Tin nông nghiệp ngày 10 tháng 02 năm 2021

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 10 tháng 02 năm 2021

Bưởi da xanh - Trái cây ngon ngày Tết

Nguồn tin: Báo Đồng Khởi

Bưởi da xanh (BDX) Bến Tre là loại trái cây ngon nổi tiếng cả nước, đây cũng là loại cây đã giúp nhiều người dân Bến Tre làm giàu. Ðối với người Bến Tre, BDX là loại trái cây quý, thường dùng làm quà biếu vào các dịp lễ, Tết. Ðặc biệt, loại quả này không thể thiếu trong mâm trái cây chưng Tết của người Nam Bộ.

Bưởi da xanh đạt OCOP 3 sao được bày bán tại Siêu thị Dừa. Ảnh: C. Trúc

Đôi nét về nguồn gốc

Để trả lời cho câu hỏi nguồn gốc của cây BDX, cho đến nay, người ta chỉ có thể nói BDX xuất phát từ Bến Tre. Nhiều người cho rằng, người đầu tiên trồng giống bưởi này là ông Trần Văn Luông (Sáu Luông) (1905 - 1979), xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Qua lời kể của các con ông Sáu Luông: Khoảng năm 1940, ông Sáu Luông đi dự đám giỗ, ăn được giống bưởi ngon, trái bưởi chỉ có 3 hột nên ông mang về trồng. Thấy giống bưởi ngon, bà Ba Thời (con chú bác ruột với ông Sáu Luông), xã Mỹ Thạnh An (TP. Bến Tre) chiết nhánh đem về cho cha là ông Trần Văn Ẩn (Ba Ẩn) trồng vào năm 1958. Năm 1981, ông Bùi Thiện Mỹ (Năm Mỹ), xã Mỹ Thạnh An, rể ông Ba Ẩn cũng đến vườn bưởi ông Sáu Luông xin chiết nhánh về trồng.

Nhận thấy giống bưởi ngon, năm 1996, ông Năm Mỹ đem dự thi ở Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam và đoạt giải nhì. Từ đó, trái BDX được nhiều người biết đến và nổi tiếng khắp cả nước. Từ cây bưởi ngon của nhà ông Sáu Luông được nhiều người trong gia đình mang về trồng, xã Mỹ Thạnh An là địa phương trồng nhiều, đầu tiên của tỉnh và được nhân rộng đến các nơi khác trong tỉnh. Đến nay, cây BDX được trồng khắp nơi trên cả nước. Tuy nhiên, Bến Tre vẫn là vùng đất cho ra trái bưởi đạt chất lượng ngon nhất.

Theo lão nông Phạm Văn Tám (65 tuổi), xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, BDX có vị chua nhẹ, không the, ngọt đậm hấp dẫn vị giác, vỏ ngoài có màu xanh đặc trưng, ruột bưởi đỏ hồng bắt mắt, có ít hoặc không có hạt, cùng với đó giá trị dinh dưỡng cao cho sức khỏe. Khi chín, vỏ trái có màu xanh đến xanh hơi vàng, dễ bóc và khá mỏng; tép bưởi màu hồng đỏ, bó chặt và dễ tách khỏi vách múi; nước quả khá, vị ngọt, không chua (độ Brix: 9,5 - 12%); mùi thơm; tỷ lệ thịt đạt trên 55%.

Ông Tám chia sẻ, trái BDX sử dụng được hết từ vỏ cho đến ruột. Đặc biệt, đối với người Bến Tre, BDX vẫn là loại trái cây quý, thường dùng làm quà biếu vào các dịp lễ, Tết. Trên bàn thờ cúng ngày Tết, ngoài các loại trái cây khác, nhà nào cũng chưng BDX với mong muốn cầu bình an trong năm mới.

Theo Sở Khoa học và Công nghệ, vùng đất phát triển tốt cho cây BDX Bến Tre có vị trí địa lý nằm trọn trên ba dải cù lao là: cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh. Vùng đất phù sa bồi đắp bởi các nhánh sông cuối nguồn của sông Cửu Long. Do đó, điều kiện địa hình, đất đai và khí hậu của khu vực địa lý đã tạo nên đặc thù của BDX Bến Tre. Ngoài ra, kinh nghiệm được tích lũy lâu đời của những người dân địa phương từ việc nhân giống, chọn đất thiết kế vườn, lên liếp đến áp dụng các kỹ thuật tiên tiến vào quá trình sản xuất cũng góp phần nâng cao năng suất và chất lượng của BDX Bến Tre.

Ông Đào Văn Minh, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành cho hay, cây BDX mang cho hiệu quả kinh tế cao, với 8.000m2 vườn bưởi, giúp gia đình ông Minh thu nhập hơn 1 tỷ đồng/năm. Có thời điểm, nhất là dịp Tết cổ truyền, giá bưởi ở mức trên 50 ngàn đồng/kg. Cây BDX giúp gia đình ông Minh có nguồn thu rất lớn. Theo ông Minh, nhờ áp dụng tốt kỹ thuật, đặc biệt áp dụng sản xuất theo quy trình VietGAP nên vườn bưởi cho năng suất cao, chất lượng trái ngon. Để giảm sâu bệnh, đảm bảo chất lượng trái bưởi thương phẩm, ông Minh sử dụng xông đèn về đêm xua đuổi bướm, thả kiến vàng vào vườn cây và dùng vòi phun tưới thẳng vào cành cây, thân cây “làm sạch” sâu bệnh. Nhờ vậy, trái bưởi “sạch” của khu vườn gia đình ông Minh được các doanh nghiệp, hợp tác xã chọn mua bao tiêu sản phẩm.

Ông Đàm Văn Hưng - Giám đốc Công ty Hương Miền Tây, chuyên xuất khẩu BDX cho biết: So với các loại bưởi khác trên thế giới, BDX ngày càng được thị trường thế giới ưa chuộng. Mỗi năm công ty xuất bán thị trường trong nước từ 12 -13 ngàn tấn, xuất khẩu 3 - 5 ngàn tấn/năm. Trái BDX không chỉ là món ăn ngon, bổ dưỡng, mà còn có tác dụng trị bệnh do chứa nhiều dinh dưỡng, vitamin, khoáng chất vi lượng… nên được người tiêu dùng ưa chuộng. Hiện nay, công ty đã liên kết với hơn 30 hợp tác xã, tổ hợp tác chuyên sản xuất bưởi theo hướng sạch, VietGAP với hơn 300ha, sản lượng hơn 3 ngàn tấn/năm, từng bước xây dựng chuỗi giá trị cho cây BDX Bến Tre, từ đó nâng cao giá trị cho BDX Bến Tre xuất khẩu sang các thị trường khó tính trên thế giới.

Xây dựng thương hiệu cho trái bưởi

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay diện tích trồng BDX toàn tỉnh hơn 8.000ha, chiếm 25% diện tích cây ăn trái; trong đó, diện tích đã và đang cho trái hơn 5.000ha, năng suất 11,4 tấn/ha, sản lượng 57 ngàn tấn/năm. Vùng trồng tập trung là huyện Châu Thành, Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm, Chợ Lách và TP. Bến Tre...

Theo thống kê, hàng năm diện tích BDX tăng dần từ 4.400ha (năm 2010) đến nay diện tích tăng hơn 60% và đây được xem là một trong những cây trồng làm giàu cho nông dân vì năng suất cao, giá cao, ổn định. Hiệu quả kinh tế từ cây BDX mang lại vượt trội so với các loại cây trồng khác, bình quân cho thu nhập từ 400 - 500 triệu đồng/ha/năm. Ngoài ra, người nông dân chủ động, nắm vững áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất và liên kết với doanh nghiệp tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm.

Mặt khác, trong các loại cây ăn quả được xem là đặc sản, có chất lượng cao của tỉnh thì BDX là loại quả thuộc nhóm có tiềm năng và có nhiều lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. BDX đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống quốc gia, được thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước ưa chuộng vì có vị ngon đặc trưng.

Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huỳnh Quang Đức cho biết: Cây BDX được trồng tại Bến Tre có hàm lượng Vitamin C, độ Brix, các khoáng chất… cao hơn BDX trồng ở các nơi khác. Qua các đánh giá trong nước và trên thế giới, BDX nằm trong top 5 giống bưởi hàng đầu thế giới. Bên cạnh đó, cây BDX Bến Tre đạt chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý, đây là điều kiện rất tốt để đưa cây BDX ngày càng phát triển hơnnTrong thời gian tới, các ngành chức năng địa phương tiếp tục hoàn thiện xây dựng nhãn hiệu và truy xuất nguồn gốc nhằm bảo hộ, quản lý sản phẩm bưởi da xanh, giữ vững danh tiếng và tăng năng lực cạnh tranh của bưởi da xanh trên thị trường. Ngoài ra, tổ chức liên kết sản xuất sẽ giúp người nông dân hình thành những vùng sản xuất để quản lý tốt về mặt kỹ thuật, canh tác, có giải pháp phù hợp trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay. (Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huỳnh Quang Đức)

Phúc Nhân

Tuyên Quang: Lời giải nào cho cây chuối tây bị chết ở Chiêm Hóa

Nguồn tin: Báo Tuyên Quang

Từ nguồn thu từ cây chuối Tây mà đời sống vật chất của người dân ở nhiều xã của huyện Chiêm Hóa (tỉnh Tuyên Quang) ngày càng được nâng lên, có điều kiện thoát nghèo, nhất là ở những xã như Linh Phú, Tri Phú, Bình Nhân, Kim Bình…

Chuối Tây là cây trồng nằm trong quy hoạch phát triển vùng cây ăn quả chủ lực của huyện Chiêm Hóa. Hiện toàn huyện có hơn 820 ha chuối. Nhiều hộ gia đình trên địa bàn huyện đã tận dụng đồi nương trồng sắn không hiệu quả chuyển sang trồng chuối. Cây chuối không chỉ cho người dân tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo mà còn giúp phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn. Trồng chuối chi phí ít mà cho thu nhập khá, trồng 1 năm nhưng cho thu hoạch được nhiều năm. Chuối có giá bình quân từ 5-6 nghìn đồng/kg, có thời điểm từ 11.000 - 12.000 đồng/kg. Mỗi buồng chuối có trọng lượng trung bình 15-20 kg. Trung bình mỗi 1ha chuối cho thu nhập từ 60-80 triệu đồng/năm. Từ trồng chuối mà người dân đã làm ra các sản phẩm như rượu chuối, chuối sấy khô, từ đó nâng cao thu nhập.

Vườn chuối của hộ ông Cao Văn Thanh (Bên trái), thôn Ngọc Quang, xã Kim Bình nhiều cây có hiện tượng khô ngọn, chết dần.

Thế nhưng, trong vài năm trở lại đây, nhiều xã trên địa bàn huyện Chiêm Hóa xuất hiện một số loại sâu bệnh khiến cây chuối chết dần. Kim Bình có diện tích chuối tương đối lớn với trên 450 ha, bà con đang rất lo lắng vì cây chuối đang chết dần vì sâu bệnh. Theo ông Hà Công Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Kim Bình thì các loại bệnh xuất hiện trên cây chuối chủ yếu là vàng lá, sâu đục thân… Từ năm 2016 đến nay, diện tích chuối của đã giảm 20% do sâu bệnh. Những diện tích chuối bị sâu bệnh nặng không thể phục hồi bà con phải chuyển đổi sang cây trồng khác.

Ông Nông Văn Mình, thôn Ngọc Quang, xã Kim Bình cho biết, gia đình trồng 2 ha chuối tây trên vườn đồi mỗi năm cũng thu gần 100 triệu đồng, tuy nhiên năm 2016 do chuối sâu bệnh thất thu gia đình phải phá bỏ. Gia đình ông Cao Văn Thanh, thôn Ngọc Quang trồng trên 1,5ha chuối, trung bình cho thu nhập hơn 60 triệu đồng/năm nhưng thời gian qua, cây chuối chết chết khô, hiện vườn chuối chỉ thu được khoảng 30% quả.

Hầu hết các vườn chuối của các xã lân cận như Tri Phú, Linh Phú đều có hiện tượng chết khô. Năm 2016, UBND xã Kim Bình đã mời chuyên gia từ Trường Đại học nông lâm Bắc Giang về tìm hướng diệt trừ sâu bệnh trên cây chuối, tuy nhiên đến nay chưa có hiệu quả. Diện tích cây chuối bị vàng lá, héo khô, đổ gục ngày một nhiều hơn làm cho người dân lo lắng.

Theo Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Chiêm Hóa, nguyên nhân chuối bị sâu bệnh có thể do một số hộ lấy giống chuối tại vùng bị dịch bệnh về trồng, từ đó lây lan ra cả vùng. Mặt khác diện tích chuối trồng sau 5 năm cho thu hoạch đã già cỗi, không còn khả năng kháng cự với sâu bệnh, tự chết. Cũng theo khuyến cáo của Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện, loại sâu bệnh hại trên cây chuối chủ yếu là sâu đục thân. Bởi vậy không nên lấy giống ở vườn đang bị sâu bệnh. Ngoài ra, trước khi trồng cần ngâm cây giống vào trong dung dịch thuốc Basudin, Furadan, sử dụng các loại thuốc trừ sâu dạng hạt như Padan, Regell 3G rắc vào gốc:... Với những vườn đã bị sâu gây hại nhiều sau khi thu hoạch cần chặt bỏ sát gốc, đào bỏ hết cả phần củ rồi đưa ra khỏi vườn để tiêu hủy.

Với tuyến trùng hại chuối, cần xử lý đất bằng các loại thuốc trừ tuyến trùng như Marsha 5GP, Rigell 3G. Người dân cần sử dụng giống chuối nuôi cấy mô hoặc lấy giống ở vườn sạch bệnh, trồng cây đảm bảo mật độ, khoảng cách. Đồng thời, tăng cường bón phân chuồng hoai mục cho cây. Phun thuốc phòng bệnh bằng các loại thuốc trừ nấm. Khi phát hiện khóm chuối bị bệnh cần đào bỏ cả gốc đem đi tiêu hủy, rắc vôi bột vào hố để tiêu diệt mầm bệnh...

Bài, ảnh: Cao Huy

Bưởi giảm còn 25.000 đồng/kg

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Do ảnh hưởng dịch Covid-19, tại huyện Châu Thành A (tỉnh Hậu Giang), hiện thương lái thu mua bưởi loại 1 (trái từ 1,2kg trở lên) với giá 25.000 đồng/kg, giảm hơn 20.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.

Phục vụ thị trường Tết Nguyên đán 2021, nhà vườn huyện Châu Thành A đã đầu tư khá lớn cho cây bưởi. Thêm vào đó, thời tiết khá thuận lợi cho cây bưởi phát triển, nên nhìn chung năng suất đều đạt cao. Tuy nhiên, vào thời điểm này, không chỉ giá bưởi giảm mạnh mà sức mua của thương lái cũng giảm và chỉ thu mua bưởi loại 1, trái đẹp, khiến nhà vườn kém vui.

VIỆT PHƯƠNG

Hương vị chè xuân

Nguồn tin: Báo Hòa Bình

Chè xuân là lứa búp đầu tiên trong năm, vị đậm đà, nước xanh, hương thơm mát. Ngày xuân, quây quần bên bạn bè, gia đình thưởng chè, chúc nhau năm mới an khang, thịnh vượng, tận hưởng mùa xuân thanh bình, hạnh phúc.

Thời gian qua, huyện Lạc Thủy luôn giữ gìn và phát triển thương hiệu chè sông Bôi thông qua việc đảm bảo chất lượng nguồn nguyên liệu.

Nhiều địa phương của tỉnh Hòa Bình có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp để cây chè sinh trưởng và phát triển. Chè Sông Bôi (Lạc Thủy), chè Shan tuyết Pà Cò (Mai Châu) là những thương hiệu nổi tiếng của tỉnh. Ngoài ra, một số địa phương có tiềm năng phát triển cây chè như xã Hùng Sơn (Kim Bôi), xã Trung Thành (Đà Bắc)… Theo lịch thời vụ, tháng 11, đầu tháng 12 (âm lịch), người trồng chè đốn cành tạo tán và chăm sóc để cây chè hồi sinh, nảy mầm khi xuân về.

Tiết trời sang xuân, những giọt sương còn đọng trên lá chè cũng là thời điểm bà con người Dao sống tại xóm Bà Rà, xã Hùng Sơn (Kim Bôi) lại rộn ràng hái lứa chè xuân đầu tiên. Cụ Phùng Đăng Phúc, người đầu tiên đưa cây chè về trồng tại xóm Bà Rà chia sẻ: Chè xuân là ngon nhất trong năm bởi nó kết tinh của "khí trời, vị đất” trong thời kỳ ngủ đông. Hương vị chè xuân thơm ngon, nhâm nhi chén chè cảm nhận được vị ngọt thanh nơi đầu lưỡi. Chè xuân cho năng suất thấp nhưng thu nhập cao gấp đôi so với các vụ chè khác. Để có được hương vị đặc biệt như vậy, chè phải được hái từ sáng sớm khi sương còn đọng trên lá, mang về hong và sao trên bếp than hồng vô cùng tỉ mỉ. Người sao chè phải điều chỉnh được nhiệt độ và mùi thơm.

Cứ thế, 16 năm nay, hương vị chè Bà Rà gắn bó với đời sống người dân xã Hùng Sơn và các xã lân cận. Chè Bà Rà trở thành thức uống đặc biệt và là sản phẩm làm quà tặng.

Rời xã Hùng Sơn, chúng tôi tới huyện Lạc Thủy - địa phương trải qua bao thăng trầm cùng cây chè. Người dân Lạc Thủy luôn tự hào về thương hiệu chè Sông Bôi. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, cây chè được trồng trên đất sông Bôi - nơi có khí hậu ôn hòa, mát mẻ. Chè được trồng chủ yếu ở các xã Phú Thành, Đồng Tâm, Phú Nghĩa. Hiện, toàn huyện có 250 ha chè, trong đó, Công ty TNHH hai thành viên Sông Bôi Thăng Long có khoảng 150 ha chè. Năm 2017, công ty xuất khẩu sang thị trường Đài Loan, trung bình mỗi năm xuất khoảng 150 tấn chè khô sang thị trường này. Năm 2020, sản phẩm chè Sông Bôi đạt tiêu chuẩn OCOP 4 sao cấp tỉnh.

 Ông Trần Văn Thú, Phó Giám đốc công ty chia sẻ: Sau nhiều năm nghiên cứu, từ năm 2016, công ty lựa chọn giống chè mới LDP1 để trồng và nhân rộng trên địa bàn huyện. Đây là giống chè có ưu điểm nổi trội, phù hợp với đồng đất Lạc Thủy, khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao. Sản phẩm chè của công ty được kiểm soát ATTP trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh, được đóng gói, gắn tem, nhãn để người tiêu dùng nhận diện sản phẩm và truy xuất nguồn gốc.

So với các địa phương khác Lạc Thủy được đánh giá là vùng có điều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp để phát triển cây chè. Do vậy, để phát huy hiệu quả kinh tế của cây chè, công ty tăng cường tuyên truyền cho người dân giữ gìn vệ sinh ATTP trong sản xuất thông qua các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng chè; thiết kế đồi chè chống xói mòn đất, trồng mật độ hợp lý; ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất chè…

Chè là thức uống không thể thiếu trong đời sống hàng ngày và mỗi dịp Tết đến, xuân về. Khách đến chơi nhà mời chén chè. Người pha chè bỏ cả tâm tình vào ấm chè, người thưởng thức trút hết mọi phiền muộn năm cũ, hướng về niềm hy vọng, sự đổi mới qua vị chè thơm ngon.

Thu Thủy

Giá gừng tăng lên 22.000 -25.000 đồng/kg

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Hiện nay, nhiều nông dân trồng gừng trên địa bàn thị xã Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang) rất phấn khởi vì giá tăng cao. Theo đó, thương lái đến tận vườn thu mua gừng với giá từ 22.000-25.000 đồng/kg, tăng 7.000-10.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giá gừng tăng do nhu cầu chế biến bánh, kẹo phục vụ thị trường Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, trong khi nguồn cung khan hiếm, do ảnh hưởng bởi đợt mưa bão kéo dài kết hợp với triều cường dâng cao những tháng trước, khiến nhiều diện tích gừng bị ngập úng và hư hỏng. Theo dự đoán, thời gian tới giá gừng có thể vượt mức 30.000 đồng/kg.

THÚY LOAN

Sản xuất nông nghiệp theo đơn đặt hàng, doanh thu đạt hàng trăm triệu/năm

Nguồn tin:  VOV

Sản xuất nông nghiệp theo đơn đặt hàng tình trạng “được mùa mất giá” từng bước được khắc phục, doanh thu tăng đáng kể, đạt bình quân 255 triệu đồng/ha/năm.

Là địa phương có trên 42% dân cư là người dân tộc thiểu số K’ho, những năm trước, mặc dù xã Phú Hội, huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) đã tiếp cận và ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, nhưng do đầu ra nông sản không ổn định nên đời sống kinh tế của đại bộ phận người dân gặp rất nhiều khó khăn. 3 năm trở lại đây, nhận thấy việc liên kết sản xuất theo chuỗi nâng cao giá trị hàng hóa là xu thế tất yếu, Phú Hội đã nhanh chóng bắt nhịp và vận động người dân tham gia tích cực vào các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản.

Từ đó, tình trạng “được mùa mất giá” từng bước được khắc phục, doanh thu trên cùng đơn vị diện tích đất canh tác tăng lên đáng kể, đạt bình quân 255 triệu đồng/ha/năm, tăng gần gấp đôi so với năm 2018. Đời sống kinh tế khá lên nên bà con nơi đây đang tổ chức đón xuân trong bầu không khí ấm áp, tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.

Khắc phục tình trạng được mùa mất giá

Đến xã Phú Hội, huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) trong ngày đầu xuân, chúng tôi rất ấn tượng bởi những cánh đồng lúa hoang hóa ngày nào đều đã được phủ một màu xanh mơn mởn của rau và khoe sắc của nhiều loài hoa… Điều đó thể hiện đời sống của người dân nơi đây đã thật sự ấm no và phát triển đi lên từng ngày.

K’Hoàng (áo xanh) và vườn cà chua canh tác theo mô hình liên kết sản xuất bền vững.

Tiếp chúng tôi trong căn nhà nhỏ ấm áp nép mình bên khu nhà kính sản xuất cà chua theo hướng công nghệ cao, anh K’Hoàng, người dân tộc thiểu số K’ho ở thôn Phú Bình, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng cho biết, từ ngày tham gia chuỗi liên kết sản xuất với các đối tác ở TP HCM, vấn đề đầu ra sản phẩm nông sản đã không còn là nỗi lo như trước. Vì trồng cà chua theo hướng sạch, sản xuất theo quy trình khép kín và tự động hóa nên mang lại giá trị kinh tế rất cao.

Trong năm qua, bình quân mỗi ngày anh gia đình anh K’Hoàng đều cung ứng cho thị trường trên dưới 150kg cà chua chất lượng cao, với giá bán 30.000 đồng/kg đã mang lại nguồn thu lớn cho gia đình. Theo anh K’Hoàng, cùng với yếu tố năng suất và chất lượng sản phẩm, kết quả này có được chủ yếu nhờ vào việc sản xuất theo đơn đặt hàng.

“Sản xuất theo đơn đặt hàng thì chúng tôi không còn phải lo lắng về tình trạng được mùa mất giá, sự thay đổi giá cả của thị trường nó như thế nào, chỉ cần yên tâm sản xuất, đảm bảo chất lượng để giao sản phẩm cho khách hàng thôi” - anh K’Hoàng nói.

Không riêng anh K’Hoàng chọn lối canh tác theo đơn đặt hàng, tham gia vào các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản đang được nhiều nông dân ở nơi đây coi trọng. Ông Ha Nan Tham My, Chủ tịch Hội nông dân xã Phú Hội, huyện Đức Trọng cho biết, cả xã hiện có trên 780 hộ tham gia vào các mô hình liên kết sản xuất rau, hoa, củ, quả các loại với nhiều công ty, doanh nghiệp và HTX, 87% trong số đó có ký kết hợp đồng sản xuất theo hướng bền vững, chiếm 28% số hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã.

Nhờ thay đổi nhận thức trong định hướng canh tác, chú trọng đến yếu tố thị trường và quy luật cung - cầu, nông sản làm ra đều bán với giá tốt nên đời sống vật chất và tinh thần của người dân đã được nâng lên thấy rõ.

“Từ khi người dân nâng cao nhận thức trong sản xuất, chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, rồi tiếp đó là họ nhận thấy rõ muốn sản xuất bền vững và lâu dài thì cần phải có doanh nghiệp, công ty, phải có tham gia vào các mô hình liên kết sản xuất, chuỗi liên kết sản xuất. Đến nay, tại địa phương đã có rất nhiều hộ dân thực hiện các mô hình liên kết sản xuất này. Đảm bảo đầu ra sản phẩm, ổn định chi phí canh tác và nâng cao được hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp bền vững theo hướng công nghệ cao” - ông Ha Nan Tham My cho biết.

Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao

Sản xuất hàng hóa theo nhu cầu thị trường, đầu ra ổn định đã góp phần đưa giá trị trên cùng đơn vị diện tích đất canh tác của Phú Hội đạt bình quân 255 triệu đồng/ha/năm, tăng 55 triệu đồng/ha/năm so với cùng kỳ năm ngoái.

Ông Nguyễn Công Hinh, Phó chủ tịch UBND xã Phú Hội, huyện Đức Trọng cho biết, giờ đây toàn xã gần như không có lao động nhàn rỗi. Hộ nào cũng tự lực sản xuất, tích cực học hỏi kinh nghiệm trong canh tác để nhằm mang lại hiệu quả sản xuất cao hơn. Không còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại sự đại ngộ của nhà nước như trước nên tỷ lệ hộ nghèo của xã đã giảm rất thấp chỉ còn 0,5%. Kết quả này là cả một quá trình chuyển biến nhận thức quan trọng trong nhân dân, nhất là sự định hướng đúng đắn trong chỉ đạo tổ chức sản xuất của cấp ủy và chính quyền địa phương.

“Qua quá trình liên kết sản xuất thì hiệu quả kinh tế tăng lên rất rõ rệt. Người dân chỉ lo về khâu sản xuất còn giống, khoa học kỹ thuật thì các đơn vị liên kết sẽ hỗ trợ người dân. Đối với đồng bào dân tộc thì đã có một số hộ nổi lên có thu nhập tăng cao gấp rất nhiều lần so với sản xuất theo phương thức truyền thống, trong nhà kính ước đạt lợi nhuận hơn 2 tỷ đồng/ha/năm. Với việc liên kết sản xuất thì phấn đấu của cấp ủy, chính quyền địa phương trong năm 2021 này sẽ đạt trên 40% số hộ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn” - ông Nguyễn Công Hinh nói.

Phú Hội hiện có 6.700ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có trên 2.700ha sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao. Đây là điều kiện quan trọng để Phú Hội tiếp tục mở rộng thêm nhiều mô hình liên kết sản xuất giữa người dân và doanh nghiệp, trở thành hướng đi chủ lực để địa phương này vững bước phát triển đi lên, góp phần hoàn thành đúng mục tiêu là xã nông thôn mới nâng cao vào năm 2022./.

Quang Sáng/VOV-Tây Nguyên

Quảng Trị: Chủ động nguồn gia cầm phục vụ tết Nguyên đán ở Triệu Phong

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Sau các đợt thiên tai trong năm vừa qua, sản xuất, chăn nuôi bị ảnh hưởng nặng nề nhưng với tinh thần quyết tâm vượt khó, người dân trên địa bàn huyện Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị) dần phục hồi các mô hình phát triển kinh tế, đặc biệt là chăn nuôi gà, vịt. Nhờ đó, thời điểm cận tết Nguyên đán Tân Sửu, đàn gia cầm ở địa phương dồi dào, đảm bảo về chất lượng để cung ứng cho thị trường.

Người chăn nuôi ở Triệu Phong tích cực chăm sóc gia cầm để bán ra thị trường - Ảnh: N.T

May mắn hơn người dân ở những địa phương khác, mô hình chăn nuôi gà thả vườn của chị Nguyễn Thị Giang ở thôn Linh An, xã Triệu Trạch thuộc địa bàn vùng cát nên ít chịu tác động của lũ lụt. Nhờ đó, ngay từ giữa tháng 9 âm lịch vừa qua, chị đã bắt đầu ươm 2.500 con gà, trong đó có 1.500 gà đen lai đá Minh Dư và 1.000 con gà ta chân vàng để chuẩn bị phục vụ thị trường Tết. Nhờ có diện tích đất rộng, chị áp dụng hình thức nuôi vừa thả vườn vừa nhốt chuồng nên đàn gà có môi trường sống thuận lợi, phát triển nhanh. Với sự chuẩn bị chu đáo về con giống, chủ động phòng trừ dịch bệnh, lứa gà của chị phát triển rất thuận lợi. Đặc biệt, với ưu điểm của gà ta là thịt chắc, ngon nên sản phẩm của chị đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của thị trường. Do đó, hiện các lứa gà phục vụ thị trường Tết của chị đã được thương lái thu mua gần hết. Thời điểm xuất chuồng, mỗi con gà có trọng lượng bình quân khoảng từ 1,6 - 2,5 kg, giá bán giao động từ 60.000 - 65.000 đồng/kg, ước tính riêng chăn nuôi lứa gà phục vụ Tết, chị có nguồn lãi khoảng 70 triệu đồng. Chị Giang chia sẻ: “Tôi chăn nuôi gà đã nhiều năm nay, riêng lứa gà cuối năm tăng thêm số lượng khoảng từ 400 - 500 con để phục vụ thị trường Tết. Cũng vào thời điểm này, thời tiết mưa rét thất thường, để tránh thiệt hại, tôi che chắn chuồng trại cẩn thận. Do nhu cầu thị trường yêu cầu gà phải chất lượng nên tôi luôn theo dõi sát sao để phòng trừ dịch bệnh kịp thời cho vật nuôi; sử dụng lúa, bắp làm nguồn thức ăn chính cho gà. Nhờ đó, đàn gà của gia đình tôi khỏe mạnh và có hình thức đẹp, bán rất nhanh”.

Xã Triệu Thành là một trong những địa phương chăn nuôi gia cầm lớn của huyện Triệu Phong. Sau thiệt hại nặng nề do lũ lụt, người chăn nuôi ở Triệu Phong nhanh chóng vệ sinh môi trường, khôi phục chuồng trại để gây dựng lại các mô hình phát triển kinh tế. Nhờ đó, hiện nay toàn xã có tổng đàn gia cầm trên 30.000 con, trong đó riêng đàn vịt khoảng 23.000 con, tập trung nhiều nhất ở các thôn Bích Trung Nam, Bích La Đông... Theo những người chăn nuôi ở đây cho biết, để đàn vật nuôi kịp xuất bán trong dịp Tết, ngoài sự chuẩn bị chu đáo về con giống, việc phòng trừ các loại dịch bệnh cũng được chú trọng. Để hỗ trợ người dân phát triển đàn gia cầm thuận lợi, chính quyền địa phương đã chỉ đạo bộ phận thú y thường xuyên kiểm tra công tác đảm bảo an toàn dịch bệnh trên đàn gia cầm. Trong dịp tết Nguyên đán sắp tới, người dân Triệu Thành cung ứng ra thị trường khoảng 6.000 con gia cầm, ước trọng lượng gần 12 tấn gà, vịt thương phẩm. Những lứa gia cầm nuôi cận Tết thường mang lại lợi nhuận cao cho nông dân do nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh, giá bán cũng tăng.

Sau các đợt lũ lụt trong năm 2020, toàn huyện Triệu Phong bị thiệt hại khoảng trên gần 500.000 con gia cầm. Từ nguồn hỗ trợ của trung ương và các tổ chức, đơn vị hảo tâm, người dân trên địa bàn huyện đã tiếp nhận gần 60.000 con giống gia cầm để tái chăn nuôi. Huyện cũng quan tâm đến vấn đề phục hồi chăn nuôi đàn gia cầm bởi có chu kỳ sản xuất ngắn, sau hơn 3 tháng chăn nuôi sẽ có sản phẩm kịp thời cung cấp cho thị trường dịp tết Nguyên đán. Qua đó, giúp người dân tăng thu nhập và tạo sinh kế cho những chu kỳ sau. Nhờ làm tốt công tác vệ sinh chuồng trại, tiêu độc khử trùng, đảm bảo môi trường an toàn sạch bệnh, đàn gia cầm của trên địa bàn huyện phục hồi nhanh chóng với tổng đàn khoảng trên 560.000 con, tăng 22.000 con so với cùng kỳ năm trước. Được biết, nguyên nhân đàn gia cầm tăng là do vào dịp Tết, nhu cầu về thực phẩm cao nên hầu hết các hộ chăn nuôi đón đầu tổ chức tái đàn, tăng đàn. Cùng với đó, do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi nên nhiều hộ chuyển hướng sang phát triển mô hình chăn nuôi khác. Hiện nay, hầu hết đàn gia cầm ở các xã Triệu Trung, Triệu Hòa, Triệu Vân, Triệu Trạch, Triệu Vân…đã xuất bán, mang lại nguồn thu nhập khá cao cho người chăn nuôi.

Trạm trưởng Trạm Chăn nuôi và Thú ý huyện Triệu Phong Trần Thanh Sơn cho biết: “Nhờ làm tốt công tác phòng trừ dịch bệnh nên thời gian qua trên địa bàn huyện không xảy ra các loại dịch bệnh nguy hiểm đến đàn gia cầm. Ngoài việc hỗ trợ cho người chăn nuôi các biện pháp chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh cho đàn gia cầm và các quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, đảm bảo số lượng, chất lượng đàn gia cầm phục vụ nhu cầu thị trường Tết, hiện nay chúng tôi đang tăng cường công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y nhằm đảm bảo nguồn thực phẩm an toàn cho người dân trong dịp tết Nguyên đán sắp tới”.

Ngọc Trang

Sắm tết cho trâu

Nguồn tin: Báo Lào Cai

Nằm ở chân dốc, không biển quảng cáo, không mời chào và chỉ bán một mặt hàng, đó là nét đặc biệt của “phiên chợ” mà những người chăn nuôi tìm đến để “sắm tết” cho trâu. Dù đã là ngày cuối cùng của năm, nhưng phiên chợ cỏ vẫn nhộn nhịp bởi ai cũng muốn sắm cho “đầu cơ nghiệp” của gia đình mình được tươm tất trong Tết này.

Trần gian có một thứ nghề

Có cầu ắt sẽ có cung, người chăn nuôi cần cỏ cho gia súc, tất sẽ có người bán cỏ. Chính cung và cầu ấy đã tạo nên một thứ nghề, đó là nghề lấy và bán cỏ. Anh Nguyễn Xuân Giang, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bắc Hà cho hay: Vào mùa đông, do thời tiết ở vùng cao Bắc Hà khắc nghiệt, rét đậm, rét hại dẫn đến cỏ bị chết. Lo đàn đại gia súc chết đói, nhiều hộ đã xuôi về vùng thấp, thậm chí sang cả các huyện lân cận để lấy cỏ. Không chỉ tìm đủ cỏ cho đàn gia súc của gia đình, họ còn lấy thừa để bán cho những hộ chăn nuôi có nhu cầu. Từ đó, nghề lấy và bán cỏ được hình thành, không chỉ mang lại thu nhập cho nhiều hộ, mà còn góp thêm nét văn hóa rất riêng và độc đáo chỉ có ở mảnh đất này.

Dù không nhớ chính xác nghề lấy và bán cỏ có từ bao giờ, nhưng anh Giang có thể kể từng “làng nghề” trên địa bàn, như Chỉu Cái (xã Na Hối), Cồ Dề Chải (xã Nậm Mòn), Sán Sả Hồ (xã Thải Giàng Phố). Từ gợi mở của anh Giang, tôi có cơ hội được gặp một số người có thâm niên trong nghề lấy và bán cỏ. Bà Vàng Sì Sỉu, dân tộc Phù Lá ở thôn Cồ Dề Chải (xã Nậm Mòn) năm nay 60 tuổi, nhưng có đến 22 năm làm nghề lấy và bán cỏ. Khi nhắc đến thứ nghề chỉ có một ở trần gian, bà Sỉu cười, đồng thời xòe đôi tay thô ráp và nói: “Những vết sẹo chi chít, ngang dọc hai lòng bàn tay do gai, cỏ sắc cứa đứt tạo thành. Mỗi mùa cỏ đi qua, hai lòng bàn tay của tôi thêm nhiều vết sẹo”.

Chỉ tay về phía đỉnh núi sau nhà, bà Sỉu kể: Ngày trước, làng người Phù Lá ở tít trên cao ấy. Đường dốc lắm, không có phương tiện nào khác ngoài đi bộ. Vào mùa đông, trong cái rét cắt da cắt thịt, tôi và một số người trong làng đã dậy từ 4 giờ sáng, nhóm bếp, đồ chín ngô xay để mang đi. Đến 6 giờ, khi sương mù vẫn che kín lối đi, những đôi chân trần bắt đầu xuống núi với hành trang là chiếc liềm cắt cỏ và mèn mén để ăn trưa. Bà Sỉu và một số người cứ lầm lũi đi xuống suối Trung Đô cách nhà vài cây số và men dọc con nước, bởi đó là khu vực có nhiều cỏ. Nói là nhiều cỏ, nhưng chúng không mọc tập trung mà lẫn trong nhiều cây bụi nên phải kiên nhẫn và khéo léo cắt từng cây. Dù có kinh nghiệm, nhưng bà vẫn bị gai cào, cỏ cứa, trời rét buốt càng khiến vết cào thêm đau xót.

Buổi trưa, tranh thủ ăn mèn mén cho tạm quên cái đói, nghỉ vài phút là bà Sỉu và mọi người tỏa đi tìm cỏ. Đến khoảng 4 giờ chiều, mọi người tập kết lại điểm đã hẹn, cùng bó cỏ rồi địu về. Quãng đường về nhà vài cây số thực sự là thử thách, bởi họ mang theo sau bó cỏ nặng 30 - 40 kg, trong khi đường dốc đứng, phải nghỉ không biết bao nhiều lần mới về đến nhà. “Mang được cỏ về nhà dù vất vả nhưng cũng mừng, bởi có ngày chỉ lấy được vài kg cỏ do nhiều người từ nơi khác đến lấy trước”, bà Sỉu tâm sự.

Lấy được cỏ hôm trước, sáng hôm sau, bà Sỉu chất cỏ lên lưng ngựa, người đi trước, ngựa đi sau, vượt quãng đường hơn 10 cây số lên chợ huyện. Bán hết số cỏ lấy được, bà Sỉu có 30.000 - 40.000 đồng, số tiền ấy bà mua muối, mắm phục vụ sinh hoạt của gia đình. Ròng rã từ năm 1998, bàn tay bao nhiêu vết sẹo do gai cào, cỏ cứa là bấy nhiêu thời gian bà Sỉu gắn bó với nghề lấy và bán cỏ. Dù vất vả, nhưng bà Sỉu và những người phụ nữ Phù Lá ở thôn Cồ Dề Chải vẫn hạnh phúc, vì nghề này giúp họ có thêm thu nhập lúc nông nhàn.

“Vào nghề” mấy năm gần đây, Ma Seo Sử ở thôn Sán Sả Hồ (xã Thải Giàng Phố) ngày càng yêu thích nghề lấy và bán cỏ chợ tết. Anh Sử chia sẻ: Làm nghề này tuy vất vả, nhưng mình có sức khỏe, lại không phải đầu tư nhiều nên tranh thủ làm để có tiền sắm tết.

Nắm được nhu cầu của người chăn nuôi, từ 25 tháng Chạp, thời điểm khan hiếm cỏ, anh Sử cùng vợ, nay leo đồi này, mai trèo đồi khác để cắt cỏ. Nhờ trẻ, khỏe và khu vực lấy cỏ không có nhiều người biết nên một ngày anh lấy được hơn 100 kg cỏ. “Cái khó nhất là phải lấy được cỏ non, giữ cho cỏ tươi, không bị dập nát, vì thế mình phải chọn kỹ trước khi cắt, bó cỏ và vận chuyển cẩn thận”, anh Sử bộc bạch.

Mỗi phiên chợ cỏ, anh Sử bỏ túi hơn trăm nghìn đồng. Với anh, đó là nguồn thu quan trọng trong những ngày đông giá rét.

Image result for Hình ảnh chợ trâu vùng cao

Chợ trâu vùng cao.

“Sắm tết” cho trâu

Bà Vàng Sì Sỉu ở thôn Cồ Dề Chải (xã Nậm Mòn) đã có 22 năm bán cỏ tại phiên chợ cỏ tết. Theo lời bà Sỉu, từ ngày 25 tháng Chạp, chợ cỏ bắt đầu họp và đông nhất vào ngày 29 - 30 Tết. Chợ họp ngay dưới chân dốc tuyến đường từ thị trấn Bắc Hà đi xã Na Hối. Anh Sền Văn Dũng, thôn Na Áng B (xã Na Hối) cho biết: Theo phong tục của địa phương, trong 3 ngày tết Nguyên đán, các vật dụng sinh hoạt hằng ngày sẽ được “nghỉ”, đặc biệt không được sử dụng dao, do vậy không thể đi cắt cỏ, thái cỏ cho gia súc, vì thế, nhà nào cũng phải “sắm” nhiều cỏ, đủ cho trâu ăn trong 3 ngày Tết.

Với người vùng cao Bắc Hà, dù cuộc sống có nhiều thay đổi, nhưng con trâu vẫn là đầu cơ nghiệp. Anh Vàng Văn Chanh ở thôn Na Áng B (xã Na Hối) cho biết: Gia đình tôi lo “sắm tết” cho trâu còn hơn lo tết cho chính mình, bởi toàn bộ tài sản đều ở đàn trâu. Cho nên, muốn đi chơi tết thì phải lo đủ cỏ và thức ăn cho trâu.

Đến ngày 29 - 30 Tết, anh Dũng, anh Chanh và hàng trăm hộ nuôi trâu vỗ béo ở các xã Na Hối, Tà Chải, Bản Phố đều vội vã có mặt tại chợ cỏ tết từ rất sớm. Anh Dũng tâm sự: Có lần, 8 giờ có mặt tại chợ cỏ tết, những tưởng mình đi sớm nhưng ra đến nơi không còn cỏ, đành phải đi xe ra tận Thái Niên (Bảo Thắng) lấy cỏ cho trâu. Rút kinh nghiệm, vài năm gần đây, mình “thường trực” tại chợ, có xe cỏ đến là mua luôn. Có cỏ mua đã khó, nhưng để chọn được cỏ ưng ý càng khó hơn và không phải ai cũng biết. Thông thường có 2 loại cỏ được bán tại chợ, đó là cỏ chít, cỏ lông, ngoài ra còn có ngọn mía, tuy nhiên nhiều nhất là cỏ lông do loại cỏ này dễ tìm và dễ lấy. Do mua cỏ để tích trữ trong 3 ngày Tết nên người mua phải “tinh mắt”. Không lấy cỏ quá non vì để lâu dễ bị úa; cũng không lấy cỏ quá già vì sẽ bị khô, cứng, trâu sẽ không ăn, tốt nhất là lấy cỏ bánh tẻ.

Điều thú vị và nhân văn ở phiên chợ cỏ tết đó chính là không có tranh giành, chen lấn giữa những người đi “sắm tết” cho trâu. Người nào đến trước thì mua trước, thậm chí người mua được nhiều cỏ còn san sẻ cho những người không mua được. “Có ngày, mình may mắn mua được vài tạ cỏ, nhưng sẵn sàng chia sẻ với những người không mua được, bởi đều là người chăn nuôi và hiểu ai cũng rất cần cỏ cho gia súc trong những ngày này”, anh Dũng cho biết.

Giá cỏ biến động theo thị trường, bình thường từ 40.000 đến 50.000 đồng/bó, lúc khan hiếm lên tới 70.000 - 80.000 đồng/bó, nhưng người mua cũng không bao giờ mặc cả bởi họ đều mong muốn “sắm tết” đủ đầy cho đầu cơ nghiệp.

Sau rằm tháng Giêng, đến phiên chợ xuân đầu tiên của năm mới, những chú trâu được “ăn tết” no đủ, béo núc được người chăn nuôi mang ra bán với giá hàng chục triệu đồng. Với họ, đó là thành quả xứng đáng của sự nỗ lực chăm sóc, “lo tết” từ thức ăn đến giữ ấm cho trâu. Đây cũng là lộc xuân dành cho người chăn nuôi ở vùng cao Bắc Hà.

Thanh Nam

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-28) 37445447-(84-28) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop