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc ổi để đảm bảo an toàn cao nhất cho người sử dụng.

Tuy nhiên, để nhân rộng việc dán tem truy xuất nguồn gốc vẫn còn không ít khó khăn, trở ngại bởi đây là ứng dụng mới và lần đầu tiên được áp dụng đối với nông sản thực phẩm; trong khi đó sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào thời tiết, nông sản mang tính thời vụ nên việc dán tem không được thường xuyên, mặt khác người tiêu dùng lại chưa có thói quen sử dụng điện thoại để truy xuất nguồn gốc sản phẩm… Để khuyến khích hoạt động này, thời gian tới Hội Nông dân tỉnh tiếp tục quan tâm dành nguồn vốn hỗ trợ các mô hình sử dụng tem truy xuất nguồn gốc; đồng thời tăng cường tuyên truyền để người dân thấy được lợi ích của việc gắn, sử dụng sản phẩm có tem. Đại diện Hội Nông dân tỉnh cũng mong muốn mỗi người tiêu dùng cũng như cộng đồng xã hội ưu tiên lựa chọn những hàng hóa có xuất xứ rõ ràng, tạo động lực cho các đơn vị, các mô hình không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm…

Đào Duy

Triển vọng giống lúa AG1

Nguồn tin: Báo An Giang

“Giống AG1 hay còn gọi là giống An Giang 1 được lai tạo từ giống lúa OM 6932 và giống HD1. Đây là giống có nhiều triển vọng bởi ưu điểm cho năng suất cao, ngắn ngày, cứng cây; kháng bệnh cháy lá, chịu phèn, mặn, phù hợp trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay” - PGS.TS Huỳnh Quang Tín, Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL (Trường Đại học Cần Thơ) chia sẻ.

Nông dân sản xuất giỏi Trần Thanh Tùng (bên trái), đồng tác giả của Chương trình lai chọn giống lúa vui mừng khi giống được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho sản xuất thử

Thích ứng

Giống lúa AG1 do nông dân Trần Thanh Hùng (nông dân xã Núi Voi, Tịnh Biên) cùng PGS.TS Huỳnh Quang Tín nghiên cứu lai chọn. Đây là một hợp phần của Dự án “Hỗ trợ công nhận và phát triển sản xuất giống lúa cộng đồng” do PGS.TS Huỳnh Quang Tín thực hiện. Dự án đã thực hiện 55 tháng (tháng 1-2015 _ 12-2017) và gia hạn đến tháng 7-2019 kết thúc. Kinh phí hỗ trợ dự án từ nguồn sự nghiệp khoa học và công nghệ; kinh phí đối ứng dự án từ nguồn xã hội hóa và nhóm tác giả các giống lúa tham gia dự án.

Mục tiêu chung của dự án là “Hỗ trợ công nhận và phát triển sản xuất giống lúa cộng đồng”, nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho các giống lúa do nông dân và cán bộ kỹ thuật lai chọn, đồng thời triển khai các thủ tục cần thiết cho việc công nhận giống lúa mới, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất lúa, gạo đặc sản xuất khẩu ở tỉnh An Giang từ nay đến những năm tiếp theo. “Mục tiêu cụ thể của dự án là nâng cao năng lực cho 20 nông dân chọn giống của tỉnh. Dự án trang bị cho họ kỹ năng về lai chọn, đánh giá, khảo nghiệm, công nhận, sản xuất thử và sản xuất hạt giống chất lượng, kiểm định, qua đó tăng cường cơ sở khoa học cho 7 giống lúa triển vọng do nông dân và cán bộ kỹ thuật ở An Giang lai chọn” - PGS.TS Huỳnh Quang Tín chia sẻ. “Qua nhiều năm lai chọn, tôi thấy giống lúa AG1 rất thích hợp cho quá trình sản xuất của nông dân. Đây là giống lúa nhiều triển vọng trên phương diện kỹ thuật lẫn thị trường, bởi đây là giống cho năng suất cao qua mỗi mùa vụ. Đặc tính giống là ngắn ngày, cứng cây; giống kháng được bệnh cháy lá và trồng được trong vùng đất phèn và mặn” - ông Trần Thanh Hùng (xã Núi Voi, Tịnh Biên) đồng tác giả giống lúa AG1 chia sẻ.

Thị trường

Giống AG1 được lai chọn từ giống lúa OM 6932 và giống HD1. Giống AG1 có triển vọng trên phương diện thương mại giống lúa lẫn phương diện gạo xuất khẩu. Gạo được xay ra từ giống lúa này có hạt trong, độ dài đạt chuẩn xuất khẩu. Đây là loại gạo xốp nở, mềm cơm, có mùi thơm nhẹ. Hiện nay, giống AG1 đã được Cục Trồng trọt công nhận và cho sản xuất thử nghiệm tại khu vực ĐBSCL. Trong mùa vụ vừa qua, tại An Giang, nông dân các huyện: Châu Phú, Tịnh Biên, Thoại Sơn và Tri Tôn đã triển khai trồng và cho kết quả rất bất ngờ. Ngoài An Giang, các tỉnh: Trà Vinh, Bạc Liêu Tiền Giang, Long An, nông dân cũng triển khai trồng nhiều. “Thị hiếu tiêu dùng của người dân từ thành thị đến nông thôn hiện nay là chọn ăn những loại gạo hạt dài, có độ trong, bóng và đẹp. Gạo sau khi nấu có mùi thơm nhẹ; cơm có độ mềm và hơi dẻo. Những đặc tính này đều có ở giống lúa AG1. Từ đó, 2 vụ vừa qua, thương lái chúng tôi đã tìm mua giống lúa, xay thành gạo để xuất khẩu. Song, hiện nay giống này mới chỉ trồng trong giai đoạn thử nghiệm. Chúng tôi mong giống này sớm được đưa ra sản xuất đại trà để tham gia xuất khẩu” - chị Phan Thị Kiều Hạnh (thương lái xã Vĩnh Thạnh Trung, Châu Phú) chia sẻ.

Thời gian qua, nhìn thấy triển vọng của giống lúa này, Công ty TNHH Giống cây trồng Vĩnh Quý (ấp Vĩnh Quý, xã Vĩnh Thạnh Trung, Châu Phú) đã nhận chuyển giao, tiến hành trồng thử nghiệm để có giống lúa nhân rộng ra cộng đồng. Vụ đông xuân vừa qua, giống này cho năng suất gần 9 tấn/ha, đạt yêu cầu đối với những nông dân chuyên làm giống. “Chúng tôi nhận chuyển giao giống lúa này để đưa vào sản xuất thử là bởi rất phù hợp trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay. Cụ thể, vụ vừa qua, tuy thời tiết thất thường nhưng do giống cứng cây, kháng được bệnh cháy lá nên chi phí sản xuất thấp, hiệu quả cao, từ đó hiệu quả trên mỗi mùa vụ của nông dân được nâng lên đáng kể” - ông Nguyễn Văn Hậu, Giám đốc Công ty TNHH Giống cây trồng Vĩnh Quý, chia sẻ.

Năm 2019, Việt Nam xuất khẩu gạo đạt trên 6,2 triệu tấn, thu về trên 2,7 tỷ USD. Thành tích này có sự đóng góp đáng kể của các nhà khoa học, những nông dân lai chọn giống lúa. Chương trình xã hội hóa công tác giống đã lai chọn được những giống lúa cho năng suất, chất lượng gạo ngon, đáp ứng được tiêu chuẩn xuất khẩu. Trong một tương lai không xa, Việt Nam sẽ là quốc gia hàng đầu thế giới trong xuất khẩu gạo ở phân khúc cấp cao và giống AG1 sẽ là một trong những giống được lựa chọn trồng để xuất khẩu.

“Những năm qua, nhờ Chương trình xã hội hóa công tác giống trên địa bàn An Giang, nông dân tham gia vào chương trình này đã nghiên cứu, lai chọn ra được nhiều giống lúa có triển vọng cao, trong đó có giống AG1. Chương trình xã hội hóa công tác giống đã giúp cho tỉnh có đủ lượng giống gieo sạ hàng năm, số giống làm ra còn được chia sẻ cho nông dân khắp các tỉnh ĐBSCL, góp phần làm cho chất lượng gạo xuất khẩu của tỉnh những năm gần đây được nâng lên đáng kể…” - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nguyễn Sĩ Lâm nhận xét.

MINH HIỂN

Tuyên Quang: Đưa cây dược liệu thành sản phẩm OCOP

Nguồn tin: Báo Tuyên Quang

Toàn tỉnh Tuyên Quang hiện có gần 130 ha trồng cây dược liệu với 14 loài, chủ yếu là phật thủ, đinh lăng, quế, nghệ, xạ đen, cà gai leo, hà thủ ô... Việc phát triển các sản phẩm hàng hóa từ cây dược liệu đang được nhiều địa phương tập trung thực hiện, nhất là khi đã có lực đẩy từ Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP).

Sản phẩm tinh dầu hương nhu của một số hộ dân thôn Đông Thịnh hiện đang được UBND xã Tú Thịnh (Sơn Dương) đưa vào danh mục hỗ trợ theo Chương trình Mỗi xã một sản phẩm. Ông Đỗ Đình Ý, người đầu tiên đưa nghề sản xuất tinh dầu hương nhu về Tú Thịnh cho biết, tinh dầu hương nhu có nhiều công dụng, như giúp mọc tóc hiệu quả, chăm sóc tóc khỏe mạnh, chữa cảm nắng, sốt nóng lạnh, hôi miệng, sát khuẩn vết thương, tăng sức đề kháng, điều trị viêm khớp, đau nhức cơ thể, xông hương nhu khử mùi và thư giãn, tốt cho hệ tiêu hóa và có thể làm nước hoa tự nhiên... Mỗi năm, riêng gia đình ông Ý cung cấp cho thị trường xấp xỉ 400 lít tinh dầu, giá bán khoảng 800 nghìn đồng đến 1,2 triệu đồng/lít. Ông Ý hy vọng, khi được hỗ trợ phát triển theo Chương trình Mỗi xã một sản phẩm, tinh dầu hương nhu của gia đình ông và các hộ dân trong thôn sẽ được đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại hơn, được hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu sản phẩm để giá bán trên thị trường cao hơn và ổn định hơn. Vì theo ông Ý, cùng là tinh dầu hương nhu nhưng trên thị trường, những sản phẩm có nhãn hiệu đang được bán cao hơn tinh dầu Đông Thịnh gấp đôi, gấp ba lần.

Vườn hương nhu của gia đình ông Đỗ Đình Ý, thôn Đông Thịnh, xã Tú Thịnh (Sơn Dương).

4 năm trở lại đây, nhiều hộ dân thôn 17, phường Mỹ Lâm (TP Tuyên Quang) - trước đây là thôn 17, xã Phú Lâm của huyện Yên Sơn - đã có thêm thu nhập từ việc trồng cây xạ đen. Phát triển cây dược liệu góp phần đa dạng hóa sản phẩm nông sản của phường gắn với việc thực hiện Chương trình Mỗi xã một sản phẩm. Gia đình bà Vũ Thị Toan, thôn 17 cho biết: Năm 2015, xác định cây xạ đen là cây dược liệu quý chữa các bệnh về gan, thận, hiệu quả kinh tế cao, gia đình bà đã cải tạo 2.000 m2 đất vườn đồi để trồng cây xạ đen. Trung bình mỗi tháng, xạ đen cho khai thác 1 lần, giá bán sản phẩm khô dao động từ 130.000 đồng - 140.000 đồng/kg. Với 2.000 m2, mỗi năm trừ chi phí đầu tư, gia đình bà Toan thu lãi trên 30 triệu đồng. Nhận thấy việc trồng cây xạ đen cho hiệu quả kinh tế cao nên bà Toan tiếp tục chuyển đổi diện tích đất còn lại của gia đình sang trồng xạ đen, cỏ ngọt, cà gai leo, đinh lăng. Cùng với gia đình bà Toan, nhiều hộ gia đình trong thôn cũng đã chuyển đổi sang hướng trồng cây dược liệu. Theo UBND phường Mỹ Lâm, phường đang tính toán để mở rộng diện tích cây xạ đen và một số cây dược liệu khác như: Cà gai leo, gừng, nghệ… Theo đó, việc kết hợp sử dụng dược liệu và nguồn nước khoáng nóng tự nhiên để phát triển du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh sẽ đem lại lợi ích kép cho cả người sản xuất, người sử dụng và tăng nguồn thu cho địa phương.

Cà gai leo với công dụng hỗ trợ chữa các bệnh về gan với đặc tính dễ trồng, cho khai thác kéo dài 2 - 3 năm hiện cũng được nhiều địa phương ở Sơn Dương, Chiêm Hóa, Lâm Bình đưa vào trồng. Ngoài những diện tích cà gai leo tại Sơn Dương, Chiêm Hóa được một số doanh nghiệp tại Vĩnh Phúc, Hà Nội bao tiêu, thì một số hợp tác xã trên địa bàn tỉnh cũng đã tính đến chuyện đầu tư máy móc hiện đại để sản xuất ngay tại địa phương mà không phải xuất bán ra ngoài, qua đó tạo thành chuỗi liên kết ổn định, giúp người nông dân yên tâm, nâng cao thu nhập. Hợp tác xã thanh niên Thượng Lâm (Lâm Bình) hiện đã sản xuất thử nghiệm sản phẩm trà cà gai leo ngay tại địa phương. Sản phẩm của đơn vị này ngoài cung cấp cho khách du lịch đến địa phương đã bắt đầu tính đến việc mở rộng thị trường ra ngoài.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, xu hướng trồng cây dược liệu đang bắt đầu phát triển mạnh tại Tuyên Quang, đặc biệt từ khi Chương trình Mỗi xã một sản phẩm được triển khai sâu rộng tại các địa phương. Hiện nay, ngoài những cây trồng như cà gai leo, khôi nhung, xạ đen... một số doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân đưa vào nhiều cây trồng mới như sachi, một số nơi khôi phục lại cây sả... Tuy nhiên, ngành nông nghiệp khuyến cáo, những cây trồng không nằm trong danh mục cây trồng chính của tỉnh, người dân nên thận trọng trong việc mở rộng diện tích.

Bài, ảnh: Trần Liên

Vui mùa kiệu Tết

Nguồn tin: Báo Bình Định

Ðến Phù Mỹ (tỉnh Bình Định) vào thời điểm này, ở đâu cũng bắt gặp cảnh người dân hối hả thu hoạch, vận chuyển kiệu đi tiêu thụ. Vụ kiệu Tết năm nay, người trồng kiệu ở Phù Mỹ phấn khởi vì kiệu được mùa, được giá.

Theo ngành chức năng huyện Phù Mỹ, năng suất kiệu Tết năm nay đạt khá cao, giá bán dao động từ 30.000 - 40.000 đồng/kg kiệu củ, tăng nhiều so với cùng kỳ năm ngoái, nên bà con nông dân đã có niềm vui trọn vẹn.

Gia đình ông Ngô Văn Lộc, ở thôn Hội Phú, xã Mỹ Hòa, thu hoạch kiệu.

Bên đám kiệu đang thu hoạch dở, ông Ngô Văn Lộc, ở thôn Hội Phú, xã Mỹ Hòa, chia sẻ: “Vụ kiệu năm ngoái, ở thời điểm cây kiệu phát triển mạnh thì trời nắng nóng kéo dài, gần cuối vụ lại xảy ra nhiều đợt mưa lũ, nên việc đầu tư, chăm sóc rất vất vả, năng suất kiệu không cao, giá sản phẩm lại rớt xuống rất thấp. Năm nay thời tiết thuận lợi, năng suất và giá sản phẩm đều cao hơn, đầu ra lại thuận lợi, nên nông dân có niềm vui trọn vẹn. Riêng 2 sào kiệu của gia đình tôi đã được thương lái đặt mua tại ruộng với giá 35.000 đồng/kg kiệu củ, tăng tới 5.000 đồng/kg so với năm ngoái”.

Chung niềm vui như ông Lộc, hộ ông Nguyễn Văn Tâm, ở cùng thôn, cho biết: Gia đình tôi chuyển 4 sào đất sản xuất lúa kém hiệu quả sang trồng kiệu. Và ngay ở vụ đầu tiên sau khi chuyển, tôi đã thấy phấn khởi. Tôi chỉ mới thu hoạch 2 sào mà đã thấy rất vui, năng suất kiệu khá lắm - đạt 2,5 tạ/sào, với giá 37.000 đồng/kg, coi như chắc thắng. Còn 2 sào nữa, thương lái đã đặt mua rồi, ngày mai sẽ thu hoạch để giao cho họ.

Tại các cánh đồng kiệu xã Mỹ Trinh, nơi được mệnh danh là “thủ phủ” kiệu của Phù Mỹ, không khó để bắt gặp nét rạng ngời trên gương mặt của những nông dân đang miệt mài thu hoạch kiệu Tết.

Bà Nguyễn Thị Bốn, ở thôn Trà Lương, cho hay: “Kiệu là nguồn thu chính, nên chúng tôi trông chờ dữ lắm! Năm nay, kiệu được mùa, được cả giá, tiêu thụ lại thuận lợi, nên ai cũng thấy phấn khởi. Thương lái đến tại ruộng mua sỉ nguyên đám nên mình cũng đỡ tốn chi phí thuê công nhổ, rửa kiệu, bó kiệu đi cân... Với 6 sào kiệu, gia đình tôi lãi khoảng 30 triệu đồng, cao hơn nhiều so với năm ngoái”.

Sản phẩm của bà con nông dân được các đại lý tại xã Mỹ Hòa, Mỹ Trinh thu mua, phân loại để vận chuyển vào các tỉnh phía Nam tiêu thụ.

Không chỉ người trồng kiệu phấn khởi mà ngay cả cánh thương lái cũng hồ hởi không kém. Ông Võ Văn Bình, một trong những người thu mua kiệu nhiều nhất ở xã Mỹ Trinh, cho biết, năm nay kiệu đắt giá vì khách hàng trong Nam ăn rất mạnh. Vui nhất là giá cao ngay cả khi kiệu được mùa, chứ giá cao kiểu do mất mùa thì cũng như không. “Mỗi ngày, tôi xuất từ 7 - 10 tấn kiệu cho vựa kiệu, chủ nậu ở các tỉnh phía Nam, chậm một ngày là bạn hàng gọi điện nhắc nhở ngay. Năm nay năng suất kiệu ở Mỹ Trinh cao, giá cả rất tốt, đầu ra thuận lợi, nên cả nông dân và những người kinh doanh kiệu như chúng tôi đều có thu nhập khá”, ông Bình nói.

Rời vựa kiệu Mỹ Trinh, chúng tôi đi dọc QL 1A từ đoạn thuộc thôn Diêm Tiêu vào chợ Phù Mỹ (thị trấn Phù Mỹ), khu vực thôn Trà Bình (xã Mỹ Hiệp)…, đến đâu cũng gặp khung cảnh kiệu chất đầy, lá kiệu xanh ngắt, củ kiệu trắng muốt cùng gương mặt tươi rói, phấn khởi của những người trồng kiệu.

Theo ông Hồ Ngọc Chánh, Phó Chủ tịch UBND huyện Phù Mỹ, năm nay, toàn huyện đưa vào trồng 899 ha kiệu, tăng 9 ha so với vụ này năm trước. Giáp Tết, kiệu là cây trồng mang lại thu nhập chính cho nông dân, nên kiệu được mùa, được giá đồng nghĩa với việc thu nhập của nông dân tăng cao, đời sống được cải thiện và việc tái đầu tư sản xuất cũng sẽ tốt hơn. Ngoài những hộ trồng kiệu, những người chuyên mua - bán kiệu cũng có thu nhập khá. Các dịch vụ “ăn theo” cây kiệu như: Đan giỏ kiệu, nhổ, chặt, xếp bó, vận chuyển kiệu lên xe cũng tạo việc làm, thu nhập khá cho hàng nghìn lao động, các dịch vụ ăn uống, thương mại cũng rộn ràng kẻ bán người mua…

PHẠM TIẾN SỸ

Giá xoài Đài Loan tăng

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Hiện nay, xoài Đài Loan được thương lái thu mua cao hơn từ 3.000-5.000 đồng/kg so với cách nay 1 tháng. Cụ thể, tại huyện Phụng Hiệp (tỉnh Hậu Giang), xoài Đài Loan bao trái có vỏ màu vàng được thu mua với giá 33.000-35.000 đồng/kg; không bao trái, vỏ màu xanh có giá 22.000-25.000 đồng/kg.

Xoài bao trái màu vàng rất được ưa chuộng trong thời gian gần đây.

Theo nhiều tiểu thương thu mua xoài ở huyện Phụng Hiệp, hiện các công ty, doanh nghiệp đang chuẩn bị nguồn hàng để xuất khẩu nên giá xoài Đài Loan thời gian qua có xu hướng tăng. Dự đoán, thời điểm cận tết nhiều khả năng giá sẽ tiếp tục tăng, đặc biệt là đối với xoài Đài Loan bao trái có vỏ màu vàng được dùng để chưng trên mâm ngũ quả.

Tin, ảnh: DUY KHÁNH

Vĩnh Long: Mô hình quản lý dịch hại tổng hợp trên cây bưởi

Nguồn tin: Khuyến Nông VN

Hiện nay, trên địa bàn huyện Vũng Liêm, cây bưởi da xanh được trồng với diện tích gần 1.500 ha, tập trung nhiều ở hai xã Thanh Bình và Quới Thiện. Cây bưởi là cây kinh tế chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cao nên được nhiều nông dân mạnh dạn chuyển đổi thiết lập vườn và đầu tư canh tác.

Cây bưởi là loại cây khá nhạy cảm, đòi hỏi người trồng phải nắm vững kỹ thuật canh tác và tốn nhiều công chăm sóc thì mới cho năng suất cao. Ngoài việc đầu tư chăm sóc, nắm vững kỹ thuật, nông dân cần nhận dạng và quản lý được sâu bệnh hại trên cây bưởi thì mới duy trì năng suất ổn định, đảm bảo chất lượng trái và tăng hiệu quả kinh tế cho người canh tác. Tuy nhiên, diễn biến sâu bệnh hại trước tình hình biến đổi khí hậu phức tạp, nông dân gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận dạng được thiên địch và dịch hại, thường xuyên phun thuốc định kỳ làm giảm mật số thiên địch, tăng chi phí sản xuất và từ đó làm giảm lợi nhuận của nông dân.

Từ những thực trạng nêu trên, Chi cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật Vĩnh Long phối hợp Trạm Trồng trọt và bảo vệ thực vật Vũng Liêm đã xây dựng và thực hiện mô hình “Mô hình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây bưởi” tại ấp Phước Lý Nhất, xã Quới Thiện, huyện Vũng Liêm. Mô hình có quy mô 05 ha, Nhà nước hỗ trợ 30% chi phí thực hiện, 70% nông dân đóng góp vào (đất đai, cây trồng, công lao động).

Trồng hoa trong vườn bưởi thu hút thiên địch

8 tháng thực hiện, vừa qua Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã tổng kết mô hình. Việc tham gia mô hình giúp nông dân thấy được mật độ trồng dày sẽ làm tăng áp lực sâu bệnh; Việc cắt tỉa cành, vệ sinh vườn, bón phân cân đối và tránh bón thừa phân đạm cũng giúp hạn chế sâu bệnh bộc phát; Việc khuyến cáo nông dân sử dụng phân hữu cơ cho cây ăn trái nhằm tăng độ tơi xốp của đất, tăng năng suất và chất lượng trái đã được nông dân quan tâm chú ý và thường xuyên bón cho vườn bưởi; Ý thức người nông dân được nâng lên trong các biện pháp phòng trừ dịch hại theo IPM; Nông dân nhận biết các đối tượng gây hại chủ yếu trên bưởi và biết cách quản lý hiệu quả bằng biện pháp canh tác; Nông dân cũng trồng hoa thu hút thiên địch nhằm sử dụng thiên địch làm giảm mật số dịch hại, qua đó giảm được số lần phun thuốc BVTV, giúp nông dân giảm chi phí sản xuất và gia tăng hiệu quả kinh tế trong canh tác bưởi. Ngoài ra, nông dân cũng nâng cao nhận thức về việc thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV đúng theo quy định để bảo vệ môi trường.

Về hiệu quả kinh tế, mô hình cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với ngoài mô hình. Năng suất trong mô hình 16 tấn/ha/năm, ngoài mô hình 14,5 tấn/ha/năm. Lợi nhuận trong mô hình 396.140.000 đồng, còn ngoài mô hình 342.510.000 đồng.

Như vậy, việc thực hiện mô hình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây bưởi đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực, làm cơ sở để nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh.

Lê Dung - Trạm Trồng trọt & BVTV Vũng Liêm, Vĩnh Long

Hưng Yên: Hơn 53,1 tỷ đồng bảo tồn và phát triển vùng trồng nhãn, vải đặc sản

Nguồn tin: Báo Hưng Yên

Ngày 31.12.2019, UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định số 2918/QĐ – UBND phê duyệt Đề án Bảo tồn và phát triển vùng trồng nhãn, vải đặc sản tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2020 – 2025, định hướng đến năm 2030 (viết tắt là đề án).

Mục tiêu chung của đề án là bảo tồn nguồn gen nhãn, vải nhằm cung cấp nguồn gen phong phú để bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững sản xuất cây nhãn, vải của tỉnh; góp phần bảo vệ môi trường, gìn giữ các nét văn hóa, truyền thống, tri thức bản địa và cung cấp vật liệu cho các chương trình chọn tạo giống và nghiên cứu khoa học khác. Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để đầu tư phát triển, bảo tồn và thương mại hóa sản phẩm từ nhãn, vải. Chú trọng bảo hộ, bảo tồn nguồn gen nhãn, vải phục vụ mục tiêu du lịch và chọn tạo giống. Tích hợp hệ thống công nghệ thông tin truy xuất nguồn gốc; xác thực để xây dựng cơ sở tra cứu và quản lý xác thực đầu vào và đầu tư phục vụ tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi nhằm điều tiết và phát triển thị trường nông sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu.

Đề án chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn 2020 – 2025 gồm các nội dung: Kiểm kê, thu thập bổ sung, xây dựng cơ sở dữ liệu và lập bản đồ phân bố nguồn gen nhãn, vải. Bảo tồn nguyên vị và chuyển vị nguồn gen cây nhãn, vải. Khai thác, phát triển nguồn gen nhãn, vải đặc sản Hưng Yên. Thông tin, tuyên truyền, đào tạo, tập huấn, hội nghị, hội thảo. Giai đoạn 2026 – 2030: Tiếp tục duy trì các hoạt động bảo tồn nguyên trạng đối với 50 nguồn gen nhãn, vải đặc sản và vườn bảo tồn nhãn, vải tại Trung tâm Giống nông nghiệp. Tổ chức hội nghị tập huấn, tuyên truyền, hướng dẫn về công tác bảo tồn và giải pháp kỹ thuật thâm canh cây nhãn, vải.

Kinh phí thực hiện đề án là hơn 53,1 tỷ đồng, trong đó nguồn ngân sách Nhà nước hơn 18,4 tỷ đồng, còn lại là vốn đối ứng của nhân dân.

Đức Toản

Chăn nuôi bò cho hiệu quả kinh tế cao

Nguồn tin: Báo Thái Bình

Thái Bình là tỉnh nông nghiệp, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu, bò như nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp dồi dào được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, diện tích vùng bãi bồi ven sông lớn phù hợp để chăn thả đại gia súc... Phát huy tiềm năng và lợi thế đó, nhiều hộ dân đã chăn nuôi trâu, bò - chủ yếu là chăn nuôi bò, cho thu nhập cao và ổn định.

Mô hình chăn nuôi bò tổng hợp của gia đình ông Bùi Văn Bốn, thôn Kiến Xá, xã Nguyên Xá (Vũ Thư) cho hiệu quả kinh tế cao.

Gắn bó với nghề nuôi bò gần 15 năm nay, có thời điểm gia đình ông Bùi Văn Bốn ở thôn Kiến Xá, xã Nguyên Xá (Vũ Thư) nuôi tới 63 con bò sinh sản và bò thương phẩm. Năm 2004, ông Bốn đấu thầu hơn 3ha đất ven đê sông Hồng để xây dựng trang trại chăn nuôi kết hợp với trồng trọt.

Ông Bốn cho biết: Năm 2005, tôi đầu tư 20 triệu đồng để mua hai cặp bò mẹ con giống lai Sind về nuôi và nhân giống. Bê con sinh ra nếu là cái được giữ lại làm giống còn bê đực sẽ nuôi vỗ béo thành bò thương phẩm để bán. Qua các năm, đàn bò sinh sản được nhân lên tới 30 con, chưa kể đàn bò thịt. Mỗi con bò đực nuôi khoảng một năm đạt cân nặng 2,5 - 2,7 tạ có giá bán từ 20 - 25 triệu đồng/con, nuôi khoảng 2 năm đạt cân nặng 4,5 - 5 tạ có giá bán từ 30 - 35 triệu đồng/con. Nuôi bò sinh sản và bò thương phẩm tuy thời gian nuôi dài nhưng giá cả ổn định, ít dịch bệnh, chi phí chăn nuôi thấp do tận dụng được nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Từ khi nuôi bò đến nay, nguồn lãi thu được qua các năm đều tăng, năm nuôi ít cho lãi khoảng 150 triệu đồng, riêng năm 2019 gia đình tôi thu lãi gần 250 triệu đồng từ đàn bò.

Chuyển sang nghề nuôi bò được 4 năm nay với số lượng nuôi thường xuyên từ 20 - 40 con, gia đình ông Đỗ Văn Tuyện ở thôn Cao Mộc, xã Đồng Tiến (Quỳnh Phụ) chuyên nuôi bò vỗ béo.

Ông Tuyện cho biết: Với diện tích trang trại hơn 2ha, ngoài xây dựng khu chuồng trại chăn nuôi rộng gần 500m2 diện tích còn lại để trồng cỏ làm thức ăn cho bò. Tôi chọn phương thức nuôi bò vỗ béo bởi những ưu điểm như tiết kiệm được thời gian nuôi, không mất nhiều công chăn thả, khả năng thu hồi vốn nhanh. Bò vỗ béo theo phương thức nuôi bán tự nhiên, hàng ngày được thả ra cánh đồng để tìm thức ăn tự nhiên, sau đó cho ăn thêm tại chuồng bằng cỏ tươi xay kết hợp với thức ăn tinh như cám ngô, cám vỗ béo bò thịt và bổ sung thêm vitamin. Sau 3 - 4 tháng vỗ béo với điều kiện khẩu phần ăn uống được bảo đảm và chăm sóc tốt, những con bê đạt kích cỡ bò thương phẩm là có thể xuất bán với mức lãi bình quân từ 4 - 5 triệu đồng/con. Mỗi năm gia đình nuôi từ 3 - 4 lứa bò vỗ béo, cung cấp cho thị trường khoảng 25 - 30 con bò thương phẩm, sau khi trừ chi phí còn lãi hơn 100 triệu đồng.

Gia đình ông Đỗ Văn Tuyện, thôn Cao Mộc, xã Đồng Tiến (Quỳnh Phụ) chuyên nuôi bò vỗ béo cho thu nhập ổn định.

Mô hình chăn nuôi bò của gia đình ông Bốn, ông Tuyện cho thấy, dù chăn nuôi theo hình thức nào thì cũng cho hiệu quả kinh tế cao và ổn định. Có thể khẳng định tầm quan trọng và lợi ích kinh tế từ chăn nuôi bò đó là giúp khai thác tối ưu các nguồn lợi thiên nhiên như đồng bãi chăn thả, tận dụng nguồn phế phụ phẩm trong nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi; giải quyết việc làm, tạo sinh kế cho người dân; cho nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao; cung cấp phân bón cho cây trồng... Từ những lợi ích trên, mô hình chăn nuôi bò cần được nhân rộng, phát triển để tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh.

Theo báo cáo của ngành Nông nghiệp, hiện nay toàn tỉnh có 14.744 hộ chăn nuôi trâu, bò, trong đó: đàn bò có gần 48.600 con được nuôi tập trung chủ yếu ở Hưng Hà, Vũ Thư, Thái Thụy, Quỳnh Phụ; đàn trâu có gần 6.300 con được nuôi tập trung chủ yếu ở Tiền Hải, Thái Thụy, Kiến Xương. Định hướng phát triển chăn nuôi của tỉnh trong thời gian tới đó là tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng giảm tỷ trọng chăn nuôi lợn, tăng tỷ trọng chăn nuôi đại gia súc; nuôi trâu, bò lấy thịt và lấy sữa là một trong những đối tượng con vật nuôi chủ lực của tỉnh với mục tiêu đến năm 2025 phát triển tổng đàn tăng gấp 3 - 4 lần hiện nay; phát triển mạnh các giống bò cao sản có năng suất, chất lượng cho giá trị kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh sản phẩm và tiếp cận thị trường. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển đàn trâu, bò thương phẩm theo chuỗi liên kết giai đoạn 2019 - 2025 và những năm tiếp theo; UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2256/QĐ-UBND về ban hành đề án “Phát triển đàn trâu, bò thương phẩm theo chuỗi liên kết giai đoạn 2019 - 2025 và những năm tiếp theo”. Đây là những cơ sở quan trọng để thúc đẩy phát triển đàn trâu, bò thương phẩm trên địa bàn tỉnh, từng bước chuyển đổi cơ cấu ngành Nông nghiệp nói chung, ngành chăn nuôi nói riêng theo hướng hiệu quả, bền vững.

Thanh Huyền

Diệt côn trùng đúng cách để tổ yến đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

Nguồn tin: Sài Gòn Giải Phóng

Hiện nay, nhiều nhà nuôi yến gặp phải những vấn đề về côn trùng như mạt, mối mọt, kiến, gián, chuột… làm ảnh hưởng đến chất lượng và sản lượng tổ yến. Nhiều chủ nhà yến thường mua sản phẩm diệt côn trùng ngoài thị trường, dù diệt được côn trùng nhưng có những hoạt chất làm ảnh hưởng đến chất lượng tổ yến.

Trong khi đó, chất lượng tổ yến là yếu tố quan trọng nhất khi xuất khẩu nên việc kiểm soát các thành phần có trong tổ phải được thực hiện rất kỹ lưỡng và nghiêm ngặt.

Vừa qua, Công ty Thiết bị nuôi yến Nikodo đã ký kết với bộ phận Khoa học Môi trường, nhánh Khoa học Cây trồng thuộc Tập đoàn Bayer Việt Nam (ảnh) trở thành nhà phân phối các dòng sản phẩm khoa học môi trường quản lý các loài dịch hại trong nhà yến. Bộ giải pháp này nhằm nâng cao chất lượng nhà yến, góp phần đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, có ý nghĩa rất lớn đối với cộng đồng nuôi chim yến tại Việt Nam.

Với những giải pháp kiểm soát côn trùng thân thiện môi trường của Bayer như Maxforce® Quantum 0.03% - Gel diệt kiến thân thiện, Maxforce® Forte - Bả diệt gián hiệu quả, Racumin® 0.0375PA - thuốc diệt chuột thông minh, K-Othrine® Polyzone™ 62.5 SC - Giải pháp phun tồn lưu kiểm soát côn trùng, đảm bảo an toàn cho chim yến, giữ nguyên giá trị dinh dưỡng của tổ yến, tạo nên hệ thống nhà yến sạch để đón đầu cho việc xuất khẩu tổ yến chính ngạch trong tương lai.

THANH HẢI

Lợi nhuận ‘kép’ từ mô hình cá - vịt trên ruộng lúa

Nguồn tin: Báo Sóc Trăng

Nhằm tăng thu nhập trên cùng một diện tích, anh Nguyễn Cao Đồi, ở ấp Mỹ Hiệp, xã Long Bình (TX. Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng) đã thành công với mô hình nuôi cá - vịt trên ruộng lúa. Đây là mô hình được đánh giá là có tính khả thi cao vì phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đặc biệt mang lại lợi nhuận “kép” đối với gia đình anh.

Tận dụng bờ bao Nhà nước hỗ trợ đầu tư để phát triển mô hình nuôi cá trên ruộng lúa, anh Đồi đã xây dựng mô hình kinh tế tổng hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao. Với lợi thế diện tích rộng 7ha, mỗi năm anh Đồi làm 2 vụ lúa và thả 1 vụ cá đồng kết hợp nuôi vịt. Do hiệu quả kinh tế cao nên anh Đồi đã phát triển mô hình này 6 năm nay. Theo anh đây là mô hình sản xuất kết hợp với chăn nuôi thể hiện tính ưu việt; đồng thời hỗ trợ lẫn nhau để tăng hiệu quả sản xuất.

Anh Đồi cho biết: “Trước đây, gia đình tôi thuộc hộ nằm trong Chương trình 135 được Nhà nước hỗ trợ làm bờ bao, mương để phát triển mô hình nuôi cá trên ruộng lúa. Sau này, tôi lấp mương và giữ bờ bao tận dụng để phát triển mô hình sản xuất kết hợp trồng trọt, chăn nuôi cá - lúa - vịt. Sau khi thu hoạch vụ lúa Thu - Đông là lúc nước nổi tràn về nên tôi nuôi cá đồng, như cá lóc, rô, sặc rằn, cá trê. Nuôi với diện tích lớn nhưng hầu như giống cá của nhà để lại, chỉ phải mua giống cá trê. Để nuôi đạt hiệu quả thì giai đoạn ươm giống quan trọng, trong đìa ương tuyệt đối là không có cá tạp, đặc biệt nếu cá lóc vào sẽ ăn hết cá con; ổn định được môi trường nước trong quá trình nuôi. Vì vậy, tôi thường xuyên bơm nước để giữ mực nước trong ao từ 3 tấc đến 4 tấc. Sau khi ươm hơn 1 tháng, cá phát triển tốt đạt từ 110 con/1kg đến 130 con/1kg thì thả ra ruộng. Muốn cho cá ra ruộng nhanh thì chờ mấy đám mưa lớn vào đêm để cá ra mạnh hoặc bơm nước ở ngoài ruộng cao. Hàng năm, tôi đều ươm 3 ao cá giống, với diện tích khoảng 600m2 nên không phải mua cá giống, giảm chi phí rất nhiều”.

Nuôi vịt - cá trên ruộng lúa mùa nước nổi giúp gia đình anh Nguyễn Cao Đồi tăng gấp đôi nguồn thu nhập.

Để thành công như ngày hôm nay thì ngoài kinh nghiệm tích lũy qua các năm sản xuất, hàng năm anh Đồi đều được Trạm Khuyến nông thị xã hỗ trợ con giống và kỹ thuật chăm sóc nên mô hình kinh tế tổng hợp của gia đình anh năm nào cũng mang lại lợi nhuận cao. Theo anh Đồi, để nuôi cá đạt hiệu quả, đến tháng 9 (âm lịch), khi thời tiết trở gió thì cá nhảy phóng đi để kiếm đìa, bọng trú ẩn nên anh đầu tư hệ thống bờ bao kiên cố cùng với căng lưới giáp ranh cao nên nuôi cá không bị thất thoát. Nuôi cá trên ruộng giúp cá phát triển tự nhiên cho đến gieo sạ lúa Đông - Xuân mới rút nước thu hoạch. Cách làm này không tốn chi phí thức ăn, chỉ đầu tư lưới đăng thu hoạch cá tự nhiên, nên luôn bán được giá cao. Hơn nữa trong thời gian này nguồn thức ăn rất dồi dào từ lúa thu hoạch rơi vãi ở vụ trước cùng các loại thức ăn tự nhiên khi mùa nước nổi về nên cá mau lớn, bán được giá. “Năm ngoái, tôi bán cá lóc chỉ có giá 80.000 đồng/kg nhưng năm nay tôi bán đầu vụ được 110.000 đồng/kg, cá trê thương lái về tận nơi mua 75.000 đồng/kg và cá sặc rằn bán khoảng 55.000 đồng/kg. Sau 6 tháng thả nuôi, khoảng giữa tháng 4 âm lịch đến đầu tháng 10 âm lịch là cho thu hoạch. Hiện tôi đang rút nước cạn thu hoạch cá để sạ lúa vụ Đông - Xuân. Vụ này sau khi để lại cá cái làm giống cho vụ sau thì cũng lời trên 70 triệu đồng từ cá” - anh Đồi cho hay.

Hàng năm, ngoài thu nhập từ nuôi cá, lúa thì anh Đồi còn tăng thu nhập nhờ nuôi vịt. Khoảng tháng 5, tháng 6 âm lịch, sau khi cắt lúa vụ Hè - Thu xong, anh Đồi bắt đầu nuôi hàng ngàn con vịt cỏ. Theo anh Đồi, khi bắt vịt về chỉ nhốt trong chuồng hơn 20 ngày sau đó thả ra đồng. Lúc này tận dụng diện tích đồng nhà rộng và mua một số đồng ở ngoài nên sau khi lúa được thu hoạch xong, nguồn thức ăn dồi dào từ tự nhiên và lúa rớt xuống, thời điểm này không tốn nhiều thức ăn cho vịt. Bên cạnh nuôi vịt thả đồng thì vào mùa nước nổi, anh còn lên sàn nuôi vịt Sipi. Anh Đồi chia sẻ: “Từ tháng 5 – 10 (âm lịch) ruộng bị ngập nước. Đó không chỉ là điều kiện thuận lợi để tôi nuôi cá trên diện tích ngập nước mà tôi còn tận dụng không gian để lên sàn nuôi vịt. Phân vịt rớt xuống ruộng cho cá ăn. Vì vậy, vịt, cá mau lớn và vụ lúa sau rất tốt do đất đai màu mỡ. Thời gian nuôi khoảng 45 ngày là xuất chuồng, tôi mới bán một đợt, trọng lượng trung bình khoảng 3,1kg/con, với giá 35.000 đồng/kg. Hiện tôi đang mua thêm khoảng gần 500 con vịt Sipi nữa về nuôi”. Nhờ hệ thống chuồng trại được làm khoa học, thoáng mát, phân vịt được xử lý tốt cùng với chăm sóc đúng kỹ thuật nên đàn vịt của gia đình anh phát triển rất tốt. Nhờ vậy, mỗi năm anh Đồi cũng thu về hàng trăm triệu đồng từ nuôi vịt.

Thực tế cho thấy, việc phát triển mô hình sản xuất theo hướng kết hợp giữa cá - vịt trên ruộng lúa của anh Đồi chẳng những giúp tăng thu nhập trên cùng một diện tích mà sản xuất lúa trên ruộng nuôi cá cũng ít bị sâu bệnh, tiết kiệm được chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, năng suất ổn định. Vì vậy, mô hình này có thể nhân rộng, vì đây là mô hình sản xuất theo hướng bền vững, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp.

K. Thoa

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop