Tin nông nghiệp ngày 09 tháng 7 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 09 tháng 7 năm 2019

Mít ngọt có thành ‘đắng’?

Nguồn tin: Báo Bình Phước

Vụ trồng mới năm 2019, cùng với sầu riêng, bưởi da xanh và bơ thì mít Thái siêu sớm đang được nông dân Bình Phước trồng phổ biến. Hộ ít thì vài chục cây, hợp tác xã (HTX) trồng cả vài chục héc ta. Người ít đất trồng dày, nhiều đất thì trồng theo quy cách. Có hộ cưa cao su, điều để trồng mít. Có hộ trồng cả trên đất trồng lúa, đồi dốc. Thực trạng nông dân trồng mít ồ ạt đang tạo ra nguy cơ cung vượt cầu, liệu trái mít ngọt có thành mít “đắng”?

NHÀ NHÀ TRỒNG MÍT

Ông Lê Văn Tám ở thôn 8, xã Bình Minh (Bù Đăng) vừa cắt 6 ha cao su trồng thay thế 4 loại cây gồm điều, sầu riêng, chôm chôm và mít Thái siêu sớm. Có 3 loại cây được trồng xen ghép, riêng mít Thái siêu sớm trồng 2 ha. Ông Tám khá hài lòng về mô hình chuyển đổi cây trồng của mình, đặc biệt đối với mít Thái vì cho rằng, loại cây này sẽ tạo ra “cú hích” về kinh tế cho gia đình. Ông Tám nhẩm tính nhanh bài toán kinh tế về cây mít Thái: Vụ năm 2018, giá mít Thái tại Bình Phước lên tới 60 ngàn đồng/kg. Chỉ tính ít nhất mỗi cây để 1 trái, mỗi trái nặng 10kg thì 1 cây thu 600 ngàn đồng; 1 ha trồng 1.000 cây sẽ thu 600 triệu đồng/vụ; mỗi cây để 2 trái sẽ thu 1,2 tỷ đồng/vụ. Trong khi 1 năm thu chính vụ mùa khô, còn lại thu rải rác quanh năm. Trồng mít Thái mang lại hiệu quả kinh tế không kém gì sầu riêng và cao hơn cây điều gấp nhiều lần. Với cách tính này, đầu tháng 5-2019, ông Tám về Vĩnh Long tham quan các vườn mít hiệu quả, nghe tư vấn và quyết định trồng 2.000 cây mít Thái/2 ha. Hiện cây mít phát triển tốt. Ông Tám cho biết thêm: “Gia đình tôi từ tỉnh Vĩnh Long lên Bù Đăng lập nghiệp từ năm 1997 và đã trồng 150 cây mít. Thời điểm đó, thị trường tiêu thụ mít không nhiều nên chỉ để ăn, sau đó tôi cưa đi trồng cây khác. Hy vọng, với thị trường mở như hiện nay, người trồng mít Thái có thể yên tâm hơn”.

Gia đình ông Trần Minh Chánh (trái) ở ấp 6, xã Lộc Hòa là một trong những hộ đi đầu ở huyện Lộc Ninh trồng cây mít Thái. Đến nay, gia đình ông đã trồng 15 ha mít Thái - Ảnh: Hoàng Thu

Nhà nước sẽ hỗ trợ thành lập HTX, hình thành vùng nguyên liệu tập trung và mời gọi các doanh nghiệp liên kết, đồng thời hỗ trợ chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng theo VietGAP và các tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng mã vùng trồng, truy xuất nguồn gốc để đảm bảo sản xuất an toàn theo hướng hàng hóa phục vụ chế biến, tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Mặt khác, nông dân cần thay đổi căn bản về tư duy để sản xuất ra những sản phẩm đạt chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường. Bà LÊ THỊ ÁNH TUYẾT, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết

Cũng kỳ vọng vào tương lai cây mít Thái, nhiều nông dân tại huyện Bù Đăng trồng một cách ồ ạt. Thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bù Đăng đến tháng 6-2019 cho biết, toàn huyện có khoảng 100 ha mít. Trong đó, tập trung nhiều nhất tại các xã Đức Liễu, Thống Nhất, Nghĩa Trung, Đăng Hà. Cá biệt, một số hộ trồng cả ở diện tích trồng lúa, có hộ trồng trên đồi cao, dốc. Để có nước tưới, chủ vườn khoan giếng, đào hố, lót bạt trữ nước.

Giá mít Thái siêu sớm tăng cao tiếp tục tạo hiệu ứng trồng ồ ạt ở hầu hết các huyện, thị, thành phố trong tỉnh. Đầu tháng 7-2019, tại huyện Đồng Phú có 81 ha trồng mít Thái, tăng 11 ha so năm 2018. Tại các xã Tân Hòa, Tân Hưng, Tân Lợi (Đồng Phú), tuy số hộ trồng diện tích lớn không nhiều, nhưng từ 0,5-2 ha/hộ lại khá phổ biến. Đơn cử tại ấp Đồng Chắc, xã Tân Hòa, các hộ Triệu Văn Long, Bế Văn Thái và Mạc Văn Khanh mỗi hộ vừa trồng thêm 1 ha mít Thái siêu sớm. Tại 2 huyện Lộc Ninh và Bù Đốp, diện tích mít cũng tăng nhanh, trong đó có hộ trồng với diện tích lớn như ông Trần Minh Chánh, ấp 6, xã Lộc Hòa (Lộc Ninh) 15 ha; HTX Thương mại dịch vụ Phước Thiện (Bù Đốp) trồng 160 ha.

KHUYẾN CÁO CỦA NGÀNH CHỨC NĂNG

Theo thống kê chưa đầy đủ từ ngành nông nghiệp Bình Phước, hiện tổng diện tích mít Thái toàn tỉnh khoảng 660 ha. Con số này đang tăng từng ngày bởi hiện mới là đầu mùa mưa, nông dân có thói quen trồng theo số đông, dẫn đến nhiều rủi ro, nguy cơ. Ông Nguyễn Viết Vị, Giám đốc HTX Thương mại dịch vụ Phước Thiện cho biết: Mít Thái siêu sớm thường mắc các bệnh như: đen xơ, múi, nứt trái, mùa mưa mít nhạt, chất lượng giảm, đặc biệt là khi bị ong vàng chích sẽ gây thối trái. Cây thường mắc bệnh xì mủ ở thân, cành ảnh hưởng tới tuổi thọ rất lớn, chữa trị lâu khỏi, sức đề kháng yếu, mau chết. Thương lái mua mít Thái siêu sớm phải kiểm tra chất lượng từng trái, xuất ra thị trường chủ yếu là ăn tươi (không sấy khô như các loại mít khác), do vậy sẽ gặp khó khăn trong khâu bảo quản. Điều đáng lo ngại là thị trường tiêu thụ lớn nhất loại nông sản này là Trung Quốc. Đây là thị trường luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chỉ cần sản phẩm bị lỗi sẽ bị ép giảm giá, thậm chí không mua. Hoặc khi số lượng cung vượt cầu, người nông dân sẽ gặp bất lợi. Việc người dân đổ xô trồng mít Thái sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ và những hệ lụy.

Ông Bế Văn Thái ở ấp Đồng Chắc, xã Tân Hòa (Đồng Phú) trồng 1 ha mít Thái siêu sớm hồi tháng 5-2019

Trước tình hình nhà nông trồng mít ồ ạt như hiện nay, ngày 14-5-2019, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Công văn số 641/SNN-VP về việc chỉ đạo sản xuất cây mít. Theo đó, ngành khuyến cáo nông dân trồng mít Thái phải: Lựa chọn vùng đất canh tác phù hợp đặc tính sinh thái của cây mít, có hệ thống giao thông, thủy lợi thuận lợi, không bị úng vào mùa mưa, có khả năng tưới nước vào mùa khô và phù hợp quy hoạch cây ăn trái của tỉnh. Hạn chế tối đa tình trạng phát triển nhiều tại các vùng không phù hợp, không có điều kiện đầu tư thâm canh dẫn đến nguy cơ phát sinh lây lan dịch bệnh.

Nông dân chỉ trồng mới số lượng nhiều khi có hợp đồng với doanh nghiệp thu mua, bao tiêu sản phẩm gắn với chế biến theo chuỗi giá trị. Trong sản xuất phải tuân thủ quy trình kỹ thuật từ chăm sóc đến thu hoạch; chọn giống phải có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo chất lượng, sạch bệnh và có tên trong danh mục được phép kinh doanh tại Việt Nam hoặc nguồn giống từ cây đầu dòng được cơ quan quản lý nhà nước cấp phép.

Quang Minh

Quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm bưởi Năm Roi Bình Minh

Nguồn tin: Báo Vĩnh Long

Ngày 4/7/2019, tại UBND xã Mỹ Hòa (TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long), Sở Khoa học và Công nghệ triển khai dự án quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý sản phẩm bưởi Năm Roi Bình Minh cho các hộ dân trồng bưởi trên địa bàn xã.

TX Bình Minh có trên 2.000ha trồng bưởi Năm Roi, tập trung tại 2 xã Mỹ Hòa và Đông Thành, sản lượng cung cấp cho thị trường 24.000 tấn/năm.

Nằm trong quy hoạch là loại cây ăn trái chủ lực phát triển của tỉnh và thị xã, nên cây bưởi luôn được ưu tiên phát triển. Tuy nhiên, việc phát triển cây bưởi trên địa bàn thị xã chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế, sức cạnh tranh, giá trị tên tuổi trên thị trường có chiều hướng giảm, thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi giá trị.

Vì vậy, để đẩy mạnh phát triển sản phẩm, giữ vững và nâng cao thương hiệu bưởi Năm Roi Bình Minh trên thị trường, cần có sự vào cuộc quyết liệt và sự hỗ trợ của các cấp, ngành. Trong đó việc thực hiện dự án quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm bưởi Năm Roi Bình Minh của tỉnh là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu của dự án là thiết lập và vận hành được mô hình quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý, góp phần đảm bảo chất lượng, phát huy danh tiếng của sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế cho sản phẩm bưởi Năm Roi mang chỉ dẫn địa lý “Bình Minh”. Kiểm soát được nguồn gốc và chất lượng sản phẩm bưởi Năm Roi bảo hộ chỉ dẫn địa lý, bảo vệ giá trị thương hiệu không thể nhầm lẫn với các sản phẩm khác của các vùng miền khác.

Tin, ảnh: THẢO LY

Hợp tác xã Quýt hồng Lai Vung: Xây dựng thương hiệu bằng chất lượng sản phẩm

Nguồn tin: Báo Đồng Tháp

Nhiều năm qua, nhờ chú trọng sử dụng phân hữu cơ trong canh tác và biện pháp sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, toàn bộ diện tích quýt hồng của Hợp tác xã (HTX) Quýt hồng Lai Vung (huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp) đã mang lại hiệu quả thiết thực. Đặc biệt, hầu hết diện tích canh tác đã chống chọi hiệu quả với hiện tượng vàng lá thối rễ, chết xanh trên cây có múi gây chết cây hàng loạt. Với hướng đi này, HTX Quýt hồng Lai Vung kỳ vọng sẽ nâng chất lượng và giá trị sản phẩm trên thị trường bằng thương hiệu, tăng thu nhập xã viên.

Để nâng cao giá trị sản phẩm, Hợp tác xã Quýt hồng Lai Vung chú trọng sản xuất quýt hồng theo tiêu chuẩn VietGAP Những kết quả bước đầu

Ông Lưu Văn Tín - Giám đốc HTX Quýt hồng Lai Vung cho biết: “Trước đây, nông dân trồng cây có múi tại huyện Lai Vung chủ yếu canh tác theo phương thức cũ. Đó là cứ bón phân, thuốc hóa học mà không cần chọn đúng lúc hay đúng thời điểm. Cách làm này vô tình khiến cho đất bị tổn thương sau thời gian dài lạm dụng phân, thuốc hóa học”. Thời gian qua, đa phần nông dân thieu hiểu biết về khoa học kỹ thuật trong canh tác nên năng suất và chất lượng sản phẩm cây có múi chưa đạt hiệu quả cao. Thêm vào đó, giá cả đầu ra cây có múi không ổn định nên đời sống kinh tế của bà con nông dân gặp khá nhiều khó khăn.

Khi được ngành chức năng vận động chuyển đổi phương thức sản xuất, nâng cao thu nhập của nông hộ vào năm 2010, nhiều bà con trong khu vực xã Long Hậu đã liên kết thành lập Tổ hợp tác (THT) sản xuất quýt hồng Lai Vung với 14 thành viên, canh tác khoảng 7ha. Khi mới thành lập, các thành viên THT tích cực học hỏi, tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất mới... Cuối năm 2012, THT được các ngành chức năng huyện Lai Vung hỗ trợ xây dựng thương hiệu và sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, giúp giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả sản xuất.

Đến năm 2014, HTX Quýt hồng Lai Vung được thành lập gắn với vùng chuyên canh, xây dựng thương hiệu nông sản trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Hơn 5 năm đi vào hoạt động, HTX nhận được nhiều sự hỗ trợ về vật chất, kỹ thuật từ các viện, trường và các ngành chức năng của tỉnh, huyện. Trong các loại cây có múi, HTX quyết định chọn cây quýt hồng chủ lực. Vì đây là sản phẩm đặc trưng của huyện có tiềm năng phát triển. Sau khi nghiên cứu về những hạn chế cũng như ưu điểm của cây quýt hồng, HTX chủ động từ việc thiết kế vườn hợp lý, trồng giống sạch bệnh, chăm sóc chu đáo.

Xác định chất lượng là yếu tố quyết định sự tồn tại nên Ban Giám đốc HTX thường xuyên vận động xã viên tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác cây có múi do địa phương và tỉnh tổ chức. Trên cơ sở đó, HTX định hướng xã viên áp dụng tốt phương pháp sản xuất mới như: sử dụng phân bón hữu cơ, hạn chế sử dụng thuốc hóa học. Ngoài ra, HTX cũng gắn kết với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) huyện và các chuyên gia để thường xuyên cập nhật phương pháp phòng trừ bệnh; học cách sử dụng phân hữu cơ, xử lý ra hoa, đậu trái...

Theo ông Lưu Văn Tín - Giám đốc HTX Quýt hồng Lai Vung, từ năm 2012, HTX (khi đó là THT) đã ứng dụng tiến bộ khoa học của chương trình sản xuất theo hướng VietGAP. Trong quá trình sản xuất, HTX luôn định hướng cho các thành viên sử dụng phân hữu cơ. Cách làm này sẽ đảm bảo tốt cho sự phát triển cây trồng và hướng các thành viên sử dụng phân hóa học gốc sinh học nhưng theo tiêu chí “đúng thuốc, đúng bệnh, đúng thời điểm”. Điều này có thể rút ngắn được số lần phun và giảm chi phí đầu tư. Trong quá trình canh tác, do đất lâu nam nên HTX chú trọng hướng dẫn thành viên sử dụng phân bón hợp lý kết hợp sử dụng phân hữu cơ và bổ sung vi sinh cần thiết. Đồng thời áp dụng nhật ký ghi chép, sổ sách đầy đủ, nhất là chi phí đầu tư, thời gian phun xịt, bón phân, thuốc đã sử dụng, mua từ đại lý nào, thời điểm phun xịt đến khi thu hoạch...

Theo nhiều xã viên HTX, để quýt hồng có năng suất cao, tất cả thành viên phải hiểu rõ điều kiện thổ nhưỡng phù hợp và ứng dụng ky thuật canh tác mới đúng yêu cầu để giảm thiểu dư lượng thuốc... nhằm đảm bảo chất lượng, đáp ứng tốt nhu cầu người tiêu dùng.

Tham gia HTX từ những ngày đầu, ông Nguyễn Phú Hữu - thành viên HTX Quýt hồng Lai Vung sở hưu hơn 1ha diện tích canh tác quýt hồng, mỗi năm khu vườn này mang lại thu nhập cho gia đình ông hơn 300 triệu đồng. Ông Hữu cho biết, mặc dù hiện tượng vàng lá thối rễ, chết xanh trên cây có múi gây ảnh hưởng đến quýt hong nhưng diện tích vườn quýt hồng nhà ông chỉ bị nhiễm số lượng rất ít. Do từ lâu, ông luôn chú trọng sản xuất quýt hồng an toàn theo mô hình VietGAP. Trong đó phải chú trọng các khâu: sử dụng phân vi sinh, điều kiện bảo quản, ghi chép sổ nhật ký sản xuất, tận dụng phân hữu cơ có nguồn gốc vi sinh thay cho phân hóa học, thời gian cách ly với thuốc trước khi thu hoạch... Vì vậy, vào mỗi dịp Tết, quýt hồng luôn được khách hàng tin dùng, thương lái vào tận vườn thu mua.

Góp phần xây dựng thương hiệu cho HTX

Từ sự hỗ trợ của địa phương, nông dân trong HTX Quýt hồng Lai Vung luôn nâng cao ý thức và trách nhiệm trong quy trình sản xuất, áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật sản xuất, VietGAP... góp phần giảm chi phí, tăng năng suất và nâng cao chất lượng cây trồng trên thị trường. Theo ước tính, mỗi xã viên tại HTX thu lợi nhuận trung bình khoảng 200 - 300 triệu đồng/năm.

Dù hiệu quả hoạt động của HTX Quýt hồng Lai Vung mang lại thu nhập khá cho các xã viên, song đến nay hoạt động sản xuất và kinh doanh của HTX vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn. Cụ thể như, khi sản xuất theo quy trình VietGAP, đòi hỏi nông dân trong HTX đầu tư chi phí mua phân sinh học với giá cao, tốn nhiều công chăm sóc, ràng buộc và tuân thủ theo nhiều quy tắc... Do đó, chi phí sản xuất cao hơn so quy trình sản xuất sử dụng phân hóa học. Nhưng thực tế, giá bán quýt an toàn không cao hơn so với quýt thông thường. Hiện tại, sản phẩm quýt hồng sản xuất theo quy trình kỹ thuật, đảm bảo chất lượng an toàn, nhưng chưa tìm được thị trường tiêu thụ ổn định, nông dân chủ yếu bán cho thương lái và họ quyết định giá nên nông dân thu lợi nhuận còn thấp hơn so với thực tế.

Để hỗ trợ cho nông dân sản xuất bền vững, thời gian qua, Phòng NN&PTNT huyện Lai Vung phối hợp với các đơn vị liên quan hỗ trợ các THT, HTX trên địa bàn huyện tổ chức tập huấn chuyển giao quy trình kỹ thuật sản xuất cho nông dân về cơ chế bảo quản, đóng gói, kết nối thị trường. Ngoài ra, địa phương còn tạo điều kiện cho HTX tham gia quảng bá tại các chương trình hội chợ... Song song đó, địa phương còn xây dựng chính sách hỗ trợ, tổ chức cho nông dân tham quan các mô hình sản xuất an toàn đạt hiệu quả cao tại Đà Lạt, TP.Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành khác.

Theo ông Huỳnh Văn Tồn - Phó Phòng NN&PTNT huyện Lai Vung: “Để HTX nâng cao chất lượng và giá trị nông sản trên thị trường, thời gian tới, ngành nông nghiệp sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan hỗ trợ HTX Quýt hồng Lai Vung và các THT, HTX khác trên địa bàn huyện xây dựng thương hiệu, liên kết tiêu thụ nông sản... Điều này sẽ góp phần tìm đầu ra ổn định cho cây có múi, giúp nông dân yên tâm sản xuất, góp phần phát huy thế mạnh, mở ra triển vọng để các mô hình liên kết hoạt động bền vững hơn.

Khánh Phan

Làm giàu từ trồng thanh long ruột đỏ

Nguồn tin: Báo Nông nghiệp

Đó là mô hình trồng thanh long ruột đỏ của gia đình anh Lương Quốc Huy, thôn Làng Thọc, xã Yên Thắng, huyện Lục Yên (Yên Bái).

Anh Huy đang giới thiệu mô hình trồng thanh long ruột đỏ của gia đình.

Trước đây diện tích đất nhà anh Huy là vườn tạp. Năm 2015, trong thời gian đi làm ăn ở Hà Giang, anh nhận thấy bà con trồng thanh long ruột đỏ đem lại thu nhập khá tốt. Nảy ý tưởng chuyển đổi đất vườn tạp quanh nhà sang trồng thanh long, anh tìm đến các vườn thanh long để học hỏi kinh nghiệm, tìm hiểu cách trồng.

Anh đầu tư gần 50 triệu đồng làm 350 cọc bê tông rồi sang Hà Giang mua 1.500 hom giống về trồng. Nhận thấy thanh long ruột đỏ cho thu nhập cao gấp nhiều lần so với ngô, lúa lại dễ trồng gia đình đã nhân thêm 150 gốc, đến nay đã có 500 gốc thanh long. Năm 2018, anh thu hoạch khoảng 4,8 tấn quả thanh long, giá bán bình quân 25.000 – 30.000 đồng, trừ chi phí lãi hơn 120 triệu đồng.

Ngoài bán quả, anh Huy đang tích cực nhân giống để chuẩn bị mở rộng diện tích. Thanh long ruột đỏ là loại trái cây chứa nhiều chất dinh dưỡng, đang được thị trường ưa chuộng, tuy chi phí đầu tư ban đầu nhiều hơn so với các loại cây trồng khác, nhưng cho thu hoạch nhiều năm, lại không tốn nhiều công chăm sóc.

Để trồng thanh long ruột đỏ cần dựng trụ bê tông cao từ 1,8- 2m, cạnh vuông, trụ được chôn sâu 50cm, phần nổi trên mặt đất cao khoảng 1,3- 1,4m cho cây mọc, tỏa nhánh xuống xung quanh. Cây thanh long cho thu hoạch 10 - 15kg quả/trụ, mỗi vụ kéo dài từ tháng 5 khi bắt đầu nắng ấm đến gần cuối năm, cứ gần 1 tháng lại cho một đợt thu hoạch.

Với giá bán 25.000 - 30.000 đồng/kg, một sào thanh long sẽ cho thu nhập từ 10 - 12 triệu đồng. Và chỉ sau 1 năm trồng cây sẽ cho quả bói đầu tiên và từ năm thứ 2 cây sẽ cho quả ổn định về năng suất. Cùng với trồng thanh long, gia đình anh Huy còn đầu tư trồng 100 gốc cam Vinh, chăn nuôi trên 400 con vịt, 2 sào ao thả cá, hằng năm tổng thu nhập từ 300 triệu đồng trở lên, mở ra hướng làm giàu cho gia đình và người dân trong vùng.

KHẮC ĐIỆP - THU TRANG

Tăng giá trị sản phẩm cà-phê

Nguồn tin: Báo Nhân dân

Những năm qua, ngành cà-phê Việt Nam phát triển mạnh về diện tích, năng suất, sản lượng và hình thành các vùng chuyên canh tập trung ở khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc. Tuy nhiên, để mang lại hiệu quả hơn, các bộ, ngành liên quan cần thúc đẩy phát triển ngành cà-phê theo hướng chế biến sâu, nhằm tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao giá trị sản phẩm.

Chăm sóc cây cà-phê ở tỉnh Đắk Lắk.

Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện nay nước ta có 22 địa phương trồng cà-phê với năm vùng sản xuất chính là Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và trung du miền núi phía bắc. Diện tích cà-phê cả nước đạt 680 nghìn héc-ta; năng suất niên vụ vừa qua đạt 26 tạ/ha; sản lượng cà-phê nhân đạt 1,626 triệu tấn. Trong đó, khu vực Tây Nguyên là vùng sản xuất cà-phê lớn nhất với 597 nghìn héc-ta, chiếm gần 90% diện tích cà-phê cả nước.

Có được kết quả này là nhờ các bộ, ngành và địa phương chủ động nghiên cứu đưa giống mới có năng suất, chất lượng vào sản xuất. Nổi bật là dự án phát triển giống cà-phê từ năm 2000 đến 2020, trong đó chủ yếu là các tỉnh Tây Nguyên. Dự án tập trung nhân giống và chuyển giao nhanh các giống cà-phê có năng suất, chất lượng cao đã được công nhận để sản xuất. Nhiều địa phương xây dựng vườn đầu dòng, vườn ươm cây giống, đáp ứng nhu cầu ghép cải tạo và trồng tái canh, góp phần thúc đẩy phát triển cà-phê bền vững. Các địa phương đã tuyên truyền, tập huấn cho người sản xuất về kỹ thuật thu hái cà-phê; vận động hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã để liên kết đầu tư xây dựng sân phơi, cơ sở sấy tập trung, từng bước cải thiện chất lượng cà-phê xuất khẩu. Ngoài ra, dự án chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Việt Nam (VnSAT) với 69.000 ha cà-phê canh tác bền vững, áp dụng công nghệ tiên tiến giúp lợi nhuận của nông dân gia tăng. Theo đó, khoảng 63.000 gia đình ở Tây Nguyên được tiếp cận, áp dụng biện pháp kỹ thuật canh tác bền vững, tái canh cà-phê, thu nhập tăng khoảng 20%.

Thời gian qua, một số địa phương đã trồng cây cà-phê xen cây hồ tiêu, bơ, sầu riêng, điều, mắc-ca, hồng, chanh dây... với diện tích hơn 100 nghìn héc-ta mang lại hiệu quả rõ rệt. Theo thống kê, nếu trồng cà-phê thuần túy chỉ đạt lợi nhuận gần 60 triệu đồng/ha/vụ. Nhưng trồng xen với cây sầu riêng có thể đạt lợi nhuận khoảng 76 đến gần 300 triệu đồng/ha/vụ; trồng cà-phê xen với cây bơ đạt lợi nhuận tăng thêm so với trồng thuần túy khoảng 40 đến 102 triệu đồng/ha/vụ. Vừa qua, Cục Trồng trọt công bố kết quả thí điểm hệ thống thông tin mã số vùng trồng cà-phê tại tỉnh Lâm Đồng và xây dựng kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo. Hệ thống được triển khai thử nghiệm thu thập số liệu với hơn 8.500 hộ trồng cà-phê tại huyện Di Linh. Hệ thống thông tin mã số vùng trồng với cơ sở dữ liệu như sổ tay nông hộ điện tử giúp nông dân quản lý đầu vào sản xuất và các doanh nghiệp truy xuất nguồn gốc, định hướng đầu tư; cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở dữ liệu trong định hướng, phát triển cà-phê bền vững. Từ đó tạo niềm tin cho các doanh nghiệp chế biến và người tiêu dùng về xuất xứ nguồn gốc sản phẩm, sản phẩm chất lượng và an toàn.

Tuy nhiên, việc phát triển cà-phê ở nước ta đang có dấu hiệu tăng nhanh. Bởi theo quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến năm 2020 cả nước có khoảng 600 nghìn héc-ta nhưng nay đã tăng thêm 80 nghìn héc-ta. Trong khi đó, diện tích cà-phê già cỗi còn nhiều với khoảng từ 140 đến 160 nghìn héc-ta. Bên cạnh đó, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán khoảng 84 đến gần 90% diện tích sản xuất là của các gia đình cho nên khó tiếp cận nguồn vốn và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Không những vậy, do thu hái chưa đúng khi cà-phê chín, quá trình phơi sấy chưa bảo đảm nên tổn thất trong và sau thu hoạch còn cao; việc liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi sản xuất, chế biến còn lỏng lẻo; hệ thống cung ứng cà-phê phức tạp, nhiều tầng nấc trung gian, dẫn đến tình trạng tranh mua tranh bán và mua bán không theo phẩm cấp, chất lượng...

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, theo Cục Trồng trọt, các địa phương cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu chọn tạo giống cà-phê năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh hại, thích ứng biến đổi khí hậu; chuẩn bị tốt nguồn giống cà-phê bảo đảm chất lượng cho tái canh; nghiên cứu các giải pháp đẩy mạnh cơ giới hóa khâu chăm sóc, thu hái cà-phê; phát triển thị trường tiêu thụ cà-phê trong nước, dự báo thị trường ngoài nước để định hướng cho người sản xuất và doanh nghiệp chế biến. Đồng thời, đẩy mạnh công tác khuyến nông và khuyến công đối với lĩnh vực trồng tái canh, tưới nước tiết kiệm, cơ giới hóa một số khâu chăm sóc, thu hái và chế biến; nhất là khâu sơ chế, bảo quản sản phẩm ở nông hộ; khuyến khích các công ty chế biến xuất khẩu cà-phê đầu tư liên kết với các hộ sản xuất; lập hệ thống đại lý thu mua, củng cố xây dựng hệ thống kho, nhà máy chế biến với dây chuyền công nghệ hiện đại chế biến cà-phê nhân xô đạt tiêu chuẩn, để xuất khẩu trực tiếp cho các nhà tiêu thụ, các nhà rang xay quốc tế…

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, xuất khẩu cà-phê tháng 5 năm 2019 đạt 141 nghìn tấn với giá trị 229 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà-phê 5 tháng đầu năm đạt 773 nghìn tấn và 1,32 tỷ USD. Đức và Mỹ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà-phê lớn nhất của Việt Nam.

NGUYÊN PHÚC

Bỏ mía trồng cây gì?

Nguồn tin: Báo Sóc Trăng

Trong những năm qua, nông dân trồng mía trên địa bàn huyện Cù Lao Dung (tỉnh Sóc Trăng) gặp nhiều khó khăn bởi giá mía xuống thấp kèm theo đó khâu tiêu thụ khó, phần lớn người trồng mía không có lãi. Trước thực tế trên, từ nhiều chương trình, dự án, huyện Cù Lao Dung đã vận động hộ dân chuyển đổi mía sang trồng các loại cây trồng khác đem về giá trị kinh tế cao.

Một trong những hộ nông dân chuyển đổi cây mía sang trồng nhãn cho thu nhập tốt là chị Lê Thị Hằng, ấp Võ Thành Văn, xã An Thạnh Nam. Phấn khởi vì qua vài vụ nhãn đều cho lợi nhuận cao, chị Hằng bộc bạch: “Ở đây mấy mươi năm, nông dân chúng tôi quen với việc canh tác mía, bởi cây mía cũng dễ trồng, nhẹ công chăm sóc. Thêm nữa, đường sá đi lại khó khăn, chủ yếu bằng các phương tiện đường thủy. Thế là cứ suy nghĩ trong đầu nếu trồng cây ăn trái không biết tiêu thụ như thế nào. Cứ với suy nghĩ đó nên nhiều người ngán ngại chuyển đổi cây trồng. Một thời gian sau khi đường giao thông được đầu tư rộng khắp, đi lại thuận tiện cùng với sự vận động, tuyên truyền của chính quyền địa phương, nông dân chúng tôi đã mạnh dạn chuyển đổi cây mía sang trồng nhiều loại cây trồng và có người chuyển mía sang đào ao nuôi thủy sản. Riêng bản thân tôi, phá bỏ diện tích mía 4,5ha để xuống giống nhãn Ido với diện tích hiện có 3,5ha đang thu hoạch trái. Tính đến nay đã qua 3 mùa thu hoạch trái, giá nhãn rất tốt, từ 23.000 đồng đến 50.000 đồng/kg, đảm bảo cho người trồng có lãi hàng trăm triệu đồng/năm, cao gấp vài chục lần so với trồng mía…”.

Vườn nhãn Ido của chị Hằng được chuyển đổi từ trồng mía kém hiệu quả.

Lựa chọn cây đậu nành rau “thế chân” cây mía kém hiệu quả trên mảnh đất nông nghiệp của gia đình, ông Nguyễn Trung Thành, ấp An Nghiệp A, xã An Thạnh 3 bộc bạch: “Tôi có 10 công đất trồng mía vài chục năm qua, thật lòng mà nói có thời điểm cây mía cho thu nhập tốt. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây giá mía xuống quá thấp, người trồng mía không có lợi nhuận, thậm chí thua lỗ. Trồng mía đã không hiệu quả, nhiều hộ cũng chuyển sang trồng cây ăn trái. Riêng bản thân tôi, lựa chọn trồng cây đậu nành rau, bởi cây đậu nành được doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm đầu ra, thời gian canh tác cây đậu ngắn, tầm 70 ngày đã thu hoạch nên 1 năm trồng được vài vụ, đem về nguồn thu đáng kể. Tận dụng lấy ngắn nuôi dài, tôi vừa trồng đậu nành rau vừa trồng luôn cây nhãn Ido trên cùng diện tích đất, xung quanh bờ bao của khu vực trồng đậu, nhãn, tôi xuống giống cây dừa xiêm, tầm 3 năm nữa nhãn, dừa sẽ cho trái rộ, khi đó thu nhập sẽ lên tới hàng trăm triệu đồng/năm. Hiện tại, với 10 công đậu nành rau, mỗi đợt thu hoạch lợi nhuận gần 40 triệu đồng/ha. Như vậy, 1 năm canh tác 4 vụ đậu nành rau, số tiền thu về hơn 100 triệu đồng. Vấn đề tôi tâm đắc nhất là khi tham gia hợp tác xã (HTX) trồng đậu nành rau có doanh nghiệp bao tiêu, không còn nỗi lo tìm kiếm thị trường tiêu thụ, sản lượng bao nhiêu doanh nghiệp đều thu mua hết. Vì vậy, nông dân ở đây trồng đậu nành rau rất phấn khởi, trồng đậu nành rau đạt sản lượng càng cao lợi nhuận thu về càng lớn”.

Giám đốc HTX Rau củ quả Lộc Phát Phạm Hồng Văn, xã An Thạnh 3 chia sẻ: “HTX có diện tích đất gần 22ha. Diện tích này trước đây thành viên đều canh tác mía nhưng vài năm trở lại đây đã chuyển sang trồng màu gần 100%, kết hợp xen canh cây nhãn Ido với đủ các loại rau màu, như: đậu bắp Nhật, khoai môn, đu đủ, bắp trái và diện tích chiếm phần lớn là cây đậu nành rau. Để tiêu thụ tốt sản phẩm của thành viên sau thu hoạch, trước khi xuống giống các loại màu, HTX đều có ký kết cùng doanh nghiệp thu mua sản phẩm và HTX nhận liên kết trồng các loại màu theo yêu cầu của doanh nghiệp, nên tất cả các sản phẩm do thành viên HTX sản xuất luôn đảm bảo đầu ra cũng như lợi nhuận thu về rất tốt sau vụ mùa. Hướng tới, HTX tiếp tục duy trì mở rộng diện tích trồng cây nhãn Ido và sản xuất theo hướng hữu cơ, xây dựng mã code vùng trồng để hướng đến thị trường xuất khẩu…”.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lương Minh Quyết cho biết: “Các mô hình chuyển đổi từ cây mía sang các loại cây ăn trái, cây màu trên địa bàn huyện Cù Lao Dung khá tốt, đặc biệt cây đậu nành rau cho thu nhập rất tốt tại các hộ canh tác. Ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục có những hỗ trợ cần thiết để huyện sản xuất đậu nành rau phục vụ thị trường”. Để phát huy tiềm năng của các loại cây trồng trên, đồng chí Lương Minh Quyết cho rằng huyện cần phải hướng đến tạo ra sản phẩm sạch, sản phẩm hữu cơ. Đối với dự án cây ăn trái tỉnh đang triển khai tại huyện, ngành sẽ xây dựng các mô hình vườn kiểu mẫu, tạo chuỗi sản xuất đầu vào đến đầu ra, sản phẩm đạt chất lượng xuất khẩu và cấp luôn mã code, khi doanh nghiệp có nhu cầu mua sản phẩm xuất khẩu đã có sẵn như vậy mới đảm bảo tính bền vững từ khâu sản xuất đến tiêu thụ…”.

Thúy Liễu

Trồng xen dược liệu hướng đi hiệu quả cho hàng ngàn ha cao su tái canh

Nguồn tin: VOV

Gia Lai phát triển mô hình trồng dược liệu trong vườn cao su, mở ra hướng đi nhằm sử dụng hiệu quả hàng ngàn ha cao su tái canh.

Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Quang Minh, là đơn vị tiên phong trong việc trồng dược liệu trong vườn cao su mới tái canh. 30 ha dược liệu của hợp tác xã trồng tại xã Ia Hlốp và Ia Dreng (huyện Chư Sê), mới bước sang năm năm thứ 2, hiện đã có 7 ha được thu hoạch với doanh thu 5 tỷ đồng, chủ yếu từ diện tích đương quy và cà gai leo.

Ông Nguyễn Đình Trọng, thành viên hợp tác xã cho biết, vụ tới, hơn chục ha đinh lăng và hà thủ ô đỏ sẽ cho thu hoạch, đảm bảo để hợp tác xã có doanh thu liên tục.

“Mỗi cây trồng trong một thời gian nhất định. Ví dụ như hà thủ ô đỏ phải mất 3 năm mới thu được, đinh lăng mất từ hơn 1 năm đến gần 2 năm. Nếu trồng toàn bộ hà thủ ô thì kinh phí rất lớn nên chúng tôi phải trồng thêm một số cây ngắn ngày khác như cà gai leo, chưa đầy 1 năm là thu hoạch được. Như vậy sẽ quay vòng vốn rất nhanh. Chỉ cần nguồn nước, đất tốt và được đầu tư bài bản thì nguồn thu từ dược liệu rất khả quan”, ông Trọng nói.

Hà thủ ô đỏ được trồng xen trong vườn cao su

Thực tế, tại những vườn dược liệu trồng xen cao su cho thấy, cả cây trồng chính và cây trồng xen đều phát triển rất tốt, nhờ nguồn nước và phân bón hữu cơ. Anh Vũ Minh Chiến, công nhân làm việc tại hợp tác xã cho biết, so với trồng xen cây sắn, cây nghệ hoặc cây khoai lang, thì cao su ở vườn dược liệu xanh tốt hơn, nhờ được xử lý rất kỹ từ khâu làm đất tới quá trình chăm sóc.

“Phải kiểm tra hàng ngày. Giai đoạn cây con phải tưới nước 2 lần/1 ngày, đảm bảo đất cát cho cây sống. Về đất, chúng tôi dùng vôi bột, một số thuốc diệt khuẩn, trị nấm. Phải xử lý đất trước, đất sạch, để sau này cây bớt bệnh. Tỉ mẩn nhất là giai đoạn ban đầu khi làm giống”, anh Vũ Minh Chiến cho hay.

Sau hai năm trồng dược liệu trên đất cao su tái canh chưa phủ tán, hợp tác xã Quang Minh đã có quy trình chăm sóc phù hợp, kiểm định được chất lượng sản phẩm và mạnh dạn đầu tư hệ thống sơ chế, ký kết hợp đồng cung cấp dược liệu cho các doanh nghiệp dược phẩm trong nước.

Ông Đào Hùng Sơn, giám đốc Hợp tác xã Quang Minh cho biết: “Chúng tôi xây dựng nhà máy sơ chế để bảo quản sản phẩm được lâu hơn, khi bán không bị phụ thuộc. Lúc thu hoạch mà giá cả chưa đạt thì phải bảo quản. Vào mùa mưa, khi không phơi được thì sấy để chất lượng sản phẩm được đảm bảo”.

Một số doanh nghiệp dược phẩm lớn đã đặt hàng từ diện tích dược liệu trồng xen trong vườn cao su tại Gia Lai

Với những hiệu quả đã nhìn thấy, mới đây, UBND huyện Chư Sê đề nghị hợp tác xã Quang Minh liên kết với nông dân xây dựng vùng dược liệu tại địa phương. Theo đó, hợp tác xã sẽ đảm nhận vai trò bà đỡ hướng dẫn kỹ thuật, cung cấp giống chất lượng và đảm bảo đầu ra cho dược liệu của nông dân. Trong năm nay, địa phương trích ngân sách hỗ trợ 40% chi phí cây giống cho các hộ tiên phong đăng ký tham gia mô hình trồng dược liệu. Hộ tham gia mô hình phải đảm bảo các điều kiện về đất đai, vốn đối ứng và kiến thức trồng trọt cơ bản.

“Địa bàn huyện Chư Sê hiện có diện tích dược liệu đứng đầu tỉnh. Riêng hợp tác xã nông nghiệp Quang Minh có hơn 30 ha, người dân và một số doanh nghiệp khác trồng đinh lăng trên tổng diện tích hơn 50 ha. Mong muốn của huyện là phát triển diện tích dược liệu lên trên 1000 ha. Chúng tôi mời hợp tác xã Quang Minh làm bà đỡ cho nông dân. Một là doanh nghiệp địa phương chúng ta tin tưởng, hai là doanh nghiệp đó bỏ ra nhiều tiền hơn người dân và chính quyền địa phương, họ làm thực sự như vậy mới đảm bảo đầu ra”, ông Đào Hùng Sơn chia sẻ.

Tỉnh Gia Lai có hàng nghìn ha cao su bước vào thời kỳ tái canh. Làm gì để có thu nhập trong thời kỳ cao su chưa cho thu hoạch là câu hỏi lớn. Sắn, khoai lang, nghệ, là những cây trồng phổ biến được nông dân lựa chọn để trồng xen cao su, nhưng cho hiệu quả kinh tế rất thấp và gây ảnh hưởng tới sự sinh trưởng bình thường của cây trồng chính. Mô hình phát triển dược liệu xen cao su tái canh chưa khép tán như của hợp tác xã Quang Minh tại huyện Chư Sê cho thấy, vẫn có những cách làm làm phù hợp, cho hiệu quả cao trên diện tích này/.

Nguyễn Thảo/VOV-Tây Nguyên

Rừng mắc ca sinh thái - điểm hẹn mới

Nguồn tin: Báo Lâm Đồng

Hơn mười năm dốc tâm sức, trí lực và mọi nguồn vốn huy động, chủ đầu tư Trần Vinh ở Ðà Lạt đã xây dựng một khu sinh thái dã ngoại “Rừng mắc ca - thác nước huyền thoại” cách thác Cam Ly chỉ hơn năm cây số, đường ô tô lớn đến tận nơi, trở thành một điểm hẹn mới với nhiều sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt.

Chủ nhân Trần Vinh bên cây mắc ca đậu trái chất lượng cao tại khu sinh thái “Rừng mắc ca - thác huyền thoại”. Ảnh: V.Việt

10 năm chọn 8 giống mắc ca

Một sáng tháng sáu nắng vàng, phóng viên rời trung tâm phố Đà Lạt đến khu sinh thái “Rừng mắc ca - thác huyền thoại” chỉ hơn nửa tiếng đồng hồ xe máy. Thong dong xe máy trên cung đường lớn hai chiều ô tô, phóng viên không ít lần dừng lại cùng nhiều nhóm khách đường xa để ghi hình cảnh rừng lá kim kết nối với rừng lá rộng xanh mát, nghe tiếng chim rừng rộn rã, tiếng suối chảy róc rách từ xa. Giữa ngút ngàn không gian xanh cách nhau vài trăm mét đều được chủ nhân gắn trên thân cây bảng hướng dẫn đường đi đến “Rừng mắc ca - thác huyền thoại”, tạo cảm giác được chào đón thân thiện “vui lòng khách đến” ngay từ nơi cửa rừng.

Tính ra đã hơn bốn năm trở lại, phóng viên ghi nhận nhiều sự đổi khác bởi khu đồi chuyên canh cây mắc ca trên diện tích đất nông lâm kết hợp giờ đã phủ xanh, nở hoa đậu trái hàng loạt, trong đó có cây đạt chiều cao đến 20 m, năng suất trên dưới 20 kg trái tươi. Đặc biệt, bên khu rừng mắc ca và khu vực thác huyền thoại tình yêu, chủ đầu tư Trần Vinh đã bố trí nhiều khu vực cắm trại dã ngoại, thiết kế phiên bản hàng chục ngôi nhà gỗ ván thông thấp thoáng của Đà Lạt xưa. Trước ngày phóng viên đến, “Rừng mắc ca - thác huyền thoại” của chúng tôi đón khoảng 500 lượt khách sinh viên đến từ phương Nam lên cắm trại, đốt lửa sinh hoạt vui nhộn cả khu rừng. Ban ngày khách được trải nghiệm chăm sóc, thu hái và thưởng thức hạt mắc ca “hoàng hậu quả khô”, ngắm thác nước dạt dào tuôn chảy và lắng lại những câu chuyện tình yêu bất diệt từ xứ sở thành phố ngàn hoa Đà Lạt…

“Chúng tôi hoàn toàn miễn phí vé tham quan khu du lịch sinh thái cho tất cả mọi du khách đến đây...”, chủ nhân Trần Vinh chia sẻ.

Đưa phóng viên dừng lại trong khu rừng mắc ca vừa thu hoạch rộ, nhưng trên cành vẫn còn đung đưa những chùm trái xanh căng tròn cùng những chùm hoa lấm tấm buông dài, lắc lư trong gió, chủ nhân Trần Vinh cho biết thêm: Hơn mười năm sản xuất thử nghiệm, ông Vinh đã chọn 24 giống mắc ca về trồng trên phạm vi 200 ha diện tích đất hợp đồng thuê theo dự án sản xuất nông lâm kết hợp 50 năm thuộc địa giới xã Tà Nung, giáp ranh với Phường 5, Đà Lạt. Kết quả sau năm năm đầu bước vào thời kỳ đơm hoa, kết trái, ông Vinh bình tuyển lại lần cuối cùng với 3.000 cây mắc ca thuộc 8 giống đạt chất lượng và sản lượng cao nhất để chuyên canh trên gần 10 ha trong khu vực dự án, đạt năng suất mỗi năm trên dưới 20 kg trái tươi/cây. Hiện tại với sản lượng mắc ca thu hoạch, ông Vinh chưa có kế hoạch bán ra thị trường, chủ yếu dùng chế biến thực phẩm sữa mắc ca, xôi mắc ca để phục vụ khách du lịch đến nơi tham quan và đưa vào thực đơn tại một nhà hàng ăn uống, giải khát ở trung tâm phố Đà Lạt.

Ðiểm du lịch sinh thái hấp dẫn

Và trong khoảng hai năm trở lại đây, bỗng thấy ngày càng xuất hiện nhiều đoàn khách du lịch tự tìm đến khu vực dự án trồng mắc ca, quản lý bảo vệ rừng lá rộng, lá kim, thác nước còn hoang sơ ở Tà Nung, Đà Lạt để khám phá, hòa mình vào thiên nhiên, chủ nhân Trần Vinh tiếp tục huy động nhiều nguồn vốn để dựng lên các dãy nhà rông đón tiếp, nhà nghỉ chân, nhà gỗ nhỏ mái hình tháp, phục vụ nhu cầu lưu trú tại chỗ… Từ đây ra đời dòng tên “Rừng mắc ca - thác huyền thoại” nhờ du khách nêu ý tưởng, được chủ nhân Trần Vinh thiết kế, tôn tạo làm điểm đến du lịch sinh thái mới cho du khách khi lên xứ sở thiên đường du lịch Đà Lạt.

Chuẩn bị đón khách tham quan miễn phí cho mùa du lịch thu - đông Đà Lạt, khu sinh thái “Rừng mắc ca - thác huyền thoại” của chủ nhân Trần Vinh bắt đầu nuôi thả tự nhiên 1.000 con gà và 1.000 con thỏ để lấy thịt thương phẩm theo nhu cầu đốt lửa trại, thưởng thức thịt nướng, rượu cần cao nguyên… Ban ngày du khách được ngoạn cảnh trên lưng ngựa hoặc ngồi lên từng chiếc xe địa hình vượt lên đồi cao, đổ dốc xuống thác nước tận hưởng không gian khoáng đạt của khu rừng tọa lạc bên phố trung tâm Đà Lạt…

Theo ghi nhận của phóng viên, khu sinh thái “Rừng mắc ca - thác huyền thoại” ở Tà Nung, Đà Lạt đang mở ra tiềm năng phát triển du lịch khá hấp dẫn. Chủ nhân Trần Vinh cho biết, luôn sẵn lòng đón nhận những nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đây cùng hợp tác đánh thức một điểm đến mới ấn tượng hơn nữa trong thời gian tới đối với du khách gần xa.

VĂN VIỆT

Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu nấm ở ĐBSCL

Nguồn tin: Báo SGGPO

Nấm là mặt hàng thực phẩm quý; thực tế, nghề trồng nấm đã phát triển rộng khắp các tỉnh phía Nam và mang lại hiệu quả kinh tế cao...

Trồng nấm rơm là thế mạnh ở vùng ĐBSCL

Ngày 5-7, tại thành phố Long Xuyên, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở NN-PTNT tỉnh An Giang tổ chức Diễn đàn "Phát triển sản xuất nấm ăn theo hướng công nghệ cao".

Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, ở khu vực ĐBSCL và các tỉnh miền Đông Nam bộ có tiềm năng lớn về sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu, do có nguồn nguyên liệu phụ phẩm nông nghiệp dùng để trồng nấm rất phong phú, cộng với điều kiện thời tiết thuận lợi cho phát triển các loại nấm và có thể trồng nấm quanh năm.

Ngoài ra, Việt Nam đã cơ bản làm chủ được công nghệ nhân giống và sản xuất nấm, đối với các loại nấm chủ lực như: mộc nhĩ, nấm rơm, nấm mỡ, nấm bào ngư, nấm linh chi các loại... về thị trường tiêu thụ nấm cũng ngày càng rộng mở. Để việc trồng nấm phát triển ổn định, các tỉnh ĐBSCL đã trao đổi những kỹ thuật, công nghệ mới về sản xuất nấm không cần thanh trùng giá thể, phương pháp xử lý phụ phẩm nông nghiệp như rơm, mạt cư, bả mía, bông vải... làm giá thể để trồng nấm. Trong đó, vấn đề được quan tâm là đổi mới công nghệ trồng nấm, đưa cơ giới hóa và tự động hóa vào sản xuất nấm, hướng tới trồng nấm sạch, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu…

Ông Trần Văn Khởi, Quyền Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho biết, nấm là mặt hàng thực phẩm quý; thực tế, nghề trồng nấm đã phát triển rộng khắp các tỉnh phía Nam và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện tại, cả nước sản xuất khoảng 16 loại nấm; riêng các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm, nấm mộc nhĩ; các tỉnh phía Bắc trồng nấm hương, nấm sò, nấm linh chi... với sản lượng nấm hàng năm đạt khoảng 250.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 25 - 30 triệu USD (không tính xuất khẩu tiểu ngạch). Điều đáng mừng là giá nấm bào ngư tươi xuất khẩu đạt 2.600 USD/tấn, khá cao so với một số loại nông sản khác. Chưa kể trồng nấm còn giải quyết được vấn đề môi trường do lượng lớn phế liệu, phế phẩm nông nghiệp tạo ra; đồng thời giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Tới đây, các địa phương cần ứng dụng công nghệ cao để đẩy mạnh sản xuất nấm chất lượng…

NGUYỄN THANH

Kon Tum: ‘Sản xuất sạch’ - Hướng đi bền vững cho Hợp tác xã nông nghiệp

Nguồn tin:  Báo KonTum

Để tồn tại, phát triển trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Kon Tum phải tự đổi mới trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là tổ chức lại sản xuất, đầu tư công nghệ và liên kết sản xuất. Hiện nay, mô hình “sản xuất sạch”, thân thiện với môi trường là hướng đi đúng đắn và là mục tiêu bền vững mà nhiều hợp tác xã trên địa bàn tỉnh hướng đến...

Ứng dụng công nghệ vào sản xuất sạch

Theo thống kê của Liên minh Hợp tác xã (HTX) tỉnh, hiện nay toàn tỉnh có 68 HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, với 1.368 xã viên; trong đó có 66 HTX đã chuyển đổi hoạt động theo Luật HTX năm 2012. Có khoảng 60% số HTX nông nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có tích luỹ vốn và thực hiện tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, từng bước khẳng định được uy tín trên thị trường, như các HTX Sáu Nhung, Thần Nông, Hợp Thành, Hải Tình, Nông nghiệp Tuyết Sơn, Công bằng Pô Kô, Đoàn Kết…

Từ sự giới thiệu của Liên minh HTX tỉnh, chúng tôi tìm hiểu thực tế tại HTX Đoàn Kết (xã Mô Rai, huyện Sa Thầy). Được thành lập từ năm 2007 với 7 thành viên, những năm đầu thành lập, HTX Đoàn Kết chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực trồng, khai thác mủ cao su, nhưng đến năm 2014, nắm bắt xu hướng của thị trường, HTX quyết định chuyển hướng sang sản xuất trái cây sạch.

Sau nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm, đến nay, HTX Đoàn Kết đã có hơn 15ha cây ăn quả, bao gồm cam, bưởi, quýt, ổi, na Thái, sầu riêng, dưa lê, dưa lưới... Quy trình sản xuất được thực hiện một cách khoa học, chặt chẽ; từ khâu chọn giống, trồng và chăm sóc đều theo tiêu chuẩn “sạch hoàn toàn”, nghĩa là không dùng thuốc bảo vệ thực vật; sử dụng phân bón hữu cơ nhập khẩu từ Nhật Bản; hệ thống nước tưới được đầu tư bài bản, phun tưới tự động...

Vườn trái cây sạch của HTX Đoàn Kết (xã Mô Rai, huyện Sa Thầy). Ảnh: VP

Ông Nguyễn Văn Xuân - Giám đốc HTX Đoàn Kết cho biết, qua nghiên cứu thị trường, nhận thấy nhu cầu trái cây sạch của người tiêu dùng đang ngày càng tăng, trong khi trên địa bàn chưa có ai phát triển mô hình này, vì vậy, chúng tôi đã quyết định trồng thử nghiệm. Sau một thời gian, có thể thấy nhiều loại cây ăn quả phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, cho năng suất cao, vì vậy HTX đã mở rộng quy mô sản xuất. Sản phẩm của HTX có truy xuất nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo an toàn nên tiêu thụ tốt, hiện chỉ đủ cung ứng cho thị trường huyện Sa Thầy và một vài địa phương lân cận.

Hiện chúng tôi đang có kế hoạch tiếp tục mở rộng diện tích và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của HTX để vươn tới những thị trường lớn hơn- ông Nguyễn Văn Xuân chia sẻ.

Tương tự, HTX Thần Nông (xã Ia Chim, thành phố Kon Tum) đã khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường với các sản phẩm nông sản sạch, như ổi, bơ, sầu riêng, thanh long ruột đỏ..., được Trung tâm Chất lượng nông, lâm, thủy sản vùng 2 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) chứng nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGap. Toàn bộ diện tích cây ăn quả của HTX được chăm sóc theo tiêu chuẩn hữu cơ VietGap; được áp dụng công nghệ cao vào sản xuất (tưới tiêu phun mưa tự động). Quy trình sản xuất được quản lý, kiểm soát chặt chẽ với mục tiêu cung cấp cho thị trường những sản phẩm tốt nhất, chất lượng nhất.

Theo ông Phạm Văn Khiêm - Giám đốc HTX Thần Nông, hiện HTX có tổng diện tích sản xuất hơn 33ha, trong đó, diện tích của các thành viên là 25ha, diện tích sản xuất chung của HTX là hơn 8,5ha, chủ yếu trồng các loại cây ăn quả gồm thanh long ruột đỏ, mít Thái, bơ, sầu riêng...

Tất cả các thành viên tham gia vào HTX đều phải cam kết thực hiện sản xuất theo đúng quy trình kỹ thuật của HTX, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, không dùng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật - ông Phạm Văn Khiêm khẳng định.

Sản xuất trái cây sạch của HTX Thuần Nông. Ảnh: VP

Chủ động hình thành các chuỗi liên kết giá trị

Để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm, các HTX trên địa bàn tỉnh chủ động liên doanh, liên kết tương đối đa dạng, như liên kết giữa nông dân với HTX; HTX, Tổ hợp tác (THT) với doanh nghiệp; HTX với HTX... Việc liên kết được thực hiện trong nhiều khâu, từ cung cấp vật tư đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Điều đó mang lại giá trị bền vững cho sản phẩm của người dân và sự phát triển của HTX.

Đơn cử như chuỗi giá trị cà phê của HTX Nông nghiệp, Sản xuất và Thương mại Sáu Nhung (huyện Đăk Hà). HTX liên kết với 104 hộ dân với tổng diện tích cà phê là 300ha. Toàn bộ diện tích của HTX được chăm sóc theo tiêu chuẩn hữu cơ VietGap, được áp dụng công nghệ cao vào sản xuất. Các sản phẩm của HTX đều được quản lý, kiểm soát chặt chẽ về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp chứng nhận đăng ký thương hiệu, được Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng cấp mã số, mã vạch. Hiện nay sản phẩm cà phê Sáu Nhung được thị trường ưa chuộng và có mặt trên toàn quốc.

Hay như HTX Nông nghiệp Tuyết Sơn (huyện Kon Plông) đã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với UBND xã Măng Cành (huyện Kon Plông), qua đó, HTX thu mua và bao tiêu tất cả sản phẩm hồng đẳng sâm, đương quy... của người dân trên địa bàn xã. Ngoài ra, HTX chủ động liên kết với một số doanh nghiệp và các đại lý bán lẻ tại một số tỉnh, thành phố để tiêu thụ các loại sản phẩm cao sâm hỗn hợp, cao sâm đương quy, cao hồng đẳng sâm, cao sâm cau, cao cẩu tích...

HTX Nông nghiệp Công bằng Pô Kô (Pô Kô Farms, huyện Đăk Hà) cũng thực hiện liên kết với Công ty cà phê Huy Hùng, các doanh nghiệp trong và ngoài nước để xuất khẩu cà phê ra thị trường Châu Âu và Mỹ. Năm 2009, Pô Kô Farms là một trong những cơ sở sản xuất cà phê nhỏ đầu tiên của Việt Nam được chứng nhận Fairtrade (là cà phê được chứng nhận đã thỏa mãn các tiêu chuẩn thương mại công bằng) của Tổ chức Quốc tế Fairtrade (ID FLO: 21473). Đến nay, Pô Kô Farms đã có 118 thành viên tham gia, với diện tích liên kết sản xuất khoảng 200 ha, sản lượng hàng năm đạt hơn 800 tấn cà phê hạt.

Ngoài ra, nhiều HTX trên địa bàn đã chủ động liên kết với nông dân, với các doanh nghiệp xây dựng thành chuỗi giá trị từ đầu đến cuối, đảm bảo đầu ra sản phẩm và giá cả ổn định, mang lại giá trị bền vững.

Thực tế cho thấy, hình thức liên kết trong sản xuất đang thúc đẩy HTX phát triển hiệu quả và bền vững hơn. Từ đó, từng bước hình thành chuỗi sản xuất nông sản hàng hóa ở các địa phương trong tỉnh, đồng thời tạo ra giá trị thu nhập cao hơn cho thành viên. Những sản phẩm sạch của một số HTX trên địa bàn tỉnh đã và đang tìm được chỗ đứng trên thị trường, đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động và các thành viên HTX..

Theo báo cáo của Liên minh HTX tỉnh, hiện nay, các HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đạt tổng doanh thu khoảng 1.245 triệu đồng/HTX/năm và tổng lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 235 triệu đồng/HTX/năm. Trên địa bàn tỉnh hiện có các HTX Sáu Nhung (Ðăk Hà), Ánh Dương, Nông nghiệp Tuyết Sơn (Kon Plông), Dược liệu hữu cơ Tu Mơ Rông (Tu Mơ Rông) được tham gia mô hình phát triển gắn với chuỗi giá trị do Liên minh HTX Việt Nam chủ trì thực hiện. VP

Văn Phương

Chủ động ứng phó mưa lũ

Nguồn tin:  Sài Gòn Giải Phóng

Việc các nước thượng nguồn sông Mê Công xây dựng đập thủy điện đang tạo ra những hệ lụy khó lường như làm thay đổi dòng chảy tự nhiên. Các đập này xả lũ nhiều, cùng với lượng mưa lớn có thể khiến mực nước ĐBSCL lên nhanh.

Xả lũ, nông dân sẽ tìm sinh kế bằng nghề đánh bắt thủy sản. Ảnh: CAO PHONG

Cuối tháng 6 và đầu tháng 7-2019, ĐBSCL liên tục xuất hiện mưa lớn và kéo dài. Đây là thời điểm bắt đầu mùa lũ thường niên. Việc các địa phương đầu nguồn lũ xây dựng hệ thống đê bao sản xuất lúa 3 vụ/năm đã khiến nước lũ dồn về hạ nguồn, cùng với triều cường phá vỡ hàng loạt tuyến đê bao ở các cồn trên sông Tiền và sông Hậu trong những năm qua là những diễn biến khó lường. ĐBSCL cần chủ động ứng phó với mùa mưa lũ.

Xả lũ lấy phù sa

Những ngày đầu tháng 7-2019, lão nông Phạm Út, năm nay đã bước qua tuổi 70, ở xã Thường Phước 1, huyện Hồng Ngư, tỉnh Đồng Tháp, đang chuẩn bị thu hoạch lúa hè thu để đón lũ về.

Ông Út tâm sự: “Hai năm qua hơi buồn vì vụ lúa hè thu không trúng, có lẽ đất đã bạc màu. Bù lại, địa phương chủ trương bỏ lúa vụ 3 (thu đông), mở đê lấy nước, bồi phù sa cho đồng ruộng cũng mừng”. Đây là việc làm phù hợp với chủ trương của Bộ NN-PTNT là giảm bớt diện tích đất lúa để tránh gây áp lực tìm đầu ra cho hạt gạo.

Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn (KTTV) Trung ương, năm nay ít có khả năng xuất hiện lũ sớm ở đầu nguồn, nhưng tiềm ẩn cường suất lũ lên nhanh hơn bình thường do tác động điều tiết dòng chảy từ thượng lưu. Việc các nước thượng nguồn sông Mê Công xây dựng đập thủy điện đang tạo ra những hệ lụy khó lường như làm thay đổi dòng chảy tự nhiên. Các đập này xả lũ nhiều, cùng với lượng mưa lớn có thể khiến mực nước ĐBSCL lên nhanh.

Trong khi đó, theo Đài KTTV khu vực Nam bộ, qua số liệu thống kê cho thấy tác động của thủy triều biển Đông vào khu vực ĐBSCL ngày càng sâu hơn. Từ năm 2000-2018, dòng chảy trung bình từ biển qua Tân Châu tăng đến 54,66%; qua Châu Đốc tăng đến 53,49%...

Đối với các tỉnh ĐBSCL, mùa mưa bão thường kéo dài từ khoảng tháng 4 đến tháng 11 hoặc tháng 12 hàng năm và xu hướng xoáy thuận nhiệt đới đang ngày càng ảnh hưởng nhiều hơn đến khu vực. Do đó, tình trạng ngập do mưa trở nên thường xuyên hơn.

Đặc biệt, những năm gần đây tình trạng đô thị hóa tăng lên, nhưng cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ và khả năng thoát nước trong các khu đô thị kém, càng gia tăng thêm tình trạng ngập. Đây là những tác nhân chính dẫn đến các đô thị ở Cần Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu bị ngập cục bộ trong mùa lũ.

Chủ động ứng phó

Theo Bộ TN-MT, năm 2018 khu vực Nam bộ có tổng lượng dòng chảy 3 tháng mùa lũ (tháng 7 - 9) về đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu rất lớn, ở mức cao hơn trung bình nhiều năm từ 10% - 35%, tương đương năm 2011. Trong đó, tháng 8 thường có tổng lượng dòng chảy cao nhất trong các năm lũ lớn, tính từ năm 2000 trở lại đây.

Dự báo lũ trên sông là nhiệm vụ trọng tâm của các đài KTTV khu vực cũng như đài KTTV các tỉnh trong mùa mưa lũ hàng năm. Ngoài việc dự báo cho các trạm trên dòng sông chính, những năm gần đây các đài KTTV địa phương còn triển khai dự báo cho khu vực nội đồng, góp phần tích cực trong việc phát triển một cách bền vững trong khu vực.

Việc các tỉnh đầu nguồn như Đồng Tháp, An Giang và ở hạ nguồn như Hậu Giang đều chủ trương giảm diện tích lúa vụ 3 được xem là định hướng đúng trong bối cảnh mùa lũ và triều cường ngày càng diễn biến khó lường. Ông Trần Chí Hùng, Giám đốc Sở NN-PTNT Hậu Giang, cho biết: “Hiện diện tích đê bao khép kín của tỉnh có 48.000ha. Nhưng diện tích lúa vụ 3 tới đây chỉ sản xuất khoảng 39.000ha để hạn chế những thiệt hại không đáng có do ngập lũ gây ra. Trong những năm gần đây, lũ về thường gây thiệt hại diện tích trồng mía của nông dân Phụng Hiệp. Hiện diện tích mía tại Phụng Hiệp đã được khoanh vùng trong vùng đê bao để tránh thiệt hại trong mùa lũ”.

Biến đổi khí hậu khiến thời tiết ngày càng phức tạp, nguy hiểm. Hiện tượng mưa lũ lớn, dông, sét, hạn hán, xâm nhập mặn, bão, áp thấp nhiệt đới rất phức tạp. Việc các đài KTTV sớm đưa ra dự báo để các địa phương chủ động ứng phó là rất cần thiết.

Trước mùa mưa lũ đang đến, chính quyền địa phương cần rà soát, có biện pháp hỗ trợ người dân ở những vùng thường xuyên bị lũ uy hiếp là rất cần thiết. Tránh những thiệt hại như vỡ đê bao trồng lúa ở An Giang, đê bao ở các cồn trong mùa lũ năm 2018 đã xảy ra ở Cần Thơ, Vĩnh Long …

CAO PHONG

Đắk Lắk: Những nông dân 4.0 ở Quảng Hiệp

Nguồn tin:  Báo Đắk Lắk

Trước đây, việc sử dụng máy vi tính kết nối mạng lướt website còn khá xa lạ với nông dân xã Quảng Hiệp (huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk). Nhưng vài năm trở lại đây, nhiều nông dân trên địa bàn xã đã chủ động học cách sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin, kiến thức về chăm sóc cây trồng, vật nuôi..., áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Hiện nay, mỗi khi cần tìm hiểu về giá cả thị trường hay kiến thức khoa học kỹ thuật, anh Nguyễn Chiến Thắng (thôn Hiệp Tiến) chỉ việc dùng điện thoại thông minh, hoặc máy vi tính để truy cập mạng Internet. Chỉ cần một vài thao tác click chuột đơn giản, anh Chiến đã nhanh chóng có được những thông tin mình cần.

Anh Trương Hoàng Trung (giữa) giới thiệu với cán bộ, hội viên nông dân về hệ thống tưới nước tự động của gia đình qua điện thoại.

Anh Thắng bắt đầu làm quen và sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin từ năm 2016. Những thông tin trên mạng đã giúp anh tích lũy ngày càng nhiều kiến thức về sản xuất nông nghiệp, từ đó ứng dụng hiệu quả vào mô hình kinh tế của gia đình. Với 3,5 ha đất canh tác cà phê, hồ tiêu, trước đây gia đình anh Thắng chủ yếu trồng, chăm sóc dựa trên kinh nghiệm nên dù cật lực chăm sóc mà năng suất cây trồng vẫn không cao.

Từ khi tiếp thu kiến thức qua việc sử dụng mạng Internet, anh đã biết áp dụng một số biện pháp phòng, trừ sâu bệnh cho cây trồng; kỹ thuật làm cành, bón phân cân đối cho cây cà phê, tiêu… nên vườn cây của gia đình anh phát triển tốt hơn, hạn chế được sâu bệnh và cho năng suất ngày càng tăng. Hiện nay, với 1.000/2.000 trụ tiêu đang trong giai đoạn kinh doanh, mỗi năm anh Thắng thu được 4,5 tấn tiêu, sau khi đã trừ hết chi phí đầu tư gia đình cũng có được nguồn thu nhập đáng kể.

Tương tự, Internet cũng trở thành người bạn không thể thiếu đối với anh Trương Hoàng Trung (thôn Hiệp Hòa). Trước đây, để tưới cho 2 ha cà phê xen hồ tiêu của gia đình, anh Trung mất rất nhiều công sức. Qua tìm hiểu trên mạng Internet, năm 2014 anh Trung đã mạnh dạn đầu tư lắp đặt hệ thống tưới nước tự động cho vườn cây qua việc đóng, ngắt cầu dao. Năm 2018, anh được Ngân hàng Thế giới (WB) hỗ trợ 100% vốn lắp đặt thiết bị tưới nước bằng điện thoại thông minh. Anh Trung cũng là một trong những hộ dân đầu tiên ở địa phương áp dụng mô hình tưới nước tự động qua điện thoại.

Nhờ những kiến thức tìm hiểu được từ Internet, mô hình kinh tế của anh Thắng (bên trái) mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn.

Giờ đây, việc tưới nước cho cà phê, tiêu của gia đình anh Trung đã nhàn hơn rất nhiều. Mỗi lần tưới, anh chỉ cần bấm điện thoại điều khiển, tự động vườn cây được cung cấp đầy đủ nước. Đặc biệt, hệ thống này còn được anh sử dụng để bón phân cho cây trồng, phân bón được hòa tan trong một bể chứa và theo hệ thống ống dẫn tưới vào gốc cây. Anh Trung chia sẻ: “Áp dụng công nghệ tưới nước tự động qua điện thoại vô cùng tiện lợi. Bây giờ, dù có ở bất cứ nơi đâu, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội hay sang cả nước ngoài, chỉ cần có wifi thì tôi vẫn có thể tưới cho vườn cây, chứ không cần phải đến tận vườn để bật, tắt cầu dao điện như trước đây”. Bên cạnh đó, nhờ những kiến thức khoa học kỹ thuật tìm hiểu được từ Internet, mô hình kinh tế của gia đình anh Trung mang lại hiệu quả rõ rệt.

Nhận thấy được vai trò quan trọng của công nghệ thông tin trong sản xuất, ngày càng có nhiều nông dân ở xã Quảng Hiệp tìm đến Internet. Nhiều hộ đã đầu tư mua máy vi tính, kéo mạng Internet về nhà để chủ động hơn trong việc khai thác thông tin về giá cả thị trường, kiến thức khoa học kỹ thuật… Ông Lê Ngọc Quyết, Chủ tịch Hội Nông dân xã Quảng Hiệp cho biết: “Sử dụng Internet để phục vụ sản xuất được các hội viên, nông dân trên địa bàn xã đã thực hiện từ nhiều năm trước đây, tuy nhiên những năm gần đây mới phát triển mạnh, nhất là từ năm 2015 đến nay. Trong số hơn 1.800 hội viên hiện nay, có khoảng 70% hội viên đã biết sử dụng Internet để khai thác thông tin giá cả thị trường, tìm hiểu về khoa học kỹ thuật… Từ đó, việc áp dụng khoa học kỹ thuật của các hội viên, nông dân trên địa bàn được đẩy mạnh, nhiều mô hình kinh tế đem lại hiệu quả cao”.

Trung Dũng

Phú Yên: Chuyển đổi đối tượng nuôi để chống dịch

Nguồn tin: Báo Phú Yên

Người dân lựa chọn nuôi bò để chống dịch tả heo châu Phi - Ảnh: THỦY TIÊN

Trong khi bò và gà tăng giá mạnh trong thời gian gần đây thì giá heo hạ thấp, dịch tả heo châu Phi lại chưa có cách phòng trị, nên nhiều hộ chăn nuôi đang chuyển sang nuôi bò và gà. Đây cũng là biện pháp chống dịch hiệu quả trong tình hình hiện nay.

Heo hạ, gà và bò tăng giá

Nhiều tháng qua, khi dịch tả heo châu Phi xuất hiện, mặc dù dịch bệnh này không lây sang người nhưng đại đa số người tiêu dùng vẫn rất e dè với thịt heo khiến giá heo rơi xuống thấp. Hiện giá heo hơi chỉ còn khoảng 30.000 đồng/kg. Cùng với đà giảm này thì giá thịt heo bán ra tại các chợ cũng giảm sâu, dao động từ 50.000-80.000 đồng/kg tùy loại, giảm hơn 1/3 so với giá thịt lúc trước nhưng vẫn rất ít người mua.

Chị Lê Thị Hồng Yến, một chủ hàng thịt ở chợ Tuy Hòa cho biết: Trước khi xảy ra dịch, mỗi ngày tôi mổ 2 con heo để bán thịt. Còn nay, mỗi ngày tôi chỉ mổ 1 con nhưng vẫn bán không hết, phải chia bớt cho các chủ hàng khác để cùng bán.

Trong khi đó, hiện nay giá thịt bò và gà lại tăng cao, sức tiêu thụ cũng tăng mạnh. Khảo sát tại hàng bán gia cầm ở chợ Tuy Hòa, hầu hết các hàng đều đông khách. Chị Trần Thị Ngọc Bảo ở phường 4 (TP Tuy Hòa, Phú Yên) đang chọn mua gà cho biết: Từ khi có thông tin dịch tả heo châu Phi xảy ra ở Phú Yên, tôi ngưng luôn các món ăn chế biến từ thịt heo. Thay vào đó tôi chuyển sang dùng thịt bò và gà để đảm bảo sức khỏe cho gia đình. Và đây cũng chính là lựa chọn của rất nhiều người trong thời gian từ khi heo phát dịch đến nay.

Chính vì nhu cầu tiêu dùng tăng cao nên giá thịt bò, gà tại các chợ cũng tăng theo. Hiện thịt bò đang được bán ra với mức giá từ 150.000-250.000 đồng/kg. Bà Ngô Thị Hồng, một chủ hàng bán thịt bò ở chợ phường 9 (TP Tuy Hòa) cho biết: So với lúc trước, các loại thịt bò đều tăng từ 10.000-20.000 đồng/kg, số lượng thịt bán ra mỗi ngày ở sạp hàng tôi cũng tăng thêm khoảng 50kg/ngày.

Tương tự, hiện nay, gà sống bán ra tại các chợ cũng ở mức cao. Cụ thể gà ta thả vườn có giá 110.000-120.000 đồng/kg, gà ta nuôi theo kiểu bán công nghiệp có giá từ 90.000-100.000 đồng/kg. Theo bà Nguyễn Thị Thoa, một người bán gà ở chợ Tuy Hòa, nhờ sức tiêu thụ mạnh nên mỗi ngày bà bán lẻ lẫn bỏ sỉ khoảng 200 con, tăng hơn 1/3 so với lúc trước.

Chuyển đổi vật nuôi

Trước tình trạng dịch tả heo châu Phi có chiều hướng lây lan như hiện nay, người chăn nuôi ở các địa phương đã lựa chọn biện pháp chuyển đổi đối tượng để đối phó với loại dịch bệnh này.

Hiện nay, bò và gà là 2 đối tượng vật nuôi đang được nhiều hộ nông dân lựa chọn phát triển thay thế cho con heo. Bà Trần Thị Thanh Tâm ở xã Hòa Thắng (huyện Phú Hòa) cho biết: Sau khi xuất hết lứa heo thịt vừa rồi, gia đình tôi lỗ hơn 7 triệu đồng, bây giờ không tái đàn nữa. Tận dụng các ô chuồng này, gia đình tôi vừa thả 300 con gà giống Minh Dư để nuôi, vừa hạn chế được rủi ro, vừa cắt lỗ từ nuôi heo.

Cũng theo bà Tâm, qua tìm hiểu bà được biết, từ tháng 4 đến nay, giá gà đã liên tục tăng và hiện đang được thu mua tại trại với mức giá xấp xỉ 70.000 đồng/kg. Với giá này, mỗi con gà sau khi nuôi 100 ngày, bán ra sẽ đem lại lợi nhuận từ 25.000-28.000 đồng/con. Đây là mức lãi mơ ước của những người làm nông nghiệp.

Trong khi đó, gia đình ông Ngô Phước Long ở xã Ea Bar (huyện Sông Hinh) thì lại chọn con bò làm đối tượng chuyển đổi lúc này. Theo ông Long, từ khi địa phương phát dịch tả heo châu Phi, gia đình ông đã bắt đầu giảm đàn heo, con nào có trọng lượng khoảng 60kg là ông cho xuất chuồng. Nhờ vậy, hiện đàn heo của trại nuôi chỉ còn 10 con trọng lượng dưới 25kg. Cùng với việc giảm đàn heo, gia đình ông Long chuyển sang nuôi bò.

Ông Long cho biết: Khả năng dịch tả heo châu Phi sẽ còn kéo dài trong thời gian tới nên tôi chuyển sang đầu tư nuôi bò. Tận dụng chuồng heo trống, tôi vừa mua 5 con bê lai giống BBB về nuôi. Nếu ổn định với mức giá hơn 75.000 đồng/kg hơi như hiện nay thì thu nhập từ nuôi bò sẽ khá hơn.

Theo ông Nguyễn Siêng, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Phú Hòa, với tính chất phức tạp của dịch tả heo châu Phi, địa phương đã khuyến cáo người chăn nuôi trên địa bàn không nên tái, tăng đàn heo nuôi trong lúc này mà nên chuyển đổi sang những đối tượng vật nuôi đang có nhiều lợi thế khác như bò, gà, dê... Bước đầu đã có nhiều hộ chuyển đổi vật nuôi. Thời gian tới, địa phương sẽ đẩy mạnh công tác tập huấn, hỗ trợ kiến thức, kinh nghiệm thâm canh trong chăn nuôi bò, gà, dê... đến với nông dân, giúp bà con ổn định sản xuất, ứng phó qua đợt dịch tả heo châu Phi.

Ông Đào Lý Nhĩ, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Phú Yên khuyến cáo: Chuyển đổi vật nuôi có thể là biện pháp hữu hiệu và an toàn trong giai đoạn hiện nay, giúp nông dân có nguồn thu nhập thay thế. Để đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi, khi bắt đầu sản xuất, bà con không nên nuôi với số lượng lớn mà nên tăng dần để tích lũy kinh nghiệm và thăm dò thị trường; đồng thời, cần áp dụng biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học như chủng ngừa vắc xin đầy đủ, mua giống có nguồn gốc, vệ sinh thú y thường xuyên...

THỦY TIÊN

Phát triển 2.000 con bò sữa hữu cơ

Nguồn tin: Báo Lâm Đồng

Dự án Trang trại Bò sữa Vinamilk Đà Lạt vừa được cơ quan thẩm quyền tỉnh Lâm Đồng chứng nhận đăng ký điều chỉnh đầu tư, nâng tổng đàn bò sữa hữu cơ lên đến 2.000 con vào năm 2000.

Đến nay, Dự án đã và đang triển khai hoàn thành đầu tư giai đoạn 4 gồm: mở rộng lên 24 ha diện tích Trang trại Bò sữa Organic - Đà Lạt, tọa lạc xã Tu Tra, huyện Đơn Dương; lắp đặt thiết bị, xây dựng trạm thu mua sữa tại các xã Đạ Ròn, Tu Tra (Đơn Dương), N’Thol Hạ (Đức Trọng), Lạc Xuân (Đơn Dương), Đinh Lạc (Di Linh), thị trấn Nam Ban (Lâm Hà), phường Lộc Tiến (Bảo Lộc); bổ sung gần 63 ha đồng cỏ và trang trại chăn nuôi khoảng 700 con bò sữa hữu cơ tại địa bàn thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, dự kiến hoạt động ổn định vào đầu năm 2000.

Được biết, Dự án Trang trại Bò sữa Vinamilk Đà Lạt triển khai từ năm 2011 đến nay, tổng diện tích gần 150 ha, thuộc địa bàn các huyện: Đơn Dương, Lâm Hà, Di Linh, Đức Trọng và thành phố Bảo Lộc. Quy mô tổng đàn bò sữa 3.600 con, trong đó có đến 2.000 con bò sữa hữu cơ.

VŨ VĂN

Long An: Triển khai mô hình chăn nuôi vịt siêu thịt bố mẹ

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi gia cầm VIGOVA đã phối hợp với Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp tỉnh Long An triển khai mô hình chăn nuôi vịt siêu thịt bố mẹ.

Đàn vịt sinh trưởng, phát triển tốt.

Mô hình thuộc Dự án khuyến nông Trung ương 2019-2021: Xây dựng mô hình chăn nuôi vịt siêu thịt V52, V57, VSM6 và vịt BSM3 an toàn, hiệu quả. Để đảm bảo việc triển khai mô hình được thành công đem lại hiệu quả kinh tế cao, Ban quản lý Dự án, Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp tỉnh Long An và Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Tân Trụ (tỉnh Long An) đã tiến hành họp dân, chọn hộ theo quy định; cử cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, theo dõi các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cho nông dân tham gia mô hình.

Mô hình được thực hiện với quy mô 3.000 con vịt bố mẹ, tại 8 nông hộ.Các hộ tham gia mô hình được hỗ trợ 50% chi phí con giống, thức ăn, thuốc thú y và 100% kinh phí tổ chức tập huấn trong và ngoài mô hình, kinh phí thông tin tuyên truyền.

Đến nay, đàn vịt được 11 tuần tuổi, phát triển tốt, tỷ lệ nuôi sống đạt 96%, đáp ứng yêu cầu của dự án.

THS. NGÔ ĐỨC VŨ

Đồng Nai: Ngăn chặn dịch tả heo châu Phi xâm nhập trang trại lớn

Nguồn tin: Báo Đồng Na

Toàn tỉnh hiện có 33 xã, phường thuộc 8 huyện, thành phố xảy ra dịch tả heo châu Phi (ASF) với gần 47 ngàn con heo bị tiêu hủy. Trong đó, các địa phương mới xuất hiện dịch là: Thống Nhất, Tân Phú, Xuân Lộc và TP. Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai).

Một hộ chăn nuôi ở xã Hưng Lộc (huyện Thống Nhất) phun thuốc sát trùng, tiêu độc chuồng trại để phòng dịch tả heo châu Phi

Nguy hiểm hơn là dịch ASF đã lây lan sang các trang trại chăn nuôi lớn với quy mô hàng chục ngàn con.

* Ổ dịch quy mô lớn

Với trên 16 ngàn con heo bị tiêu hủy vì dịch ASF, Vĩnh Cửu là địa phương đứng đầu của tỉnh bị thiệt hại. Tiếp đến là huyện Trảng Bom với gần 7,6 ngàn con bị tiêu hủy. Nguyên nhân có sự thiệt hại lớn này là do dịch ASF đã xâm nhập vào những trang trại lớn.

Cụ thể, ổ dịch ASF đã xuất hiện tại trang trại của Công ty chăn nuôi Phú Sơn (xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom) có tổng đàn gần 20 ngàn con. Đây là ổ dịch có quy mô lớn nhất nước tính tới thời điểm hiện nay. Do tổng đàn quá lớn nên ngay sau khi phát hiện dịch xảy ra, Chi cục Chăn nuôi - thú y tỉnh đã báo cáo Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn để bàn phương án xử lý.

Theo Phó chủ tịch UBND tỉnh VÕ VĂN CHÁNH, hiện tổng đàn heo của toàn tỉnh đã giảm còn khoảng 2,1 triệu con, giảm hơn 400 ngàn con so với tổng đàn trước khi xảy ra dịch ASF. Tuy nhiên, các địa phương cần tiếp tục vận động người chăn nuôi giảm đàn qua việc khuyến khích xuất heo đủ tuổi tiêu thụ; không nên nhân giống, tái đàn, tăng đàn trong giai đoạn hiện nay.

Sau khi phát hiện 150 con heo của Công ty chăn nuôi Phú Sơn dương tính với dịch ASF, lực lượng chức năng của tỉnh đã tiến hành tiêu hủy ngay toàn bộ 650 con heo gồm số heo bị bệnh và toàn bộ số heo cùng dãy chuồng với những con heo bệnh. Do trang trại của công ty này được nuôi ở các dãy chuồng riêng biệt, ngăn cách bằng những lối đi nên số heo khỏe mạnh được giữ lại để tiếp tục theo dõi.

Ông Trần Văn Quang, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi - thú y tỉnh cho biết: “Để bảo vệ số heo không bị bệnh tại các trang trại xuất hiện ổ dịch, chúng tôi tổ chức sát trùng, rải vôi hằng ngày; liên tục giám sát huyết thanh hoặc sẽ lấy mẫu huyết thanh xét nghiệm ngay khi phát hiện heo có biểu hiện bất thường. Cấm triệt để việc vận chuyển heo từ trang trại ra bên ngoài. Với việc phòng chống nghiêm ngặt này đã giúp bảo vệ số heo khỏe còn lại tại những ổ dịch lớn. Cụ thể như ổ dịch tại trại Hoa Phượng (xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu) đã qua 2 tháng và hiện số heo còn lại vẫn an toàn”.

Tuy nhiên, ông Quang cũng cảnh báo: “Nguy cơ dịch ASF xâm nhập vào các trại chăn nuôi lớn còn rất cao vì việc chủ động phòng chống dịch của các chủ trại vẫn rất kém. Hiện toàn tỉnh có trên 1,7 ngàn trang trại lớn nhưng rất ít trang trại thực hiện tốt an toàn sinh học - biện pháp hữu hiệu nhất để chống lại dịch ASF hiện nay. Nếu để dịch lan rộng vào các trang trại lớn sẽ gây thiệt hại rất nặng nề”.

Chỉ ra sự bị động của các trang trại lớn cả trong công tác phòng và xử lý khi dịch xảy ra, Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Chánh cảnh báo, dịch ASF đang lây lan và còn tiếp tục diễn biến rất phức tạp vì đang vào mùa mưa trong khi dịch lại lây lan nhanh qua nguồn nước. Điều đáng báo động là công tác phòng dịch của các trại chăn nuôi lớn cũng còn rất kém. Họ vẫn sử dụng nguồn thức ăn dư thừa; để cỏ mọc lan vào cả khu vực chuồng heo; chưa tuân thủ quy định tiêu hủy...

* Tổng lực ứng phó

Đến nay, huyện Nhơn Trạch đã công bố hết dịch ASF. Nhưng tốc độ lây lan dịch ASF trên địa bàn tỉnh vẫn quá nhanh dù Đồng Nai đã thực hiện đồng bộ rất nhiều giải pháp phòng chống.

Phó chủ tịch UBND huyện Vĩnh Cửu Nguyễn Quang Phương nhận xét, hiện chỉ tính riêng kinh phí hỗ trợ của huyện cho người chăn nuôi đã lên đến 9,2 tỷ đồng. Nguyên nhân lây lan chủ yếu là các trang trại sử dụng nguồn thức ăn thừa cho cá ăn. Trại heo lạnh quy mô lớn tại địa phương bị lây dịch là do lây từ nguồn nước ao cá gần ngay trại nuôi heo. Ngoài ra, có tình trạng vận chuyển heo, thịt heo chết, mỡ động vật từ nơi khác về. Cụ thể, gần đây, cơ quan chức năng đã bắt được 3 trường hợp vận chuyển mỡ, nội tạng động vật, heo chết. Đây cũng là nguyên nhân khiến dịch lây lan.

“Khó khăn là những trường hợp vi phạm trên địa phương chỉ mới xử lý hành chính vì họ thường vận chuyển với quy mô nhỏ. Tôi kiến nghị các huyện có dịch phải thực hiện tốt việc ngăn chặn việc vận chuyển, giết mổ heo bệnh” - ông Phương nói.

Theo Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, hiện hầu hết các trang trại chăn nuôi và hộ chăn nuôi heo đều còn nợ ngân hàng và người thân do ảnh hưởng của đợt giá thấp vào đầu năm 2018 và ngay sau đó là dịch tả heo châu Phi không ngừng lan rộng. Hiệp hội đã có văn bản kiến nghị lên Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sớm có chính sách khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất cho vay đối với các trang trại và hộ chăn nuôi. Trong đó, đối tượng được khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất cho vay là các trang trại, hộ chăn nuôi đã bị dịch tả heo châu Phi; những trang trại có đàn heo nuôi chưa đến tuổi xuất bán để chủ trại có điều kiện tiếp tục duy trì đàn cung ứng cho thị trường trong thời gian tới...

Chỉ ra sự nguy hại khác trong công tác phòng, chống dịch, bà Lương Thị Lan, Phó chủ tịch UBND huyện Trảng Bom dẫn chứng: “Có trường hợp xảy ra dịch, chủ trại nuôi đem heo chết rải ra khắp các ô chuồng không bị dịch để cả đàn được hỗ trợ. Có trường hợp họ không chăm sóc heo nữa mà cứ để cho heo chết dần khiến công tác xử lý gặp rất nhiều khó khăn”.

Ngoài ra, tại các trang trại chăn nuôi thường có rất nhiều chuột, trại có ổ dịch bị tiêu hủy hết kho cám thì những con chuột này tỏa đi các trang trại khác tìm thức ăn cũng là nguyên nhân chính khiến dịch lây lan.

Với tinh thần huy động tổng nguồn lực để xử lý nghiêm, triệt để những vi phạm trong công tác phòng, chống dịch ASF, Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Chánh nêu rõ, các địa phương phải đôn đốc, tuyên truyền để người chăn nuôi thực hiện ngay việc dọn vệ sinh, sát trùng tiêu độc chuồng trại, khu vực xung quanh, đường đi; ngăn chặn, cách ly mọi nguồn lây lan từ chuột, ruồi và các vật nuôi khác; tăng cường xử lý, diệt virus dịch tồn tại trong nước; các trại lớn phải chủ động xây dựng phương án cách ly heo bệnh để tránh lây lan ra cả đàn heo. Trên cạn, cần tăng cường các trạm kiểm soát và công tác kiểm soát lưu động việc vận chuyển, tiêu thụ heo; mỗi ấp, xã đều tổ chức 1 tổ phản ứng nhanh trong công tác dập dịch, tiêu hủy heo.

“Các trang trại, hộ nuôi xảy ra dịch do sử dụng nguồn thức ăn dư thừa; không thực hiện nghiêm công tác phòng dịch; không tuân thủ quy định tiêu hủy, cách ly heo bệnh hoặc phòng dịch theo kiểu đối phó, gây lây lan dịch sẽ không được nhận hỗ trợ. Lực lượng công an cũng phải tích cực vào cuộc, đưa ra xử lý hình sự những vi phạm lớn trong vận chuyển, tiêu thụ heo bệnh” - Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Chánh nhấn mạnh.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn, cả nước hiện có 61/63 tỉnh, thành xuất hiện dịch ASF với khoảng 3 triệu con bị tiêu hủy. Diễn biến của dịch vẫn hết sức phức tạp, nguy cơ tiếp tục lây lan theo diện rộng, nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long đang chuẩn bị vào mùa nước ngập.

Bình Nguyên

Chuyển đổi cơ cấu giống chăn nuôi: Nguy cơ thừa thủy cầm

Nguồn tin: Báo Bắc Giang

Gần đây, hàng loạt hộ chăn nuôi lợn tại tỉnh Bắc Giang đã chuyển sang nuôi ngan, vịt (vật nuôi ngắn ngày) để bù nguồn thu và lượng thịt lợn thiếu hụt do bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP). Với tổng gia cầm tăng nhanh trong thời gian ngắn, hiển hiện nguy cơ thừa cục bộ, người chăn nuôi có thể gặp rủi ro.

Tăng đàn nhanh

Như hàng trăm hộ chăn nuôi khác, giữa tháng 4 vừa rồi, bệnh DTLCP làm 35 con lợn của ông Nghiêm Đình Sửu, thôn Bình Dương, xã Ngọc Sơn (Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) bị chết, tương ứng gần 3 tấn.

Ông Sửu (bên trái) được cán bộ thú y xã Ngọc Sơn hướng dẫn cách nhận biết bệnh dịch ở vịt.

Ông Sửu chia sẻ, để tạo việc làm và nguồn thu cho gia đình, ông đầu tư hơn 50 triệu đồng sửa chuồng lợn, đóng sàn, mua giống… chuyển sang nuôi vịt. Trong chuồng nhà ông hiện có 1,5 nghìn con vịt, chia làm 3 đàn, gối nhau. Đàn lâu nhất được 40 ngày tuổi, một đàn 20 ngày và một đàn mới vào.

Tương trợ hộ ông Sửu, 9 hộ khác trong thôn Bình Dương như hộ ông Nghiêm Đình Quân, bà Hoàng Thị Thực… mỗi nhà cũng vào đàn từ 700 đến 1 nghìn con vịt để chăn nuôi thay thế lợn.

Ông Nguyễn Quốc Mỹ, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ - Kỹ thuật nông nghiệp Hiệp Hòa thông tin, hàng trăm hộ có lợn bị tiêu hủy do mắc bệnh DTLCP của huyện đã chuyển đổi vật nuôi. Trong đó, 170 hộ chuyển sang nuôi vịt với số lượng lớn, vào đàn từ 500 đến 1 nghìn con/hộ (chỉ có 10 gia đình ở xã Hoàng An chuyển sang nuôi gà lông màu).

Điển hình như hộ anh Đặng Hồng Đăng, thôn Bái Thượng (Đoan Bái, Bắc Giang), tận dụng khu chuồng lợn trước đây (đã được trang bị hệ thống làm lạnh), đầu tư thêm hơn 100 triệu đồng chuyển sang chăn nuôi vịt khép kín. Anh Đăng vừa nhập 7 nghìn con vịt thịt, đến nay được hơn 10 ngày tuổi. Theo ông Mỹ, hiện tổng đàn thủy cầm của Hiệp Hòa đạt khoảng 500 nghìn con, tăng 30% so với năm ngoái.

Khảo sát thực tế, đa phần các hộ có lợn chết do mắc bệnh DTLCP trong tỉnh có xu hướng chuyển sang nuôi vịt. Nhiều hộ chăn nuôi vịt thường xuyên, không bị thiệt hại do bệnh DTLCP cũng tăng đàn. Tại xã Tân Liễu (Yên Dũng, Bắc Giang) có hàng chục hộ chăn nuôi thủy cầm với số lượng lớn để lấy trứng và thịt.

Anh Nguyễn Văn Tuấn, thôn Liễu Nham chia sẻ: “Hiện gia đình tôi nuôi 9 nghìn con vịt thịt, nửa tháng nữa được bán. Năm nay, lợn bị dịch bệnh nên tôi dự kiến tăng thêm khoảng 5 nghìn con vịt so với năm ngoái”.

Tiềm ẩn nhiều rủi ro

Theo Chi cục Chăn nuôi và Thú y (Sở Nông nghiệp và PTNT), tổng đàn thủy cầm của Bắc Giang ước đạt khoảng 2,1 triệu con, tăng 25% so với năm ngoái, tập trung tại các huyện: Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Thế, Yên Dũng và Lạng Giang.

Trong đó, vịt chiếm khoảng 1,7 triệu con, còn lại là ngan, ngỗng. Riêng đàn gà tăng không đáng kể vì các hộ mới đang chuẩn bị vào đàn để phục vụ dịp Tết Nguyên đán tới.

Một khu nuôi vịt của gia đình ông Tuấn.

Sở dĩ thời gian gần đây tổng đàn thủy cầm tăng mạnh là do sản phẩm được giá. Trung tuần tháng 6, vịt có giá 43 nghìn đồng/kg; ngan 52-54 nghìn đồng/kg; cuối tháng 4-2019, giá ngan có lúc lên tới hơn 60 nghìn đồng/kg, cao hơn so cùng thời điểm này năm ngoái 10 nghìn đồng/kg. Người nuôi lãi khoảng 15 triệu đồng/1.000 con vịt chỉ sau 45 đến 50 ngày.

Trước đây, để nuôi một lứa vịt phải mất 2 tháng, nay với các giống vịt bơ, siêu thịt, thời gian nuôi rút ngắn đáng kể. Thực tế đó khiến các chủ nuôi vào đàn mạnh, quay vòng vốn nhanh. Một nguyên nhân nữa, do nhiều hộ chăn nuôi có lợn buộc phải tiêu hủy vì bệnh DTLCP nay chuyển sang nuôi thủy cầm, chủ yếu là vịt bởi có chu kỳ ngắn; các giống vật nuôi khác như: Gà, trâu, bò, dê, ngựa... đều có thời gian sinh trưởng từ 3,5 tháng đến vài năm mới cho bán.

Tổng đàn thủy cầm của Bắc Giang ước đạt khoảng 2,1 triệu con, tăng 25% so với năm ngoái, tập trung tại các huyện: Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Thế, Yên Dũng, Lạng Giang. Trong đó vịt khoảng 1,7 triệu con, còn lại là ngan, ngỗng. Riêng đàn gà tăng không đáng kể vì các hộ mới đang chuẩn bị vào đàn phục vụ dịp Tết Nguyên đán tới.

Việc tăng đàn vịt nhanh dễ dẫn tới thừa cục bộ, người nuôi gặp rủi ro. Đơn cử, cuối tháng 6 vừa qua, giá vịt đã xuống còn 36 nghìn đồng/kg; ngan xuống dưới 50 nghìn đồng/kg, khó tiêu thụ. Mới chuyển từ chăn nuôi lợn sang vịt cũng khiến các hộ gặp khó trong khâu chọn giống, chăm sóc và phòng ngừa dịch bệnh vì thiếu kinh nghiệm.

Quan sát đàn vịt (giống bầu lai bơ) nhà ông Nam và ông Mai cùng thôn Liễu Nham, xã Tân Liễu cho thấy, tuy cùng lứa nhưng nhiều con chỉ to bằng già nửa những con khác. Chúng có mỏ dày, ngắn hơn các con còn lại, tỷ lệ này chiếm khá cao.

Ông Nam và ông Mai giãi bày, số vịt này các ông nhờ người quen mua hộ. “Lúc bé, mã vịt rất đẹp, sau 20 ngày tuổi mới có hiện tượng thụt mỏ. Tôi cũng không biết tại giống hay do cách chăm sóc”, ông Nam nói.

Theo ông Lương Đức Kiên, Chi cục Phó Chi cục Chăn nuôi và Thú y, để chăn nuôi gia cầm đạt hiệu quả, các hộ phải chọn mua con giống bảo đảm an toàn dịch bệnh, có nguồn gốc rõ ràng từ các cơ sở uy tín, có giấy kiểm dịch khi xuất bán. Quá trình nuôi phải tiêm đủ các loại vắc xin phòng bệnh, đặc biệt là dịch tả vịt...

Như mọi năm, vịt chỉ “hút khách” trong mùa nắng nóng. Do đó, để chăn nuôi hiệu quả, các hộ nên chủ động liên kết với các doanh nghiệp, tổ, hội chăn nuôi, thương lái để có đầu ra ổn định. Ngành nông nghiệp, công thương cần quan tâm thống kê, dự báo, đánh giá tình hình cung - cầu thị trường, cung cấp thông tin cho người nuôi. Nếu để nông dân vào đàn ồ ạt theo phong trào, tự tìm đầu ra, nguy cơ thua lỗ là khó tránh.

Thế Đại

Chăn nuôi an toàn sinh học để bảo vệ đàn heo

Nguồn tin: Báo Long An

Thời gian qua, việc tuân thủ các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học chưa triệt để khiến dịch tả heo châu Phi (DTHCP) xảy ra và lây lan rất nhanh. Tại Long An, DTHCP xảy ra tại các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Tân Hưng và thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Chăn nuôi an toàn sinh học là cách để bảo vệ đàn heo

Theo đánh giá của ngành chức năng, DTHCP xuất hiện chủ yếu tại các hộ chăn nuôi nhỏ, lẻ. Ngoài ra, trong chăn nuôi còn tình trạng vận chuyển heo bệnh và sản phẩm heo bệnh giữa các vùng; vứt heo chết ra môi trường; cho heo ăn thức ăn thừa từ nhiều nguồn không qua nấu chín; người và xe tự do ra, vào chuồng trại mà không sát trùng đúng quy định,... Đó chính là những nguy cơ khiến dịch bệnh xâm nhập.

Cục trưởng Cục Thú y - Phạm Văn Đông cho rằng: Việc thực hiện các giải pháp an toàn sinh học một cách tuyệt đối là “chìa khóa” duy nhất để bảo vệ đàn heo của các trang trại và nông hộ. Người chăn nuôi không được vận chuyển heo bệnh và các sản phẩm từ heo bệnh qua vùng khác. Theo đó, người chăn nuôi tuyệt đối không bán hoặc đưa heo ốm, chết ra khỏi chuồng trại. Heo chết cần được xử lý ngay trong khuôn viên chuồng trại theo quy định của thú y để giảm thiểu rủi ro, nguy cơ lây lan, bùng phát bệnh cho các trang trại khác. Bán, giết mổ heo ốm, heo chết là hành vi vi phạm pháp luật. Người chăn nuôi không nên cho heo ăn thức ăn thừa không qua nấu chín. Bởi, trong thức ăn thừa hoặc phụ phẩm chế biến từ nhà bếp, quán ăn, các cơ sở sản xuất thực phẩm có thể lẫn thịt heo và các sản phẩm chế biến từ heo nhiễm virus DTHCP (do heo nhiễm vi-rút DTHCP 3-5 ngày trong thời gian ủ bệnh chưa phát bệnh nhưng có khả năng có vi-rút). Sử dụng thức ăn thừa không được đun nấu cho heo ăn có nguy cơ nhiễm bệnh rất cao.

Bên cạnh đó, người chăn nuôi bên ngoài, người tiếp xúc với heo (người mua bán, vận chuyển heo vào chuồng trại) không được tự do ra, vào chuồng trại; hạn chế tối đa các loại xe ra, vào chuồng trại, nếu bắt buộc phải cho xe vào thì phải khử trùng theo quy định; tuyệt đối cấm xe chở heo, chở phân, vỏ bao, xe cám, thuốc vào trong khu vực chăn nuôi; các xe cung ứng cám, thuốc cần thiết vào trại cần sát trùng kỹ, cách ly và dừng đỗ tại những nơi quy định,…

Ngoài ra, người chăn nuôi không nên nhập heo vào chuồng trại mà không nuôi cách ly. Các chuồng trại khi thiết kế phải có khu cách ly, mỗi khi nhập heo mới về phải cách ly ít nhất 30 ngày để bảo đảm heo được an toàn về bệnh dịch sau khi cắt đàn và loại bỏ nguy cơ mang mầm bệnh vào chuồng trại từ bên ngoài; không mang thức ăn không rõ nguồn gốc từ bên ngoài vào chuồng trại.

Cần chủ động tìm nguồn cung cấp thực phẩm uy tín, rõ nguồn gốc để tránh nguy cơ lây nhiễm và trang bị thiết bị khử trùng thực phẩm bằng tia UV, hoặc Ozone hay xử lý nhiệt trước khi mang vào khu vực bếp, nhà ăn riêng của chuồng trại; không đi từ nơi bẩn đến nơi sạch trong chuồng trại để tránh lây nhiễm chéo.

Nguyên tắc di chuyển trong trại là đi từ khu heo con sơ sinh đến khu heo chuẩn bị cai sữa, khu heo có ngày tuổi nhỏ đến heo có ngày tuổi cao, khu heo con sang heo thịt. Khuyến cáo trước khi di chuyển từ dãy chuồng này sang dãy chuồng khác phải thay quần áo, sát trùng ủng và tay để tránh nhiễm chéo.

Trước tình hình dịch bệnh như hiện nay, biện pháp tốt nhất là không cho người đi qua lại và sử dụng dụng cụ chung giữa các dãy chuồng, tốt nhất 1 người quản lý 1 dãy chuồng; không giết mổ, tiêu thụ heo bệnh, heo chết; không vứt heo chết ra môi trường.

Khi phát hiện heo có triệu chứng bệnh phải thông báo với nhân viên thú y địa phương để được hỗ trợ xét nghiệm, nếu phát hiện ổ dịch thì được hướng dẫn tiêu hủy theo đúng quy định.

Tính đến thời điểm này, trên địa bàn tỉnh Long An, dịch tả heo châu Phi xảy ra tại 33 hộ, 21 ấp/khu phố, 15 xã/phường thuộc 6 huyện, thị xã: Đức Hòa (xã Đức Hòa Thượng, Hòa Khánh Đông và Mỹ Hạnh Nam), Bến Lức (xã Long Hiệp, Lương Bình, Mỹ Yên, Phước Lợi và Thanh Phú), Cần Giuộc (xã Thuận Thành và Trường Bình), Cần Đước (xã Long Trạch), Tân Hưng (xã Hưng Điền B và Vĩnh Châu A) và thị xã Kiến Tường (phường 1 và phường 2). Tổng số heo bệnh bị tiêu hủy là 822 con với tổng trọng lượng 51.756,5kg.

Huỳnh Phong

Hiếu Giang tổng hợp

 

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop