Tin nông nghiệp ngày 11 tháng 5 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 11 tháng 5 năm 2019

Giới thiệu mô hình sản xuất xoài sạch đủ chuẩn xuất khẩu

Nguồn tin: Báo Đồng Nai

Ngày 8-5, Trung tâm Khuyến nông Đồng Nai (Sở Nông nghiệp – phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai) tổ chức hội thảo nhân rộng mô hình sản xuất xoài tiên tiến phục vụ xuất khẩu với sự tham dự của đông đảo nông dân trên địa bàn 3 huyện có diện tích xoài lớn của tỉnh là: Định Quán, Vĩnh Cửu và Xuân Lộc.

Bà Nguyễn Thị Kim Mai (áo vàng) hướng dẫn nông dân quy trình trồng xoài sạch đạt chuẩn xuất khẩu.

Theo bà Nguyễn Thị Kim Mai, chủ trang trại cây ăn trái tại huyện Định Quán, thì xoài Cát Hòa Lộc là giống xoài đặc sản riêng của Việt Nam nên không lo đụng hàng với các nước khác. Hiện có doanh nghiệp của Nhật Bản và Mỹ về hợp tác với trang trại bao tiêu sản phẩm này xuất khẩu.

Theo đó, trang trại của bà Mai có nhu cầu liên kết với nông dân trồng xoài sản xuất theo hướng sinh học, an toàn, thực hiện việc bao trái để hạn chế sử dụng phân, thuốc hóa học đạt chuẩn xuất khẩu. Các cơ quan chức năng, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tham gia hỗ trợ, hướng dẫn nông dân phương pháp sản xuất đạt chuẩn xuất khẩu vào các thị trường khó tính.

Đại diện doanh nghiệp chia sẻ thông tin về cơ hội thị trường cũng như tiêu chuẩn của các nước về trái xoài nhập khẩu.

Tại hội thảo, nông dân đã được hướng dẫn kỹ thuật trồng giống xoài cát Hòa Lộc đạt chuẩn xuất khẩu, nhất là kỹ thuật xử lý cho ra trái nghịch vụ; đồng thời được nghe về những chính sách hỗ trợ khi tham gia sản xuất lớn; ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất; tđầu tư nhãn mác, thương hiệu nông sản...Đại diện doanh nghiệp xuất khẩu nông sản cũng giới thiệu với nông dân về cơ hội và yêu cầu để xuất khẩu xoài vào thị trường Mỹ, Nhật Bản…

Bình Nguyên

Giống mãng cầu Thái Lan cho hiệu quả kinh tế cao

Nguồn tin: Báo Bà Rịa - Vũng Tàu

Mãng cầu (hay còn gọi là na) vốn là loại trái cây thơm ngon được nhiều người ưa thích. Trong khi giống mãng cầu ta quả nhỏ, mềm thì mãng cầu xuất xứ từ Thái Lan có nhiều ưu điểm vượt trội như quả to, dai, ít hạt, thơm ngon.

Ông Thức (bìa trái) dẫn đoàn cán bộ Sở KHCN thăm vườn cây mãng cầu Thái Lan của gia đình.

Do ưu điểm vượt trội này, tại BR-VT đã có một số hộ nông dân nhân giống thành công giống mãng cầu Thái Lan, trong đó ông Đặng Văn Thức (ấp 5, xã Tóc Tiên,TX. Phú Mỹ) là một ví dụ điển hình.

Năm 2004, trong chuyến đi Thái Lan cùng bạn, ông Đặng Văn Thức lần đầu tiên được tiếp cận với cây mãng cầu Thái. “So với mãng cầu ta thì trái mãng cầu Thái Lan to gấp hai đến ba lần, ít hạt, lép, vị ngọt thơm, dai nên tôi vô cùng thích. Sau đó tôi liền tìm hiểu và mua giống cây này về trồng”, ông Thức cho biết.

Cải tạo lại mảnh đất đang trồng điều, ông Thức đầu tư 150 triệu đồng để trồng gần 300 gốc mãng cầu Thái Lan. Tuy nhiên, do chưa tìm hiểu kỹ về kỹ thuật trồng, cách chăm sóc nên chỉ một thời gian sau, cây mãng cầu Thái Lan bị thối rễ và sâu bệnh, ông phải chặt bỏ một phần. Thất bại, thiệt hại kinh tế lớn nhưng ông không từ bỏ. Ông tìm hiểu và học cách chiết, ghép cành, gây giống mới trồng lại. Cùng với sự hỗ trợ kỹ thuật của Trung tâm Nghiên cứu cây trồng Đông Nam bộ, gia đình ông đã trồng thành công cây mãng cầu Thái Lan.

Theo ông Thức, mãng cầu Thái Lan là loại cây khá khó trồng, chi phí đầu tư cũng khá cao. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế cây mang lại cao gấp 3,4 lần so với cây mãng cầu ta, tuổi thọ trung bình của cây đạt từ 13-15 năm. So với cây mãng cầu ta, trọng lượng quả của loại mãng cầu Thái Lan lớn hơn nhiều (trung bình 500g- 1kg), cơm nhiều, hạt lép, quả có vị ngọt thanh nên rất được người tiêu dùng ưu chuộng.

Hiện nay, từ 800 gốc mãng cầu, mỗi vụ gia đình ông Thức thu hoạch 6-8 tấn quả, trung bình giá bán mãng cầu Thái Lan dao động từ 80-100 ngàn đồng/kg, ông thu về từ 500-600 triệu/năm sau khi trừ chi phí. “Cây mãng cầu có thể trồng theo 2 cách, ươm hạt hoặc cấy ghép. Đối với loài cây này, việc chăm sóc cần sự tỉ mỉ, khi tưới nước cho cây cũng phải đúng kỹ thuật, nếu không sẽ dẫn tới hiện tượng thối rễ. Mùa khô chỉ cần tưới nước cho cây từ 1 -3 lần/ngày là bảo đảm được độ ẩm để cây sinh trưởng tốt”, ông Thức cho biết thêm.

Theo đánh giá của Hội Nông dân xã Tóc Tiên, cây mãng cầu Thái Lan khá thích hợp với vùng đất cát. Tới đây địa phương sẽ tìm hiểu về điều kiện thổ nhưỡng, thị trường tiêu thụ để nhân rộng mô hình này nhằm nâng cao thu nhập cho bà con nông dân.

Bài, ảnh: KIM HỒNG

Giá xoài Đài Loan giảm mạnh

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Hiện nay, tại huyện Phụng Hiệp (tỉnh Hậu Giang), thương lái vào tận vườn thu mua xoài Đài Loan chỉ ở mức 11.000 đồng/kg xoài loại I, xoài loại II ở mức 6.000-8.000 đồng/kg, riêng xoài bao trái có giá 15.000 đồng/kg, bình quân giảm hơn 3.000 đồng/kg so với thời điểm cách nay hơn một tháng. Với giá bán này cùng với năng suất 2,5 tấn/công, trừ hết chi phí nhà vườn trồng xoài Đài Loan chỉ đạt lợi nhuận khoảng 10 triệu đồng/công. Theo nhiều thương lái cho biết, giá xoài Đài Loan xuống thấp có hai nguyên nhân. Thứ nhất, xoài ở các tỉnh như Đồng Tháp, Tiền Giang đang vào vụ thu hoạch nên sản lượng khá nhiều. Thứ hai, thời điểm này đang là mùa nắng nóng nên những loại trái cây như xoài không được ưa chuộng bằng những loại trái cây giải nhiệt.

Xoài Đài Loan hiện giảm hơn 3.000 đồng/kg so với thời điểm cách nay một tháng.

Theo thống kê của ngành nông nghiệp huyện Phụng Hiệp, toàn huyện hiện có khoảng 465ha xoài Đài Loan, tập trung chủ yếu ở thị trấn Búng Tàu, xã Phương Phú, Tân Phước Hưng, Hòa Mỹ… Trong đó, khoảng 70% diện tích đang cho trái.

Tin, ảnh: DUY KHÁNH

Xen canh cây trồng mang lại hiệu quả cao

Nguồn tin: Báo Gia Lai

Ngày 7-5, Sở Nông nghiệp và PTNT Gia Lai đã tổ chức cho 200 nông dân tại 9 huyện, thành phố tham quan mô hình trồng xen sầu riêng vào hồ tiêu và cà phê của gia đình ông Nguyễn Văn Lập (làng Hrak, xã Đak Djrăng, huyện Mang Yang). Hoạt động này nhằm giúp nông dân học hỏi kinh nghiệm trồng xen canh các loại cây trồng để áp dụng vào thực tế, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.

Hiệu quả mô hình xen canh

Năm 2006, từ Đak Lak, gia đình ông Nguyễn Văn Lập chuyển đến làng Hrak (xã Đak Djrăng) sinh sống. Tại đây, gia đình ông mua 5 ha đất trồng cà phê và hồ tiêu rồi xen canh thêm 450 cây sầu riêng. Để cây trồng phát triển tốt, ông đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm nước cho từng loại cây. Đồng thời, ông chủ động tìm hiểu kỹ thuật trồng, chăm sóc các loại cây từ nhiều nguồn để áp dụng vào thực tiễn.

Ông Lập cho hay: “Làm nông nghiệp không biết cây nào được giá, cây nào mất giá. Vì vậy, năm 2006, tôi quyết định trồng 3 loại cây này cùng một lúc để nếu có rủi ro thì lấy nguồn thu từ cây này bù cây khác. Đến nay, cả 3 loại cây trồng đều tạo nguồn thu nhập ổn định cho gia đình. Đặc biệt, trong 3 năm trở lại đây, khi hồ tiêu và cà phê mất giá thì cây sầu riêng trở thành nguồn thu nhập chính của gia đình”. Theo ông Lập, năm 2016, gia đình ông thu được 200 triệu đồng từ 450 cây sầu riêng. Đến năm 2017, con số này tăng lên, đạt 500 triệu đồng. Đặc biệt, trong năm 2018, gia đình ông thu được 34 tấn sầu riêng, bán với giá 85.000 đồng/kg, lợi nhuận đạt 3 tỷ đồng, cao hơn rất nhiều so với thu nhập từ hồ tiêu và cà phê.

Hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc sầu riêng. Ảnh: N.D

Khuyến khích nông dân làm theo

Theo thống kê sơ bộ của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, toàn tỉnh hiện có khoảng 712 ha sầu riêng, chủ yếu trồng xen canh trong vườn cà phê và hồ tiêu. Một nửa diện tích này đã bước vào kinh doanh, số còn lại đang trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, hứa hẹn trong thời gian tới sẽ mang lại nguồn thu ổn định cho nông dân.

Tham quan mô hình xen canh của gia đình ông Lập, ông Vũ Văn Lâm (thôn 2, xã Đak Sơ Mei, huyện Đak Đoa) cho biết: “Gia đình tôi cũng trồng xen canh 300 cây sầu riêng vào 2 ha hồ tiêu từ năm 2008. Năm vừa rồi, tôi thu được 1,2 tỷ đồng từ bán sầu riêng. Trồng sầu riêng không cần nhiều vốn, cũng không cần nhân công chăm sóc như các loại cây trồng khác mà chỉ đầu tư béc tưới nước khoảng 100 triệu đồng. Khi cây bắt đầu ra hoa, chỉ tập trung điều chỉnh sinh lý để cây kết trái đồng loạt”. Tương tự, ông Đào Văn Chủy (thôn Tung Blai, xã Ia Dreng, huyện Chư Pưh) chia sẻ: “Gia đình tôi trồng xen canh 200 cây sầu riêng vào vườn cà phê làm nhiều đợt khác nhau. Năm vừa rồi, có 60 cây cho thu hoạch được 9 tấn, bán với giá 50.000 đồng/kg, thu được 450 triệu đồng, chưa kể quả chín lai rai bán cho người dân xung quanh. Trồng sầu riêng xen canh cà phê cho hiệu quả kinh tế cao khi cả 2 loại cây đều mang lại nguồn thu nhập ổn định”.

Tại buổi tham quan mô hình trồng xen canh của gia đình ông Lập, nhiều nông dân đặt câu hỏi về kỹ thuật trồng, chăm sóc để đảm bảo các loại cây đều sinh trưởng, phát triển tốt. Đại diện các đơn vị của Sở Nông nghiệp và PTNT và các chuyên gia đã giải đáp những thắc mắc này, đồng thời hướng dẫn cách chọn giống, trồng cũng như chăm sóc để người dân áp dụng trồng xen canh cây sầu riêng với cây cà phê, hồ tiêu.

Trao đổi với P.V, ông Trịnh Quốc Việt-Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh-cho hay: Mô hình trồng xen canh của hộ nông dân Nguyễn Văn Lập rất tốt, trồng đúng mật độ, sử dụng 3 hệ thống tưới độc lập cùng lúc cho 3 loại cây trồng, việc chăm sóc cũng rất khoa học và hiện đại nên mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay, nhiều địa phương trong tỉnh đang thực hiện tái canh cà phê. Vì vậy, nhiều mô hình xen canh như thế này đã bắt đầu xuất hiện.

Hiệu quả kinh tế từ trồng xen canh sầu riêng trong vườn cà phê, hồ tiêu đã được khẳng định. Tuy nhiên, cơ quan chuyên môn cũng khuyến cáo nông dân không nên mở rộng diện tích sầu riêng ồ ạt để đề phòng rủi ro. Đặc biệt, khi trồng, nông dân cần chọn cây giống có nguồn gốc rõ ràng. Nông dân cũng nên trồng xen các loại cây trồng thay vì độc canh nhằm hạn chế rủi ro, tăng thu nhập. Đồng thời, cần hướng đến sản xuất có chứng nhận theo tiêu chuẩn VietGAP để nâng cao giá trị nông sản.

NGUYỄN DIỆP

Lúa Dibar 10373 chịu mặn

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Ruộng khảo nghiệm có chất đất xấu, điều kiện khí hậu không thuận lợi nhưng lúa Dibar 10373 vẫn đem lại năng suất tương đối, kháng sâu bệnh, chất lượng gạo ngon, cơm mềm... đem lại lợi ích kinh tế cho người nông dân.

Cánh đồng lúa Dibar 10373 phát triển tốt ở Quảng Ngãi

Vừa qua, Cty CP Tập đoàn Điện Bàn đã tổ chức hội thảo đánh giá kết quả khảo nghiệm giống lúa Dibar 10373 vụ ĐX 2018 – 2019 tại xã Đức Hiệp (huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi). Đây là giống lúa mới được Viện Lúa ĐBSCL chuyển giao lại cho Cty để khảo nghiệm và phát triển trên cả nước.

Theo Viện Lúa ĐBSCL, Dibar 10373 là giống lúa thuần có nguồn gốc từ tổ hợp lai giống lúa đặc sản của Thái Lan được lai tạo đặc biệt cho vùng sinh thái của Việt Nam thích nghi với biến đổi khí hậu, có khả năng chịu mặn lên đến 0,3 phần nghìn, cho năng suất cao, cơm mềm. Giống được công nhận cho sản xuất thử vào năm 2017 ở vùng ĐBSCL, hiện đang tiến hành khảo nghiệm để công nhận chính thức cho khu vực này.

Kết quả khảo nghiệm đánh giá tại cánh đồng xã Đức Hiệp cho thấy, Dibar 10373 có thời gian sinh trưởng trong vụ ĐX khoảng 102 – 105 ngày. Vụ sản xuất vừa qua, điều kiện thời tiết thất thường, tạo điều kiện cho sâu bệnh hại lúa phát triển, cùng với đó chất đất tại vùng khảo nghiệm bị nhiễm phèn nhưng giống Dibar 10373 vẫn phát triển tốt, không nhiễm sâu bệnh. Đặc biệt, khác với các giống lúa khác đang được sản xuất tại địa phương thì ruộng lúa Dibar 10373 có màu vàng chanh đặc trưng.

Dù gặp khá nhiều bất lợi trong quá trình khảo nghiệm, sản xuất nhưng theo tính toán thì năng suất của lúa Dibar 10373 đạt khoảng 61 tạ/ha. So với có giống lúa canh tác quanh đó thì năng suất này đạt ở mức trung bình.

Theo ông Nguyễn Hữu Thạnh, Chủ tịch HĐQT Cty CP Tập đoàn Điện Bàn, đây là giống lúa được phía Cty lựa chọn thích hợp với miền Trung – Tây Nguyên từ đối tác là Viện Lúa ĐBSCL – một trong những viện lúa hàng đầu Châu Á.

“Ngoài miền Trung thì chúng tôi cũng đã trồng thử nghiệm ở nhiều tỉnh phía Bắc và tất cả đều cho kết quả rất tốt. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục trồng khảo nghiệm thêm nhiều vụ nữa tại nhiều địa phương để xem độ thích hợp của giống. Vì từng giống lúa sẽ phù hợp với những vùng đất khác nhau. Mục đích của chúng tôi là đưa giống tốt, phù hợp nhất đến với bà con nông dân”, ông Thạnh nói.

TS. Trần Ngọc Thạch, Viện Lúa ĐBSCL cho biết: “Tại vùng ĐBSCL giống này thích hợp với cả 3 vùng sinh thái (vùng phù sa, vùng nhiễm phèn, vùng nhiễm mặn). Nếu thâm canh tốt thì lúa này có thể đạt được năng suất từ 8 – 9 tấn/ha. Tại miền Trung, đây là lần đầu tiên khảo nghiệm nhưng lại lựa chọn chân đất hơi cằn nên năng suất cũng không đạt cao. Ưu điểm của giống này là ngắn ngày, tiềm năng năng suất cao và chất lượng gạo ngon”.

Ông Phạm Bá, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Quảng Ngãi nhận xét, giống Dibar 10373 khảo nghiệm tại vùng đất cải tạo, đất xấu nhưng giống đạt được kết quả như vậy là tương đối. Đề nghị phía tiếp tục thực hiện khảo nghiệm và chọn địa điểm trình diễn phù hợp đồng thời đưa ra một quy trình sản xuất tạm thời với giống lúa này nhằm đánh giá cụ thể hơn.

LÊ KHÁNH

Sản xuất nông nghiệp: Bỏ tư duy ‘giải cứu’. Bài 1: Hệ lụy của tư duy ‘giải cứu’ nông sản

Nguồn tin:  Báo Đồng Nai

Cứu chuối, cứu heo, cứu gà, cứu dưa hấu, cứu thanh long..., những điệp khúc buồn đã bắt đầu gây nhàm chán trong vài năm trở lại đây.

Một điểm bán thịt heo an toàn bình ổn giá trong đợt “giải cứu” thịt heo trong năm 2017

Khi những cuộc “giải cứu” nông sản bất đắc dĩ trở thành phong trào, chính người trong cuộc là nông dân, đội ngũ những thành phần tham gia “giải cứu” đến người tiêu dùng ngày càng trở nên thờ ơ. Nhưng nó mang lại những hệ lụy khôn lường khi cả xã hội trở nên quen với lối tư duy sẵn sàng “giải cứu” nông sản và nông dân thì chờ đợi được “giải cứu”. Bài 1: Hệ lụy của tư duy "giải cứu" nông sản.

Những chương trình “giải cứu” nông sản diễn ra với sự tham gia của các cấp chính quyền, đoàn thể và cả doanh nghiệp ít nhiều đều góp phần tháo gỡ những khó khăn trước mắt nhưng lợi bất cập hại.

Nó tạo nên lối tư duy chấp nhận chuyện “giải cứu” bất đắc dĩ thành điều đương nhiên và xem giải pháp tình thế này thành cứu cánh. Nguy hại hơn, sự “giải cứu” này như sự gây mê tạm thời khiến người trong cuộc rất khó tỉnh ngộ sau những cơn sốc lớn của thị trường nông sản.

Theo ông Trương Minh Tiến, Giám đốc Công ty cổ phần bất động sản Thống Nhất - đơn vị đầu tư và quản lý chợ đầu mối nông sản, thực phẩm Dầu Giây, hàng chục chương trình kết nối nhằm đưa nông sản của Đồng Nai vào chợ đầu mối đã được triển khai. Doanh nghiệp cũng tập trung hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp về thủ tục chứng nhận an toàn cho nông sản vào chợ. Hiện nông sản của Đồng Nai đang chiếm tỷ lệ áp đảo từ 50-55% tổng sản lượng; còn lại là nông sản từ các tỉnh, thành khác; hàng nhập khẩu chiếm tỷ lệ rất thấp. Đây không chỉ là chợ đầu mối nông sản của tỉnh mà của cả khu vực với mục tiêu vươn lên tầm quốc tế, doanh nghiệp mong muốn góp phần giải quyết được câu chuyện “được mùa mất giá”.

* Điệp khúc buồn gây chán

Một trong những chương trình “giải cứu” lớn cả nước cùng vào cuộc là cơn khủng hoảng thừa vào đầu năm 2017 khiến giá heo hơi có thời điểm rớt xuống dưới 20 ngàn đồng/kg.

Ngành chăn nuôi Đồng Nai đã chứng kiến sự phá sản hàng loạt của các trang trại, của các đại lý thức ăn chăn nuôi vì người chăn nuôi đổ nợ, không có tiền thanh toán. Cả chục hội thảo, hội nghị bàn giải pháp “giải cứu” heo với sự tham gia của các đoàn lãnh đạo Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn và các bộ, ngành khác đã diễn ra tại Đồng Nai - thủ phủ chăn nuôi lớn nhất nước.

Chiến dịch “Chuối nghĩa tình” cũng là chương trình “giải cứu” rầm rộ không kém so với cuộc “giải cứu” heo cùng diễn ra trong năm 2017 tại Đồng Nai. Nông dân trồng chuối cũng rơi vào cảnh nợ nần vì xuất khẩu không được, có thời điểm giá chuối rớt còn 1 ngàn đồng/kg, chín rục đầy vườn vì không có người mua. Với sự tham gia tích cực của chính quyền, các đoàn thể, doanh nghiệp đã hỗ trợ tiêu thụ được hàng trăm tấn chuối cho nông dân.

Nhưng theo ý kiến của chính người trong cuộc là ông Nguyễn Thanh Tùng, nông dân trồng chuối tại xã Thanh Bình (huyện Trảng Bom): “Trung bình nông dân thu hoạch từ 40-50 tấn chuối/hécta, tiêu thụ được vài trăm tấn chuối chỉ là hạt muối bỏ bể so với cả ngàn hécta chuối đang chờ “giải cứu”. Đa số nông dân chẳng được hỗ trợ gì từ các chương trình “giải cứu” nhất thời ấy”.

Những cụm từ mua dưa hấu, mua cà chua, mua bí đỏ, mua hành củ... giúp nông dân đã trở nên quen tai. Người tiêu dùng cũng ngày càng thờ ơ với những lời kêu cứu này vì nó diễn ra quanh năm.

* Hệ lụy

Điều đáng buồn nhất hiện nay là nông sản của Việt Nam vẫn cứ được đổ ra vỉa hè kinh doanh với đủ loại chợ cóc, chợ tạm... Từ đó tạo thành thói quen là hàng ngàn người ra quốc lộ mua nông sản, hàng hóa. Cùng với các chương trình “giải cứu” là những điểm bán thịt heo, thanh long, chuối... tự phát xuất hiện khắp nơi trong TP.Biên Hòa và các trung tâm đô thị tại nhiều địa phương. Đa số các điểm bán hàng tự phát để “giải cứu” nông sản đều được mở tạm và nông sản thường được đổ ra bán khắp các vỉa hè, góc phố.

Thời điểm diễn ra chương trình “giải cứu” thịt heo, các cơ quan chức năng cũng “mắt nhắm, mắt mở” tạo điều kiện cho người chăn nuôi tự cứu bằng cách tự giết mổ heo đem bán ngoài vỉa hè, trong khu dân cư... mà không cần tuân theo quy trình về quản lý chất lượng, điều kiện của một sạp hàng muốn mở cửa kinh doanh. Theo đó, những câu hỏi về mặt bằng, thuế, chất lượng hàng hóa... vẫn bỏ ngỏ.

Sau một thời gian “giải cứu” thịt heo, những sạp thịt tự phát vẫn hiện hữu khắp nơi góp phần phá vỡ những quy định về trật tự đô thị, quản lý kinh doanh, quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm mà các cơ quan chức năng đã tốn nhiều công, nhiều của lập nên trước đó.

Nói về những sạp thịt tự phát, bà Hà Thị Thanh, tiểu thương bán thịt heo trong chợ Hóa An (TP.Biên Hòa) chia sẻ: “Chương trình “giải cứu” thịt heo đã kết thúc từ lâu nhưng các sạp thịt vỉa hè vẫn ngang nhiên tồn tại trên một số tuyến đường quanh khu vực chợ, tập trung đông nhất là các khu chợ tự phát phục vụ công nhân. “Đây là sự cạnh tranh không lành mạnh vì chúng tôi bán trong chợ phải trả rất nhiều loại thuế, phí; nguồn thịt cũng được kiểm soát chặt chẽ trong khi sạp thịt vỉa hè hoàn toàn bị thả nổi” - bà Thanh nói.

Chuối già hương đã lâm vào cuộc “giải cứu” vào năm 2017

Công ty TNHH một thành viên Hương Vĩnh Cửu (huyện Vĩnh Cửu) đầu tư hàng chục tỷ đồng xây dựng cơ sở giết mổ hiện đại, an toàn và hệ thống cửa hàng bán thực phẩm sạch khi tham gia dự án cạnh tranh ngành chăn nuôi và an toàn thực phẩm Lifsap. Nhưng sản phẩm của doanh nghiệp hiện chủ yếu cung cấp vào hệ thống siêu thị, bếp ăn công nghiệp cả ở thị trường Đồng Nai và TP.Hồ Chí Minh nhưng hầu như chưa vào được các chợ truyền thống ngay tại địa phương.

Theo bà Nguyễn Thị Hương, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Hương Vĩnh Cửu: “Cơ sở giết mổ an toàn gặp không ít khó khăn do sự cạnh tranh không lành mạnh của nạn giết mổ lậu. Tiểu thương không muốn đưa heo vào lò giết mổ tập trung vì chúng tôi kiểm soát rất kỹ nguồn gốc heo; heo bệnh, heo chết không được phép giết mổ tại lò”.

* Những mùa vụ “đắng”

Chỉ trong quý I-2019, hàng ngàn hécta tiêu, điều, cà phê đã bị chặt bỏ. Đây là 3 mặt hàng chủ lực Đồng Nai đang tập trung đầu tư chế biến sâu theo đề án nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Theo số liệu của Cục Thống kê Đồng Nai, hiện diện tích cây điều còn hơn 36,4 ngàn hécta, giảm gần 1,4 ngàn hécta so với cuối năm 2018; diện tích tiêu hiện còn trên 16,5 ngàn hécta, cà phê còn 12,7 ngàn hécta; điều giảm khoảng 2,5 ngàn hécta. Cùng thời gian ngắn này, diện tích các loại cây ăn trái chưa có ngành chế biến như: chuối, sầu riêng, mít, bưởi... tăng đột biến lên hàng ngàn hécta.

Theo ông Huỳnh Thành Vinh, Giám đốc Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn, thời gian qua, nông dân chặt bỏ nhiều loại cây công nghiệp như: tiêu, cà phê, điều... vì giá thấp. Tuy nhiên, nông dân chỉ nên chặt bỏ những vườn già cỗi, kém năng suất với cây hồ tiêu hiện thị trường cung vượt cầu. Riêng với cà phê, điều tuy có thời điểm giá xuống thấp nhưng vẫn là những nông sản có đầu ra tương đối ổn định do ngành chế biến phát triển. Nông dân nên ghép cải tạo, chuyển đổi giống mới để tăng năng suất, tăng giá trị cho cây trồng này.

Ông Vinh cảnh báo: “Hiện xuất khẩu trái cây tươi sang Trung Quốc không còn dễ như trước vì họ đưa ra hàng loạt yêu cầu mới về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, tem nhãn... nông dân không nên nhìn vào nhu cầu thị trường ngắn hạn để đổ xô trồng các loại cây ăn trái vì rủi ro về thị trường là rất lớn”.

Bình Nguyên - Kim Ngân

Sản xuất nông nghiệp: Bỏ tư duy ‘giải cứu’. Bài 2: Cần ‘giải cứu’ về tư duy

Nguồn tin:  Báo Đồng Nai

Ai cũng hiểu, việc quanh năm đến hẹn lại “giải cứu” nông sản là điều không nên tồn tại. Vì đây chỉ là giải pháp tạm thời, không đặt được dấu chấm hết cho vòng luẩn quẩn “được mùa mất giá” đang đẩy người nông dân vào cảnh thua lỗ, nợ nần.

Dù sầu riêng chỉ xuất khẩu đi Trung Quốc theo đường tiểu ngạch nhưng nông dân vẫn đua nhau trồng khiến giá cây giống này tăng gấp đôi so với mọi năm. Ảnh chụp tại một vườn cây giống ở huyện Tân Phú. Ảnh: B.Nguyên

Trước khi dồn lực cho những cuộc “giải cứu” nông sản, điều cấp thiết hơn là phải “giải cứu” về tư duy quản lý cũng như tư duy sản xuất nông nghiệp lạc hậu, chạy theo sản lượng, chưa quan tâm đến chất lượng và thương hiệu khiến bài toán thị trường vẫn bị bỏ ngỏ.

* Bỏ tư duy “ăn xổi”

Theo đánh giá của ông Phan Văn Danh, Phó chủ nhiệm Hội Doanh nhân Việt kiều Úc, Giám đốc Hợp tác xã dịch vụ chăn nuôi Xuân Phú (huyện Xuân Lộc), chăn nuôi Việt Nam phát triển nhanh nhưng người chăn nuôi quá nóng vội và chỉ nhìn về lợi nhuận trước mắt nên xảy ra tình trạng lạm dụng kháng sinh, chất cấm gây mất lòng tin nơi người tiêu dùng.

Đưa ra góc nhìn khác về cơn khủng hoảng thịt heo vào năm 2017, ông Danh cho rằng: “Đây là “cú sốc” cần thiết giúp sàng lọc, loại bỏ bớt những yếu kém của ngành chăn nuôi, cũng là cơ hội để người chăn nuôi nhìn lại, thay đổi tư duy sản xuất. Đồng thời, là dịp để cơ quan chức năng ngồi lại đánh giá và đưa ra những chính sách sát thực tế hơn, quan tâm tổ chức lại nguồn dữ liệu thông tin về ngành chăn nuôi để cân đối hoạt động sản xuất”.

Cũng chính lối tư duy chạy theo năng suất, lợi nhuận trước mắt này là căn nguyên khiến nông dân vẫn làm theo lối “ăn xổi”, trì trệ trong chuyển đổi sang hướng sản xuất an toàn, trọng chất hơn lượng.

Là tỉnh có tổng đàn heo lớn nhất nước, vài năm trở lại đây, Đồng Nai đã triển khai nhiều chương trình truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm chăn nuôi. Được hưởng lợi chính từ các chương trình thí điểm trên là người chăn nuôi. Nhưng chính sự thờ ơ của họ lại đang là rào cản trong ứng dụng công nghệ cao xây dựng thương hiệu sản phẩm chăn nuôi bằng uy tín chất lượng.

Phó chủ tịch UBND huyện Thống Nhất Nguyễn Đình Cương nhận xét, triển khai chương trình truy xuất nguồn gốc cho heo đã khó, duy trì nó lại càng khó hơn vì người chăn nuôi vẫn làm theo kiểu ứng phó. Ngay cả khi có thông tin dịch tả heo châu Phi xuất hiện ở Việt Nam, thịt heo có nguồn gốc, đảm bảo về chất lượng được người tiêu dùng ưu tiên lựa chọn thì cũng chỉ các trang trại chăn nuôi lớn quan tâm; hộ chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn rất thờ ơ.

Cũng theo ông Cương: “Chỉ những chương trình khai báo về đàn heo khi được nhận hỗ trợ thì người chăn nuôi mới chủ động cung cấp thông tin. Còn lại, họ thường tránh né hoặc cung cấp thông tin chưa chính xác nên rất khó trong quản lý tổng đàn”.

* Triệt tận gốc “căn bệnh” phong trào

Trước những cơn khủng hoảng về thị trường nông sản hay khi tiếp cận những chương trình khuyến nông, hỗ trợ, nông dân có cùng một sự quan tâm là “với chương trình này, chúng tôi được hỗ trợ, giúp đỡ gì?”. Chính sự bị động này là rào cản nông dân hình thành tư duy mới, năng động khi bước vào hội nhập.

Vườn ươm giống cho dự án cánh đồng lớn ca cao tại Cty Ca cao Trọng Đức

Nhiều năm nay, Đồng Nai ưu tiên hỗ trợ nông dân thực hiện chứng nhận GAP (thực hành nông nghiệp tốt) cho hàng loạt các mặt hàng nông sản: rau, trái cây, sản phẩm chăn nuôi... Phong trào sản xuất VietGAP, GlobalGAP khi bắt đầu thì khá rầm rộ, thu hút đông đảo nông dân tham gia rồi dần im hơi, lặng tiếng. Nhiều vùng GAP không được tái chứng nhận và hầu như không có mấy thương hiệu hay sản phẩm GAP tạo được uy tín, thương hiệu trên thị trường.

Theo TS.Nguyễn Đăng Nghĩa, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu đất, phân bón và môi trường phía Nam, doanh nghiệp nước ta còn coi nhẹ thị trường nội địa. Đừng nghĩ chỉ làm nông sản sạch để xuất khẩu. Chính vì nghĩ như vậy nên chúng ta thua ngay trên sân nhà vì người tiêu dùng đang bỏ tiền mua gạo, thịt, trái cây nhập khẩu do không tin tưởng chất lượng nông sản nội địa.

Ông Ngô Văn Thân, Phó giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp - dịch vụ Tân Triều (huyện Vĩnh Cửu) thừa nhận: “Lần đầu làm chứng nhận VietGAP, GlobalGAP, nông dân được Nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí. Nhưng hầu hết nông dân không thực hiện việc tái chứng nhận. Điều đáng buồn hơn là không ít vườn bưởi trong vùng sản xuất theo hướng GAP xuất hiện tình trạng cây bị suy kiệt. Nguyên nhân chủ yếu là do các chủ vườn bỏ luôn quy trình sản xuất sạch, chạy theo lợi nhuận, lạm dụng phân thuốc để ép cây cho sản lượng cao”.

Cùng nỗi xót xa, bà Nguyễn Thị Kim Mai, chủ trang trại trồng các loại đặc sản mãng cầu dai hạt lép, xoài cát Hòa Lộc... tại xã Phú Ngọc (huyện Định Quán) ngậm ngùi: “Tôi đã tiếp nhiều khách hàng Nhật Bản đến đặt vấn đề xuất khẩu đặc sản trái cây Đồng Nai. Tôi vận động nông dân sản xuất sạch để xuất khẩu. Nhưng đa số họ lại chờ được hỗ trợ, chờ bán được giá cao mới chuyển đổi. Đây cũng là lý do trái cây Việt Nam rất ngon, rất phong phú nhưng nông dân mình vẫn nghèo hơn so với nông dân nhiều nước”.

* Làm mới tư duy quản lý

Khi nông sản “bí” đầu ra, nông dân là nạn nhân và cũng là người bị quy trách nhiệm đầu tiên. Nhưng cũng không thể bỏ quên sự lúng túng trong việc tìm những giải pháp căn cơ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước. Chất lượng nông sản vàng thau lẫn lộn, đầu ra bấp bênh do nhiều vấn đề chứ không hoàn toàn chỉ là câu chuyện sản xuất.

Vườn ươm giống chuối cấy mô ở huyện Xuân Lộc

Hàng chục năm qua, hầu hết các chương trình khuyến nông của Việt Nam, từ việc đổi giống mới, ứng dụng khoa học - kỹ thuật cao... đều hướng tới mục tiêu đạt sản lượng tối đa. Cùng với đó là sự tôn vinh những “vua” xoài, “vua” bắp, “vua” tiêu... đứng đầu về năng suất. Trong khi đó, cả cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, nông dân đều chưa quan tâm đúng mức, thậm chí mơ hồ về vấn đề quan trọng hàng đầu là thị trường tiêu thụ.

Theo đó, ngành nông nghiệp liên tục chứng kiến sự “vỡ trận” về quy hoạch, hết tăng trưởng “nóng” cây cao su, cà phê, tiêu rồi lại chặt tiêu, cà phê chuyển sang trồng chuối, sầu riêng, mít... Trong đó, có nguyên nhân rất lớn các cơ quan nhà nước chưa thể hiện rõ vai trò trong quản lý.

Là chuyên gia tư vấn về đầu tư cho các chủ doanh nghiệp Việt kiều ở Úc, ông Phan Văn Danh chỉ ra điểm yếu của thị trường nông sản Việt Nam: “Các nước có nền nông nghiệp phát triển cao trên thế giới thường tổ chức rất tốt về nguồn dữ liệu thông tin nên dự đoán được thị trường nông sản một cách chính xác trong nhiều năm liền để điều chỉnh sản xuất cho khớp. Trong khi đó, thông tin về ngành chăn nuôi của ta rất ít dữ liệu, có thì cũng thiếu chính xác và tính tổng quát nên quy hoạch chăn nuôi còn xa thực tế và cũng khó dò về mặt thị trường”.

Chất lượng nông sản vàng thau lẫn lộn, đầu ra bấp bênh cũng do khâu quản lý còn nhiều yếu kém. TS.Nguyễn Đăng Nghĩa, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu đất, phân bón và môi trường phía Nam chia sẻ: “Bản thân tôi không quá tin tưởng vào các chứng nhận GAP vì khâu quản lý còn thiếu sự minh bạch khiến thị trường này vẫn vàng thau lẫn lộn. Tôi ủng hộ các tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nguyện, phi lợi nhuận tham gia kiểm tra, giám sát về chất lượng nông sản; góp tay vào sự minh bạch cho thị trường thực phẩm”.

Bình Nguyên – Kim Ngân

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop