Tin nông nghiệp ngày 10 tháng 7 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 10 tháng 7 năm 2019

Khám phá 'thủ phủ' chuối Mật mốc miền Trung

Nguồn tin: Nông nghiệp VN

Với tổng diện tích lên đến 1.800ha, từ lâu huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị được mệnh danh là “thủ phủ” của cây chuối Mật mốc miền Trung đầy nắng gió.

Sản phẩm chuối quả ở đây chủ yếu xuất đi các thị trường Trung Quốc, Lào, Thái Lan… và một phần tiêu thụ nội địa.

Một người dân thu hoạch chuối từ rẫy.

Theo các bậc cao niên, trước đây cây chuối Mật mốc ở huyện Hướng Hóa chủ yếu được trồng trong vườn nhà manh mún, nhỏ lẻ, chuối sau thu hoạch có giá trị thấp, thường dùng thờ cúng hoặc làm thực phẩm phụ hàng ngày. Khoảng 10 năm lại đây, khi thị trường chuối Mật mốc được mở rộng, rồi xuất khẩu đi Trung Quốc, Lào, Thái Lan… thì quả chuối Mật mốc Hướng Hóa đã trở thành thương hiệu nổi tiếng, có thế sánh ngang với bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), cam Xã Đoài (Nghệ An), Thanh Long (Bình Thuận)…

“Sở dĩ chuối Mật mốc Hướng Hóa được người tiêu dùng trong, ngoài nước ưa chuộng bởi ngoài hình thức trái to, đều, màu sắc đẹp do đặc thù của khí hậu khô nóng nơi vùng biên giới Việt - Lào, thì điều đặc biệt hơn cả chính là vì phương thức canh tác thuận theo tự nhiên, không sử dụng thuốc BVTV khiến sản phẩm chuối được ưa thích”, nông dân Võ Hoành, thôn Long Giang, xã Tân Long, khẳng định.

Những người phụ nữ dân tộc Vân Kiều, Pa Kô gánh chuối từ rẫy ra chợ bán.

Hiện nay, diện tích chuối Mật mốc của huyện tập trung tại các xã dọc tuyến Lìa, là địa bàn sinh sống lâu đời của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô bản địa và một số xã dọc đường 9 như Tân Long, Tân Thành... Nhờ tập trung phát triển kinh tế bằng cây chuối Mật mốc, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây đã có những đổi thay đáng kể.

Ông Pả Hiền, trú bản Xi Núc, xã Tân Long, cho biết: “Trồng chuối cho năng suất khoảng 15 tấn/ha, với giá dao động từ 6.000 - 8.000 đồng/kg, có thời điểm lên đến 10.000 đồng/kg, mỗi ha chuối thu nhập hơn 100 triệu đồng/năm, cao hơn nhiều so với các loại cây trồng khác. Ngoài ra lá, thân chuối tận dụng để gói bánh hoặc làm thức ăn chăn nuôi”.

Góp phần đưa sản phẩm chuối Mật mốc đến với các thị trường tiêu thụ trong, ngoài nước, phải kể đến lực lượng tiểu thương đông đảo của địa phương. Với gần 100 đại lý thu gom chuối xuất khẩu rải đều các tuyến đường chính như đường Lìa, QL9 và khu vực ngã chợ Tân Long, người dân trồng chuối huyện Hướng Hóa có thể yên tâm với đầu ra sản phẩm.

Chợ chuối Tân Long luôn tấp nập từ sáng đến chiều tối.

Chị Lê Thị Kiều, một tiểu thương có gần 10 năm gắn bó với nghề thu mua chuối xuất khẩu ở khu vực ngã 3 chợ Tân Long cho hay, hiện nay mỗi ngày khoảng 10 chuyến xe thu gom gần 100 tấn chuối đưa đi tiêu thụ. Để tiện lợi cho người dân trong việc bán sản phẩm, nhiều tiểu thương đã mở các điểm thu mua chuối về tận các bản làng xa xôi nên nông dân bớt được chi phí vận chuyển mà lại bán được giá cao.

Những năm gần đây, với mong muốn giúp nông dân phát triển bền vững cây chuối Mật mốc, địa phương cũng đã có những chủ trương, chính sách hợp lý nhằm giúp người dân yên tâm SX. Ông Trương Đình Tùng, Chủ tịch UBND xã Tân Long, địa phương có diện tích trồng chuối lớn nhất huyện Hướng Hóa với gần 1.000ha cho biết, chuối Mật mốc là cây trồng chủ lực trên địa bàn. Toàn xã có gần 200 hộ gia đình trồng chuối với thu nhập trên 100 - 500 triệu đồng/hộ/năm.

Bên cạnh duy trì hình thức nông dân bán trực tiếp cho tiểu thương, thời gian tới, xã có chủ trương liên kết với các DN, hợp tác nhằm tìm đầu ra ổn định cho cây trồng chủ lực này. Đồng thời khuyến khích người dân áp dụng KHKT trong SX nhằm nâng cao chất lượng, giá trị cho thương hiệu chuối Mật mốc Hướng Hóa.

Chuối được bốc lên các xe tải.

Một tín hiệu vui đối nữa đối chính quyền và người dân địa phương khi tháng 8/2018, Hội Nông dân huyện Hướng Hóa đã được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH-CN cấp Giấy chứng nhận Nhãn hiệu tập thể số 299267 cho sản phẩm “chuối Mật mốc Hướng Hóa”.

Ông Lê Quang Thuận, Phó Chủ tịch UBND huyện Hướng Hóa, cho biết thêm, chuối Mật mốc dễ trồng, rất phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán SX của người dân địa phương. Thời gian qua, cây chuối mang lại thu nhập cao và ổn định. Nhiều hộ dân đã mạnh dạn chuyển đổi đất bạc màu, kém hiệu quả sang trồng chuối, đặc biệt hình thức hợp tác thuê đất bên Lào mở rộng diện tích SX chuối đang hiệu quả.

“Thời gian tới, ngoài việc quy hoạch diện tích vùng trồng chuối ổn định, chính quyền xã, huyện sẽ tích cực phối hợp với các Sở, ban, ngành của tỉnh tập trung mọi nguồn lực xây dựng thương hiệu “chuối Mật mốc Hướng Hóa” thành thương hiệu mạnh của địa phương, từng bước nâng cao hơn nữa giá trị cho cây trồng chủ lực này”, ông Thuận nói.

CÔNG ĐIỀN

Thương hiệu nhãn Sơn La: Thành công vì chủ động, bài bản

Nguồn tin: Báo Công Thương

Trong tháng 7 - 8/2019, tỉnh Sơn La sẽ tổ chức một loạt các sự kiện xúc tiến tiêu thụ trái nhãn an toàn đến với những địa phương lân cận, đặc biệt là Hà Nội. Sau nhiều năm quảng bá đến người tiêu dùng Thủ đô, trái nhãn Sơn La đã trở thành một trong những sản phẩm địa phương được ưa chuộng.

Trái nhãn Sơn La được chú trọng nâng cao năng suất, chất lượng

Từ một loại nông sản thường xuyên rơi vào tình trạng "được mùa, mất giá", những năm gần đây, việc trồng nhãn đã được tỉnh chú trọng nhằm nâng cao năng suất, bảo đảm sản phẩm chất lượng và an toàn, phục vụ tiêu dùng trong nước cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện để xuất khẩu. Cụ thể, Sơn La đã ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất như: Sử dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước theo công nghệ Israel, sử dụng chế phẩm sinh học, áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quy trình sản xuất an toàn VietGAP... Niên vụ 2019, sản lượng nhãn của tỉnh khoảng 73.000 tấn với diện tích đạt 15.090ha; diện tích được cấp chứng nhận VietGAP là 232,01ha, toàn tỉnh có 16 chuỗi cung ứng nhãn an toàn.

Với mục tiêu đồng hành cùng người nông dân, các cơ quan, ban, ngành tỉnh Sơn La đã triển khai khá nhiều hoạt động nhằm nâng cao giá trị kinh tế của cây nhãn trên cơ sở bảo đảm tốt đầu ra cho sản phẩm. Cùng với việc lập kế hoạch, quy hoạch phát triển cây nhãn, hàng năm, Sơn La đã chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức các sự kiện xúc tiến tiêu thụ nông sản nói chung và trái nhãn nói riêng.

Năm 2019, nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp, hợp tác xã kết nối tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm nhãn và những mặt hàng nông sản an toàn của tỉnh tại thị trường Hà Nội, các tỉnh trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu, hàng loạt sự kiện xúc tiến tiêu thụ sản phẩm nhãn Sơn La sẽ được địa phương tổ chức trong tháng 7 - 8. Cụ thể, tổ chức khu trưng bày, giới thiệu sản phẩm nông sản an toàn và xuất khẩu tại Lễ khai trương cặp cửa khẩu phụ Nậm Lạnh (huyện Sốp Cộp, Sơn La); tổ chức Tuần lễ Nhãn và nông sản an toàn tỉnh Sơn La năm 2019 tại siêu thị Big C Thăng Long, Hapromart và Lotte Mart; tổ chức Ngày hội Nhãn sông Mã và Lễ công bố xuất khẩu nhãn năm 2019 tại huyện Sông Mã...

Đã nhiều năm tổ chức các sự kiện quảng bá nhãn và nông sản an toàn Sơn La tại chuỗi phân phối của Hà Nội, nhãn Sơn La đã trở thành một trong những đặc sản địa phương được ưa chuộng. Bà Trần Thị Phương Lan - Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội - đánh giá, những năm gần đây, tỉnh rất quan tâm đến việc sản xuất các sản phẩm an toàn, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hỗ trợ bà con nông dân tiêu thụ sản phẩm của địa phương trên thị trường nội địa và xuất khẩu. Hà Nội - với sức mua hơn 10 triệu dân và hệ thống thương mại, bán lẻ hiện đại - rất mong muốn được đón nhận các sản phẩm an toàn của tỉnh Sơn La để đưa vào phục vụ nhu cầu tiêu dùng của bà con nhân dân trên địa bàn Thủ đô.

Đánh giá cao sự vào cuộc của tỉnh Sơn La để có các vùng trồng an toàn, nhiều nông sản an toàn, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường trong nước và xuất khẩu, bà Trần Thị Phương Lan cho hay, Sở Công Thương Hà Nội sẽ luôn đồng hành với các sở, ban, ngành của Sơn La để có sự gắn kết, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất đưa hàng vào các kênh phân phối trên toàn địa bàn thành phố.

Mục tiêu của các chương trình xúc tiến thương mại nhãn và nông sản an toàn Sơn La năm 2019 là quảng bá và tiêu thụ sản phẩm, gắn với quảng bá xúc tiến du lịch, giới thiệu thành tựu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La; mời gọi các doanh nghiệp, nhà đầu tư tham gia đầu tư sản xuất, chế biến, xuất khẩu nông sản…

Bảo Ngọc

Cao Xá (Lâm Thao, Phú Thọ): Hiệu quả từ mô hình trồng ổi

Nguồn tin: Báo Phú Thọ

 

Những trái ổi được anh Điền bọc xốp và nilong tránh sâu bệnh

Thực hiện chuyển đổi diện tích đất kém hiệu quả sang trồng các loại cây ăn quả, hoa màu, cho thu nhập cao đang là hướng đi tích cực được nhiều địa phương áp dụng. Điển hình như mô hình trồng ổi ở xã Cao Xá, huyện Lâm Thao.

Trước đây, những vùng đất cao, hạn, khó lấy nước trên địa bàn xã Cao Xá thường bị bỏ hoang, không sử dụng. Đến năm 2010, sau một lần về thăm quan mô hình trồng ổi ở Hưng Yên, anh Nguyễn Sỹ Điền, khu Hậu Cường, xã Cao Xá đã là người đầu tiên mạnh dạn đưa cây ổi về trồng trên chính mảnh đất quê hương mình. Lúc đầu anh Điền trồng thử 250 gốc ổi, thấy ổi nhanh lớn, sau 1 năm đã cho thu hoạch, đến nay gia đình anh đã có hơn 700 gốc ổi, đem lại thu nhập hơn 100 triệu đồng mỗi năm. Anh Điền chia sẻ: “Theo kinh nghiệm, muốn ổi đạt chất lượng cao, quả to thì phải chăm bón từ lúc mới ra hoa, thường xuyên vun gốc và xới tơi đất để rễ cây ổi phát triển, đồng thời thường xuyên cắt tỉa những cành đã từng ra quả, giúp cây ra mầm mới và ra quả mới sẽ to và chất lượng hơn. Khi hoa đậu quả được 1 tháng thì dùng túi xốp bọc bên trong quả và túi nilon bọc bên ngoài để hạn chế sâu bệnh, khoảng 25 đến 50 ngày sau thì có thể thu hoạch được, giá ổi bán ra thường được từ 15- 20 nghìn đồng/kg”.

Ổi lai lê Đài Loan đang là giống ổi hình thức đẹp, giòn, ngọt và ít hạt đang được khách hàng ưa chuộng

Gia đình ông Quách Văn Thuận ở khu Dương Khê Đông cũng là hộ chuyển đổi đất không hiệu quả sang trồng ổi từ năm 2014, với diện tích hơn 1 mẫu ruộng ông trồng hơn 600 gốc ổi, chủ yếu là giống ổi lai lê Đài Loan đem lại nguồn thu nhập chính cho gia đình. Ông Thuận chia sẻ: “Giống ổi lai lê Đài Loan là giống ổi mới, dễ trồng, tốn ít phân bón, công chăm sóc, chi phí đầu tư thấp, lợi nhuận kinh tế đem lai cao, cây tự ra hoa đậu trái cho thu hoạch quanh năm và có thể trồng bất cứ thời gian nào trong năm. Mỗi giống ổi đều có vị ngon khác nhau, nhưng ổi lai lê Đài Loan là giống đang được khách hàng ưa chuộng nhất với đặc tính quả to, mền, giòn, ngọt dễ tiêu thụ”.

Hiện nay trên địa bàn xã Cao Xá có trên 20 hộ tham gia mô hình trồng ổi. Các giống ổi được trồng chủ yếu là ổi lai lê Đài Loan, ổi Đông Dư và ổi Bo. Ổi là giống cây ăn quả dễ trồng, ít công chăm sóc, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của địa phương lại cho năng suất cao, ổi trồng được khoảng 1 năm thì bắt đầu cho thu hoạch, trái ngon, ngọt, cùi giòn, giá cả ổn định. Ông Hoàng Ngọc Tín – Trạm trưởng trạm khuyến nông xã cho biết: Hiện nay trên địa bàn xã diện tích đất xấu, không đem lại hiệu quả kinh tế còn khá lớn, nên nhiều hộ đã chuyển đổi cải tạo đất xấu sang trồng chuyên canh giống ổi này. Tăng cường tuyên truyền giúp nông dân đẩy mạnh cải tạo đất kém hiệu quả, tìm hiểu một số giống cây trồng mới phù hợp như cây ổi, chanh, quất, các giống dưa... đem lại hiệu quả kinh tế cao.Thời gian tới, trạm khuyến nông cũng đang đề xuất thành lập các tổ hợp tác chuyên canh cây trồng, giới thiệu đầu ra, xây dựng thương hiệu sản phẩm giúp phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho người dân địa phương”.

Mộc Lâm

TP Hồ Chí Minh: 46,8% diện tích gieo trồng rau đạt VietGAP

Nguồn tin: Sài Gòn Giải Phóng

Theo UBND TPHCM, đến nay đã có 1.240 tổ chức, cá nhân sản xuất rau quả trên địa bàn TP được chứng nhận VietGAP với tổng diện tích canh tác 1.438ha (chiếm 46,8% diện tích trồng rau trên địa bàn thành phố), sản lượng dự kiến trên 147.700 tấn/năm.

Ngoài ra, việc triển khai dán tem truy xuất nguồn gốc rau củ quả VietGAP tại 7 hợp tác xã và 1 tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp với sản lượng rau được dán tem khoảng 15,3 tấn/ngày.

TPHCM hiện có 3.517ha trồng rau, trong đó diện tích rau ứng dụng công nghệ cao là 43,9ha; tập trung huyện Củ Chi 2.004ha, huyện Bình Chánh 639ha, huyện Hóc Môn 430ha, các địa phương còn lại là 444ha.

Nắng nóng kéo dài đã gây khó khăn cho nhiều hộ nông dân trong việc canh tác trên các thửa ruộng, giá trị sản xuất các loại rau, củ, quả cũng bị ảnh hưởng... Để khắc phục khó khăn trước nắng nóng gay gắt, nhiều nông hộ đã đầu tư xây dựng nhà lưới sản xuất rau an toàn, nhờ đó, năng suất cây trồng trên diện tích canh tác được nâng lên, hiệu quả cao.

Nông dân thôn Hậu Lộc, xã Vĩnh Ninh (Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) xây dựng hệ thống nhà lưới giúp hạn chế tác động của thời tiết, ngăn ngừa các loại côn trùng phá hoại rau màu. Ảnh Nguyễn Lượng

Trong những ngày nắng nóng cao điểm, có lúc nhiệt độ ngoài trời lên tới hơn 40 độ C, phóng viên có mặt tại xã Tân Tiến - một trong những địa phương có diện tích canh tác rau màu lớn của huyện Vĩnh Tường.

Ngay từ tờ mờ sáng, ông Lê Văn Thư, thôn Xóm Nội đã hối hả ra đồng tranh thủ chăm sóc rau màu. Hiện, gia đình ông đang canh tác 4 sào rau, chủ yếu trồng mướp và cải Hồng Kông. Theo chia sẻ của ông Thư, với thời tiết nắng nóng kéo dài, vụ này, đối với cải Hồng Kông, gia đình ông chỉ thu được sản lượng 8 tạ/sào, bằng một nửa so với sản lượng mọi năm. Công sức chăm sóc cây trồng vụ này vất vả hơn, do nắng gắt, nhiệt độ lên rất cao, các loại cây khó đậu quả, dễ xém lá... ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển. Trong khi đối với vụ Xuân hay vụ Đông, có khi 2 ngày mới phải tưới nước cho rau một lần, với vụ này, 1 ngày nắng nóng mà quên tưới nước hoặc lơ là một chút là coi như hỏng cả vườn.

Không chỉ nhà ông Thư mà hầu như cả xóm, vào những hôm thời tiết nắng nóng, các hộ trồng rau đều phải tranh thủ sáng sớm và chiều muộn, thậm chí cả buổi tối để tưới nước, bón phân cho cây. Nhiều hộ có diện tích gieo trồng lớn phải đào thêm rãnh dẫn nước trong vườn để đảm bảo độ ẩm cho đất; lấy rơm rạ ủ gốc cây để giữ ẩm. Đối với những hộ trồng và sản xuất cây giống, phía trên diện tích gieo trồng phải căng lưới dày, tránh cho cây giống bị ảnh hưởng bởi ánh nắng gay gắt.

Trái ngược với hoàn cảnh của ông Thư, gia đình ông Nguyễn Văn Kiên, ở xã Bình Dương (Vĩnh Tường) đầu tư xây dựng 500m2 nhà lưới sản xuất rau an toàn quanh năm, vụ nào, sản lượng thu hoạch của gia đình ông cũng cao và có tính ổn định. Ông Kiên cho biết: “Hệ thống nhà lưới của gia đình được thiết kế đơn giản, gồm phần khung, cột và phần lưới phủ kín xung quanh diện tích gieo trồng, giúp hạn chế tác động của thời tiết, ngăn ngừa các loại côn trùng phá hoại rau màu. Trải qua những đợt nắng nóng cao điểm như thời gian qua, 500m2 nhà lưới trồng rau màu của gia đình tôi hầu như không bị ảnh hưởng, sản lượng thu hoạch vẫn đều, cho thu nhập trung bình gần 20 triệu đồng/vụ”.

Theo thống kê cho thấy, đối với các HTX, công ty sản xuất, phân phối nông sản sạch theo chuỗi giá trị được đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất trên địa bàn tỉnh như: HTX Dịch vụ Nông nghiệp và Kinh doanh hàng nông sản An Hòa, mặc dù thời tiết nắng nóng, song vụ hè thu, sản lượng thu hoạch rau màu của HTX vẫn đạt 40 tấn/tháng, phân phối cho hệ thống Siêu thị Big C và thành phố Hà Nội; HTX Rau an toàn Thanh Hà, sản lượng tiêu thụ 55 tấn/tháng, sản phẩm chủ yếu gồm: su su lấy ngọn, rau cải các loại; thị trường tiêu thụ cho hệ thống các siêu thị và xuất sang Trung Quốc; HTX Rau an toàn Vĩnh Phúc, sản lượng tiêu thụ 50 tấn/tháng, sản phẩm chủ yếu gồm: Su su lấy quả, mướp, rau ăn lá các loại, cung cấp nông sản cho VinEco, bán lẻ trong tỉnh và thành phố Hà Nội; Công ty cổ phần Nông lâm nghiệp & MT Vĩnh Hưng, sản lượng tiêu thụ đạt 30 tấn/tháng; sản phẩm chủ yếu gồm: rau ăn lá các loại, cà chua, bí đỏ, khoai tây…cung cấp cho VinEco, bếp ăn trường học, bếp ăn khu công nghiệp, bán lẻ trong tỉnh và thành phố Hà Nội…

Có thể thấy, việc đầu tư đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất trong sản xuất rau an toàn đã giúp nông dân hạn chế tối đa ảnh hưởng của thời tiết, tăng giá trị sản xuất trên diện tích canh tác theo hướng ổn định. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, diện tích canh tác các loại rau, củ, quả trên địa bàn tỉnh phần lớn vẫn manh mún, nhỏ lẻ, trong khi đó, theo dự báo của Đài Khí tượng Thủy văn, nắng nóng gay gắt sẽ còn tiếp tục kéo dài trong thời gian tới, vì vậy, thay vì phải tiếp tục “căng mình” chăm sóc rau màu, thì người nông dân hãy mạnh dạn đầu tư xây dựng hệ thống nhà lưới và tham gia vào việc sản xuất, phân phối sản phẩm sạch theo chuỗi, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp.

Hoàng Sơn

ĐBSCL: Giá ớt lên tới 120.000 đồng/kg

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Nông dân trồng ớt ở ĐBSCL rất phấn khởi vì trúng mùa được giá. Hiện ớt được thu mua với giá khoảng 120.000 đồng/kg.

Giá ớt lên cao, nông dân phấn khởi.

Không chỉ giá ớt tăng cao mà năng suất ớt của nông dân miền Tây cũng tăng, ước đạt khoảng 10 tấn/ha. Nhà nông Tống Văn Long ở ấp Bình Long (xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang) phấn khởi nói: Vụ này tôi trồng 4 công đất ớt giống Sen Hồng 084. Cây đang cho thu hoạch, trái thẳng, đẹp. Thương lái rất thích. Với giá này ông Long tự tin bỏ túi khoảng 300 triệu đồng.

Từ giữa tháng 6 đến nay, giá ớt được các thương lái thu mua với mức giá cao. Tùy thời điểm mà giá biến động từ 50.000 - 120.000 đồng/kg, tăng gấp đôi so cùng kỳ năm 2018.

Hiện ĐBSCL có khoảng 3.000 ha trồng ớt tập trung nhiều nhất tại các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long…

MINH ĐẢM

Mô hình lúa-tôm đối diện với nhiều thách thức

Nguồn tin: Báo Cần Thơ

Mô hình luân canh lúa - tôm phát triển mạnh tại Cà Mau đã và đang chứng minh được hiệu quả kinh tế khi cho thu nhập cao gấp nhiều lần so với mô hình trước chuyển đổi. Đặc biệt, trong điều kiện biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn ngày càng nghiêm trọng, mô hình này được xem là giải pháp của nông dân để đảm bảo phát triển bền vững. Tuy nhiên, mô hình đang phải đối diện với nhiều thách thức.

Chuyển đổi hiệu quả

Huyện Thới Bình đang là “thủ phủ” của mô hình lúa - tôm tại Cà Mau với diện tích khoảng 20.000ha. Ít người biết rằng trước đây, cây mía và cây lúa mới là cây trồng chủ lực ở Thới Bình. Trước năm 2000, Thới Bình có khoảng 7.000ha đất trồng mía tập trung tại các xã Trí Phải, Trí Lực, Tân Bằng, Biển Bạch... nhưng thời gian dài giá mía bấp bênh làm người trồng mía nhiều phen khốn đốn. Những năm qua, ngày càng nhiều người dân địa phương “bí quá hóa liều” đã đưa nước mặn vào để làm mô hình lúa - tôm.

Mô hình lúa tôm đang đối diện thách thức.

Gia đình ông Nguyễn Văn Tài (ở xã Trí Lực, huyện Thới Bình) đã có 30 năm gắn bó với cây mía nhưng vào năm 2016, ông quyết định chuyển qua làm lúa - tôm. Ông Tài cho biết, trước khi ông thực hiện mô hình này, đã có một số hộ “lớn gan” chuyển đổi trước. Bình quân mỗi năm họ “bỏ túi” 60-70 triệu đồng/ha. Nhìn bà con nuôi tôm lời thấy ham, vậy là ông Tài cũng “xé rào” đưa nước mặn vào 3ha đất của gia đình làm theo. “Năm nào cây mía trúng mùa, được giá chúng tôi mới mong đủ ăn, còn luân canh lúa - tôm, tới con nước là bỏ túi tiền triệu” - ông Tài chia sẻ.

Số liệu so sánh hiệu quả các mô hình của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thới Bình cho thấy, mô hình lúa - tôm cho lợi nhuận 50-60 triệu đồng/ha/năm; mô hình chuyên canh lúa đạt 20 triệu đồng/ha/năm và cây mía đứng cuối bảng khi chỉ đạt khoảng 18 triệu đồng/ha/năm. Vậy là diện tích mía của huyện Thới Bình dần bị thu hẹp. Năm 2017, Thới Bình chỉ còn khoảng 700ha mìa và đến nay gần như bị xóa sổ. Tuy nhiên, sau thời gian dài chuyển qua canh tác theo hình thức lúa - tôm, người dân địa phương đã dần thấy được thách thức đang còn phía trước.

Nhiều thách thức

Theo người dân địa phương, để mô hình lúa - tôm phát huy hiệu quả, điều kiện tiên quyết là phải làm được vụ lúa. Cây lúa không chỉ cho thu nhập mà còn giúp cải tạo môi trường, tạo ra nguồn thức ăn giúp tôm nuôi phát triển. Muốn trồng được vụ lúa phải phụ thuộc vào lượng mưa nên không phải năm nào cũng làm được. Mùa hạn mặn lịch sử năm 2015-2016 là một “thử thách” thật sự với mô hình lúa - tôm tại Thới Bình. Xã Tân Bằng có khoảng 3.400ha áp dụng mô hình lúa - tôm thì có đến 90% diện tích lúa trên đất nuôi tôm bị thiệt hại.

“Sau nhiều năm canh tác, bà con đang dần cảm nhận được những khó khăn khi làm vụ lúa trên đất nuôi tôm. Nguyên nhân là do canh tác lâu, đất bị nhiễm mặn ngày càng nặng mà lượng mưa không phải năm nào cũng đảm bảo đủ để rửa mặn. Nếu mùa hạn mặn lịch sử lặp lại, thì cây lúa trên đất nuôi tôm chắc chắn vẫn bị thiệt hại hàng loạt” - ông Lê Hoàng Phương, Chủ tịch UBND xã Tân Bằng, nhìn nhận.

Đây cũng chính là nguyên nhân mà trước những năm 2010, diện tích lúa - tôm của Cà Mau lên đến 70.000ha, nhưng những năm gần đây chỉ còn khoảng 40.000-50.000ha. Hiện mô hình lúa - tôm cũng chỉ còn tập trung nhiều tại các huyện phát triển sau này, như: U Minh, Thới Bình, Cái Nước. Còn tại huyện Đầm Dơi - nơi khởi phát của mô hình - đã không còn nơi nào có thể trồng được vụ lúa trên đất nuôi tôm.

Ông Nguyễn Văn Tranh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, cho biết: Mô hình sản xuất luân canh lúa - tôm đã chứng minh được hiệu quả, cho thu nhập gấp 2 - 3 lần so với độc canh cây lúa. Đặc biệt, trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay, vùng chuyên lúa của tỉnh bị mặn xâm nhập nghiêm trọng nên mô hình lúa - tôm mở ra hướng sản xuất hiệu quả hơn. Tuy nhiên, điểm hạn chế lớn nhất của mô hình lúa - tôm là phụ thuộc vào điều kiện thời tiết.

“Trồng lúa trên đất nuôi tôm cần nước mưa để rửa mặn, năm nào mưa ít, người dân không thể trồng lúa. Nếu nuôi tôm liên tục thời gian dài, người dân muốn quay lại làm vụ lúa rất khó khăn. Đã có những diện tích lúa - tôm buộc phải chuyển qua chuyên nuôi tôm làm mất đi hiệu quả và tính bền vững vốn có của mô hình. Cũng chính vì vậy, diện tích lúa - tôm của tỉnh ngày càng bị thu hẹp”- ông Tranh lý giải.

Ông Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau: “Theo thời gian, mô hình lúa - tôm của tỉnh ngày càng bị đẩy lùi sâu vào trong nội địa. Để khắc phục thực trạng này, cần nhiều giải pháp đồng bộ nhưng cốt yếu phải có hệ thống thủy lợi hoàn thiện. Trước đây, chúng ta quy hoạch thủy lợi chỉ đảm bảo phát triển 2 vùng mặn và ngọt. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh, cần thủy lợi cho 3 vùng là: mặn, lợ và ngọt. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, mặn xâm nhập hiện nay, chừng nào thủy lợi chưa đảm bảo thì rất khó để phát triển bền vững được như mong muốn”.

Hiếu Nghĩa

Bà Rịa - Vũng Tàu: Quản lý chặt hoạt động nuôi động vật hoang dã, quý hiếm

Nguồn tin: Báo Bà Rịa - Vũng Tàu

Những năm qua, các trang trại nuôi các loài động vật hoang dã, quý hiếm đã dần trở nên phổ biến trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và đem lại thu nhập ổn định cho một số hộ gia đình. Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã tiến hành nhiều biện pháp để quản lý chặt chẽ loại hình chăn nuôi đặc thù này.

Chuồng trại nuôi các loại động vật hoang dã phải đảm bảo các yếu tố về an toàn, môi trường. Trong ảnh: Nuôi cá sấu tại trại của chị Đinh Thị Ánh, khu phố 5, thị trấn Ngãi Giao.

Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm, trên địa bàn tỉnh hiện có 144 trại nuôi động vật hoang dã. Trong đó, có 47 trại nuôi các động vật trong nhóm động vật nguy cấp, quý, hiếm được xếp vào các nhóm IB và IIB trong danh mục theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP như gấu, cá sấu, trăn, rắn với khoảng 5.700 cá thể và gần 100 trại nuôi các loài động vật hoang dã như nhím, trĩ đỏ, heo rừng lai, nai... Ngoài 4 cơ sở nuôi 6 cá thể gấu ngựa thuộc danh mục cấm mua bán, đa số các trại nuôi động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh đều có mục đích thương mại. Qua đó, mỗi năm, các trang trại cung cấp hàng chục tấn thịt và một số loại sản phẩm khác ra thị trường. Có thể nói, các cơ sở gây nuôi, sinh sản động vật hoang dã là một trong những biện pháp nhằm bảo tồn nguồn gen, giúp mang lại hiệu quả kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận người dân nông thôn. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù nên nếu quản lý không chặt chẽ loại hình chăn nuôi này sẽ dễ dẫn đến tình trạng lợi dụng để mua bán, vận chuyển, kinh doanh trái pháp luật; đưa động vật hoang dã khai thác trái phép ngoài tự nhiên vào nhập chuồng để hợp thức hóa và đặc biệt có thể gây nguy hiểm cho con người đối với một số loài động vật như gấu, cá sấu...

Do đó, ông Nguyễn Quốc Bảo, Trưởng phòng Thanh tra - Pháp chế, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, thời gian qua, lực lượng chức năng đã thực hiện nhiều biện pháp quản lý chặt chẽ. Trước hết là việc cấp mã số trại chăn nuôi. Công tác này được phân cấp rất rõ ràng. Đối với các loại động vật trong nhóm I (các loài bị đe dọa tuyệt chủng và có thể bị ảnh hưởng do thương mại) thuộc công ước Cites (Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) ví dụ như gấu, cá sấu..., các trại muốn nuôi phải được cơ quan quản lý Công ước này tại Việt Nam cấp mã số trại nuôi. Các loại động vật thuộc nhóm III Cites như trăn đất, rắn ráo, rắn hổ mang thường... sẽ được Chi cục Kiểm lâm cấp giấy phép chăn nuôi. Các hộ muốn nuôi các loài hoang dã thông thường còn lại như nai, nhím, heo rừng lai cần khai báo với đơn vị kiểm lâm sở tại để được nuôi. “Mỗi loại vật nuôi sẽ có từng điều kiện cụ thể để được nuôi. Các trang trại muốn được cấp phép cần đảm bảo một số yếu tố như chứng minh được nguồn gốc của động vật hoang dã, chuồng trại đảm bảo an toàn theo quy định. Việc chăn nuôi không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh…” - ông Bảo thông tin.

Còn theo ông Đào Văn Điền, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vũng Tàu - Phú Mỹ cho biết, sau khi cấp phép, việc kiểm soát các trại chăn nuôi động vật hoang dã tiếp tục được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ. Theo đó, đối với loài gấu ngựa, việc quản lý được tiến hành thông qua việc gắn chíp điện tử. Đây giống như một “chứng minh thư”, ghi lại các yếu tố về giới tính, chiều cao, cân nặng và tình trạng sức khỏe của loài gấu. Nhờ gắn chip, tình trạng nuôi nhốt, khai thác mật gấu trên địa bàn tỉnh hầu như không còn diễn ra. Số cá thể gấu nuôi nhốt cũng giảm nhiều. Đây là xu hướng tốt bởi điều kiện chăn nuôi trong chuồng trại khó đảm bảo được điều kiện sống tốt nhất cho loài động vật quý hiếm này.

Đối với các loại động vật khác, việc kiểm tra cũng được tiến hành định kỳ, thường xuyên. Ông Điền cho biết, vừa qua, luật đã quy định các hộ nuôi động vật hoang dã đều phải có sổ và tiến hành ghi chép khi tăng, giảm đàn, mỗi lần xuất bán đều phải báo với lực lượng kiểm lâm địa phương, nếu không sẽ bị phạt nặng. Điều này giúp đơn vị chức năng thuận lợi trong việc nắm được sự biến động trong tổng đàn nuôi của các trang trại. “Thời gian tới, lực lượng kiểm lâm sẽ phối hợp với các ngành, địa phương liên quan tăng cường công tác kiểm tra chuyên ngành để phát hiện các trường hợp vi phạm về gây nuôi, săn bắt, mua bán, vận chuyển trái phép, tàng trữ động vật hoang dã không rõ nguồn gốc; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho toàn thể nhân dân, nhất là các trại nuôi không đưa các loại động vật hoang dã không rõ nguồn gốc, xuất xứ vào nhập đàn. Bên cạnh đó, việc tiến hành kiểm tra các nhà hàng, quán ăn sử dụng thịt động vật hoang dã cũng sẽ được tiến hành thường xuyên để phát hiện, xử lý kịp thời các trường hợp thu mua, tàng trữ, tiêu thụ động vật hoang dã trái phép.

QUANG VINH

Bình Định: Gà giống Cao Khanh hướng đến xuất khẩu

Nguồn tin: Báo Bình Định

Công ty gà giống Cao Khanh (thôn Hòa Dõng, xã Cát Tân, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) đã trở thành một trong những thương hiệu giống gà ta nổi tiếng của cả nước. Ông Cao Văn Khanh, Giám đốc Công ty, chia sẻ: Khi khởi nghiệp cách đây 20 năm, trong tay ông chỉ có khoảng 200 con gà mái được tuyển chọn kỹ từ các dòng gà ta nuôi tại địa phương có tính năng vượt trội như màu lông mượt, chân vàng, thể hình to, thịt săn chắc, khả năng miễn dịch tốt… Từ những dòng gà mái này, ông đã tìm tòi lai tạo với các dòng gà trống chọi (gà nòi), nhằm tạo ra những thế hệ con giống có tính năng vượt trội. Từ đó, tiếp tục lai tạo để sản xuất ra các thế hệ gà và giống gà thương phẩm thuần mang thương hiệu gà ta Cao Khanh…

Chăn nuôi gà bằng hệ thống chuồng lồng tại Công ty gà giống Cao Khanh

Sau khi lai tạo thành công giống gà ta với nhiều ưu điểm nổi bật, Công ty gà giống Cao Khanh đã đăng ký bảo hộ các giống gà mang thương hiệu của riêng mình. Bộ NN&PTNT đã công nhận 3 dòng gà ta gồm CK1, CK2, CK3 của Công ty Cao Khanh là một tiến bộ KHKT, cho phép bán giống rộng rãi trong cả nước.

Để đáp ứng nhu cầu con giống cho người chăn nuôi, hiện hệ thống chuồng trại chăn nuôi của công ty được mở rộng trên diện tích 30 ha. Toàn bộ gà giống được nuôi trong chuồng lạnh, công nghệ tự động, đảm bảo sạch bệnh; hệ thống nhà máy ấp nở được đầu tư hiện đại. Năm 2018, Công ty Cao Khanh tiếp tục đầu tư hệ thống chuồng lồng để nuôi gà giống bố mẹ và áp dụng việc gieo tinh nhân tạo để sản xuất con giống, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.

Ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở NN&PTNT, đánh giá: Trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, việc mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ chăn nuôi, áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất như Công ty Cao Khanh là rất đáng biểu dương, ghi nhận. Gà giống Cao Khanh là một trong những DN đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ cao vào nghiên cứu, lai tạo gà giống thành công của tỉnh.

Ông Cao Văn Khanh cho biết, bên cạnh sản xuất gà giống, Công ty cũng đã đầu tư một trang trại chăn nuôi và ấp nở vịt giống siêu nạc quy mô 200 nghìn con tại huyện Trảng Bom (Đồng Nai), tiếp tục nỗ lực để trở thành DN sản xuất giống gia cầm có quy mô lớn hơn, ứng dụng công nghệ cao vào việc chăn nuôi, ấp nở con giống... nhằm xuất khẩu đến các quốc gia trong khu vực. Công ty cũng đề ra kế hoạch xây dựng dây chuyền giết mổ gia cầm tập trung để đưa sản phẩm thịt gà thương hiệu Bình Định ra thị trường thế giới.

N. HÂN

ABIC Đắk Lắk ký kết bảo hiểm chăn nuôi bò

Nguồn tin: Báo Đắk Lắk

Ngày 6-7, Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp Chi nhánh Đắk Lắk (ABIC Đắk Lắk) đã ký hợp đồng cung cấp bảo hiểm bò cho doanh nghiệp và người chăn nuôi.

Theo đó, ABIC Đắk Lắk đã ký hợp đồng bảo hiểm cho 100 con bò của Công ty TNHH MTV Trang tại bò Quang Minh (thị trấn Ea Drăng, huyện Ea H’leo); 200 con bò của Công ty TNHH bò lai Đắk Lắk (xã Ea Wer, huyện Buôn Đôn) và 10 con bò của hộ bà Nguyễn Thị Thúy (xã Cư M'lan, huyện Ea Súp).

Đại diện các bên ký hợp đồng bảo hiểm

Khi ký kết hợp đồng, những doanh nghiệp và hộ dân trên sẽ được ABIC Đắk Lắk bồi thường trong trường hợp vật nuôi chết trực tiếp do các nguyên nhân: Thảm họa tự nhiên (sét đánh, bão, lũ lụt, thời tiết lạnh, sương giá); Dịch bệnh (bệnh lở mồm, long móng, tụ huyết trùng)…

Số vật nuôi trên đang được nuôi theo tiêu chuẩn kỹ thuật quy trình nông nghiệp do Bộ NN-PTNT và cơ quan có thẩm quyền ở địa phương quy định; được nuôi tại vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật, có sức khỏe tốt và không bị thương tật, dị tật và có Giấy chứng nhận tiêm phòng vắc xin cho các bệnh được bảo hiểm trước thời điểm bắt đầu bảo hiểm.

Việc đưa sản phẩm Bảo hiểm trâu, bò tại Đắk Lắk là nhằm góp phần khắc phục rủi ro, tổn thất do thiên tai, dịch bệnh trong chăn nuôi trên địa bàn, giúp người chăn nuôi sớm khôi phục sản xuất và ổn định đời sống. Người chăn nuôi có một điểm tựa để yên tâm mở rộng sản xuất, phát triển mở rộng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lớn, góp phần giúp nông nghiệp, nông thôn phát triển, giúp nông dân giảm thiểu rủi ro.

Giang Nam

Phát hiện ổ dịch tả heo Châu Phi đầu tiên tại Tây Ninh

Nguồn tin: Báo Tây Ninh

Thông tin từ Chi cục Thú y (Sở NN&PTNT) tỉnh Tây Ninh, hôm nay (7.7), địa phương đã tiêu hủy ổ dịch tả heo châu Phi đầu tiên phát hiện trên địa bàn.

Nơi phát hiện dịch bệnh là đàn heo nhà của một người dân ở ấp Bắc Bến Sỏi, xã Thành Long, huyện Châu Thành.

Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Văn Tân kiểm tra công tác xử lý, tiêu hủy đàn heo nhiễm bệnh.

Trước đó, từ ngày 3-5.7, đàn heo của hộ chăn nuôi này có 6 con bị chết với triệu chứng của dịch tả châu Phi nên báo với cơ quan Thú y. Sau đó, đàn heo có thêm 2 con bị chết. Đến chiều 6.7, Chi cục Chăn nuôi và Thú y Tây Ninh gửi mẫu xét nghiệm đến Chi cục Thú y vùng VI (Cục Thú y). Kết quả dương tính với dịch tả heo châu Phi.

Sau khi phát hiện bệnh dịch, đàn heo của hộ này có 9/18 con bị chết. Đến ngày 7.7, số heo còn lại trong chuồng cũng đã được xử lý, tiêu hủy theo quy định.

Như vậy, Tây Ninh là tỉnh cuối cùng của khu vực Đông Nam bộ phát hiện bệnh dịch tả heo châu Phi.

Hiện Cục Thú y vùng VI, Sở NN&PTNT Tây Ninh cùng UBND huyện Châu Thành đang phối hợp giám sát, theo dõi diễn biến, đồng thời tiêu độc khử trùng, khống chế, dập dịch.

Ngay khi nhận tin báo, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Văn Tân đã nhanh chóng đến khu vực nhiễm dịch để kiểm tra công tác xử lý, tiêu hủy và phòng, chống dịch.

Xử lý, tiêu hủy và vệ sinh khu vực nhiễm dịch bệnh

Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu công tác phòng dịch phải thực hiện đúng quy trình, kỹ thuật, kịch bản của UBND tỉnh đã ban hành. Huyện Châu Thành và các cơ quan chức năng cần nhanh chóng triển khai chống dịch, thực hiện khẩn trương các biện pháp tiêu hủy heo nhiễm bệnh để tránh lây lan, đồng thời tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn cụ thể các biện pháp phòng chống bệnh dịch tả heo châu Phi.

Ông Nguyễn Thanh Lam- Phó Chủ tịch UBND huyện Châu Thành cho biết thêm, ngoài việc tiêu độc, khử trùng chuồng trại, huyện Châu Thành đã lập 2 chốt kiểm soát dịch bệnh động vật tại khu vực đầu chợ Bến Sỏi và chốt cầu Ông Cố nhằm tránh lây lan.

Phun thuốc tiêu độc khử trùng khu vực nhiễm dịch.

Trước đó, tỉnh Bến Tre cũng đã công bố dịch tả heo châu Phi vào ngày 2.7. Như vậy, cả nước đã có 62/63 tỉnh, thành xảy ra dịch. Hiện chỉ còn Ninh Thuận chưa phát hiện dịch.

Thống kê mới nhất của Bộ NN&PTNT, hiện cả nước đã có gần 3 triệu con heo bị nhiễm dịch tả phải tiêu hủy, dịch bệnh tiếp tục có diễn biến phức tạp, nguy cơ lây lan nhanh và rộng.

Tâm Giang

Đồng bằng sông Cửu Long: Hướng đến mô hình chăn nuôi bền vững

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Thời gian qua, việc chăn nuôi gia súc, gia cầm luôn gặp khó khăn khi giá cả sụt giảm, nhất là dịch bệnh trên đàn heo lan rộng gây thiệt hại lớn. Các ngành chức năng đang quyết tâm tái cơ cấu ngành chăn nuôi để phát triển ổn định, đáp ứng tình hình mới.

Nuôi heo theo quy mô công nghiệp của Công ty C.P Việt Nam, mô hình mà nông dân ĐBSCL cần liên kết để hướng tới.

Người chăn nuôi gặp khó

Tỉnh Tiền Giang là địa phương có đàn heo lớn nhất ở ĐBSCL và chăn nuôi heo là thế mạnh của nhiều địa phương ở đây. Theo thống kê, toàn tỉnh có khoảng 42.688 cơ sở chăn nuôi heo, trong đó hộ gia đình chiếm tỷ lệ hơn 94%, số lượng heo chiếm 58%; cơ sở nuôi quy mô từ 50 con trở lên chiếm tỷ lệ gần 6%, số lượng heo chiếm 42%. Dù nuôi heo có từ lâu đời nhưng hiện tại nhiều hộ kêu than bởi dịch bệnh làm ảnh hưởng. Ông Nguyễn Văn Long, nuôi heo lâu năm ở huyện Chợ Gạo, bộc bạch: “Hồi đầu năm giá heo tương đối tốt nên người nuôi có lãi, tuy nhiên gần đây bị dịch tả heo châu Phi làm cho giá giảm nên người nuôi gặp khó”.

Cùng nỗi lo trên, không ít hộ nuôi heo ở Đồng Tháp cũng mất ăn mất ngủ. Ông Lê Văn Hưng, ở xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, trăn trở: “Dù đã hàng chục năm trong nghề, nhưng càng lúc thấy việc nuôi heo rất rủi ro bởi dịch bệnh và giá cả lên xuống bất thường”. Do gia đình sản xuất bột nên mỗi năm ông Hưng nuôi hàng trăm con heo thương phẩm và hàng chục con heo giống. Song, việc có khi lời, có khi lỗ vẫn thường xảy ra.

Ông Nguyễn Văn Đông, ngụ huyện Mỏ Cày Bắc (Bến Tre), băn khoăn: “Còn nhớ những tháng đầu năm 2017, giá heo hơi giảm thê thảm và khó tiêu thụ dù ngành chức năng phát động nhiều đợt “giải cứu”, nhưng người nuôi vẫn bị lỗ từ 6.000-12.000 đồng/kg. Năm 2018, nhiều hộ chăn nuôi nỗ lực gầy lại đàn heo và giá có cải thiện; song, niềm vui chưa duy trì được lâu thì nay nghề nuôi heo lại bị bệnh dịch tả châu Phi bao trùm, đẩy người nuôi rơi vào khốn đốn”.

Theo Sở NN&PTNT các tỉnh ĐBSCL, dịch bệnh lây lan nhanh và số lượng heo phải tiêu hủy ngày càng nhiều. Hiện các tỉnh vừa tập trung phòng, chống dịch, vừa nhanh chóng hỗ trợ giúp người nuôi giảm bớt thiệt hại. Trước tình hình trên, ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp yêu cầu Sở NN&PTNT tỉnh này phối hợp với các địa phương tập trung phòng bệnh cho số lượng heo khỏe mạnh còn lại. Bên cạnh đó, khuyến cáo người dân không nên tái đàn khi chưa công bố hết dịch bệnh.

Tại An Giang, người chăn nuôi heo cũng khó khăn vì dịch bệnh và rất lo lắng trước những rủi ro của nghề này. Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, chỉ đạo các ngành chức năng và các huyện cố gắng hạn chế lây lan và phát sinh những ổ dịch mới; đồng thời tuyên truyền để người dân không vội tái đàn ở thời điểm dịch bệnh còn phức tạp, nhằm tránh nguy cơ thiệt hại có thể xảy ra…

Nhiều hộ ở ĐBSCL chuyển sang mô hình nuôi gà theo quy mô trang trại.

Cần chuyển đổi mô hình nuôi mới

Chăn nuôi heo là nghề truyền thống lâu đời và là sinh kế của không ít hộ dân nông thôn. Tuy nhiên, việc chăn nuôi vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại và chậm chuyển đổi. Ông Cao Văn Hóa, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Tiền Giang, cho rằng: “Là địa phương có số lượng đàn heo lớn nhất khu vực ĐBSCL, nhưng thực trạng chăn nuôi vẫn đa phần nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm, thiếu kết nối với thị trường… Vì vậy, chi phí giá thành trong chăn nuôi còn khá cao. Bên cạnh đó, giá cả lên xuống không ổn định, dịch bệnh thường xảy ra, khiến đàn heo của tỉnh từ hơn 700.000 con trước đây, nay giảm khá nhiều”.

Tại Đồng Tháp, ông Võ Bé Hiền, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh này cũng thừa nhận: “Nhiều bất lợi đang vây quanh nghề nuôi heo. Lúc cao điểm, Đồng Tháp có khoảng 600.000 con heo, nhưng giờ đây chỉ còn hơn 200.000 con và nếu dịch bệnh còn kéo dài thì nguy cơ đàn heo tiếp tục giảm”. Cũng theo ông Hiền, thực trạng chăn nuôi hiện nay là chưa đáp ứng yêu cầu, chậm ứng dụng mô hình mới, công nghệ cao… Nguyên nhân, do chi phí đầu tư lớn, trong khi người dân nuôi dạng hộ gia đình nên không theo nổi. “Nếu đầu tư hệ thống chuồng trại theo tiêu chuẩn, nuôi quy trình công nghệ cao, con giống và thức ăn được kiểm soát chặt chẽ… thì với số lượng nuôi vài trăm con heo đã ngốn hàng tỉ đồng, số tiền trên nông dân không lo được. Do đó, nhiều hộ ở Đồng Tháp vẫn tự nuôi heo nái để nhân giống, sản xuất bột nhằm lấy phụ phẩm nuôi heo… Chủ yếu là lấy công làm lời, chứ không thể đầu tư mô hình mới toàn bộ được, bởi thiếu lực”, chị Dương Thị Bé, ở xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, tâm sự.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Thành Đức, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Kiên Giang, cho biết: “Tình hình khó khăn này thì đàn heo không tăng, mà tiếp tục giảm. Hiện Kiên Giang còn khoảng 200.000- 300.000 con heo, về cơ bản không đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ của tỉnh; nhất là 2 huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải gần như nhập toàn bộ heo từ đất liền đưa ra. Thời gian qua, tỉnh cũng khuyến khích người dân nuôi công nghệ cao, công nghệ sinh học, an toàn… nhưng sự chuyển biến còn chậm; đến nay chỉ có khoảng 22 cơ sở nuôi trang trại. Đối với những hộ không tiếp tục nuôi heo thì các địa phương hỗ trợ chuyển sang nuôi vịt chạy đồng, bởi Kiên Giang có nhiều diện tích lúa”. Ở các tỉnh khác, dự báo đàn heo sẽ giảm và gà, vịt, bò… là những vật nuôi được khuyến cáo chuyển đổi theo điều kiện phù hợp từng nơi.

Về lâu dài, các tỉnh ĐBSCL tổ chức lại ngành chăn nuôi theo hướng trang trại, công nghiệp, bán công nghiệp (gắn với chăn nuôi truyền thống và chăn nuôi hữu cơ), giảm dần nuôi nhỏ lẻ; đồng thời xây dựng hệ thống giết mổ, chế biến tập trung công nghiệp. Các nhà chuyên môn lưu ý nên phát triển chăn nuôi chuỗi giá trị, liên kết những nông hộ vào tổ hợp tác hoặc HTX nhằm thuận lợi trong hỗ trợ vốn, đầu tư thức ăn, con giống, chăm sóc, tiêu thụ… Trong quá trình hợp tác cần phát huy vai trò doanh nghiệp, các hiệp hội… nhằm kiểm soát tốt dịch bệnh, cắt giảm các khâu trung gian, đảm bảo an toàn thực phẩm; đồng thời điều tiết tốt cung cầu thị trường… Có như vậy, nghề chăn nuôi mới giảm rủi ro và hướng tới bền vững.

Sở NN&PTNT các tỉnh ĐBSCL cho biết, đối với những hộ nhỏ lẻ, thiếu vốn nuôi heo… thì cần vào tổ hợp tác để liên kết với các doanh nghiệp; trong đó có Công ty C.P Việt Nam nhằm được công ty cung cấp con giống đầu vào, thức ăn, vắc-xin, kỹ thuật… và tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Điều này tạo sự an tâm cho người chăn nuôi heo bởi giảm thiểu rủi ro. Đây là mô hình chăn nuôi khép kín, theo quy trình trang trại, công nghiệp, quy mô lớn. Đồng thời, là giải pháp phù hợp mà nông dân chăn nuôi ở ĐBSCL cần hướng tới không chỉ trong nuôi heo, mà cho cả những mô hình chăn nuôi khác.

HƯNG TÂN

Hiếu Giang tổng hợp

 

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop