Tin nông nghiệp ngày 11 tháng 7 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 11 tháng 7 năm 2019

Vĩnh Long: Nông dân gấp rút thu hoạch lúa Hè Thu

Nguồn tin: Báo Vĩnh Long

Mưa to kèm theo gió mạnh những ngày qua đã khiến cho nhiều diện tích lúa Hè Thu đang trong giai đoạn thu hoạch trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long bị ảnh hưởng do đổ ngã, năng suất sụt giảm.

Hơn 100ha lúa Hè Thu bị đổ ngã do mưa bão.

Nhìn 4 công lúa đang chờ ngày thu hoạch, giờ hơn phân nửa đã ngã rạp ngoài đồng, bà Nguyễn Thị Bé Ba (ngụ xã Bình Phước- Mang Thít) chỉ còn biết ngậm ngùi xót của.

“Mấy hôm mưa quá, tôi cột lên để cho đỡ phần nào vậy thôi. Giờ kêu nhân công thu hoạch tay chứ máy khó mà cắt được, rồi phơi còn nhiêu đỡ bấy nhiêu”- bà Nguyễn Thị Bé Ba than thở.

Không riêng gì bà Bé Ba, ông Bùi Tuấn Khải- ngụ cùng địa phương- cũng đang gấp rút đợi máy cắt đến thu hoạch 1ha lúa OM 5451 “nằm” đồng. “Nếu mà mọi năm thì thu nhập là một công khoảng 30- 35 giạ, mà mưa bão kiểu này thì chắc còn khoảng chừng 20 mấy giạ thôi”.

Vụ lúa Hè Thu năm 2018- 2019, toàn tỉnh Vĩnh Long xuống giống trên 53.000ha. Đến thời điểm này bà con nông dân đã thu hoạch được khoảng 45.000ha, còn lại khoảng 8.000ha đang trong giai đoạn trổ, chín chờ thu hoạch. Mưa liên tiếp nhiều ngày qua đã làm cho trên 100ha lúa bị ảnh hưởng do đổ ngã, tập trung nhiều tại các huyện Mang Thít, Vũng Liêm, Tam Bình và Long Hồ với tỷ lệ thiệt hại từ 30-50%.

Hiện bà con đang cố gắng “cứu” lúa hoặc thu hoạch sớm những trà lúa bị ảnh hưởng.

Ông Nguyễn Văn Liêm- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh cho biết: “ Do ảnh hưởng của bão số 2 đã làm cho một số diện tích lúa còn lại đang ở vào giai đoạn trổ chín, sắp thu hoạch bị thiệt hại nặng nề.

Biện pháp tốt nhất hiện nay bà con nên chủ động tháo nước, càng nhanh càng tốt, càng khô càng tốt nhằm hạn chế tình trạng cây lúa nằm trong nước sẽ bị thối, kéo giảm tối đa việc thất thoát sau khi thu hoạch”.

Trước tình hình thời tiết diễn biến thất thường, ngành nông nghiệp khuyến cáo bà con nông dân nên thường xuyên thăm đồng, theo dõi trà lúa chưa thu hoạch khi phát hiện lúa đổ ngã nên thực hiện giải pháp rút nước, góp phần bảo vệ năng suất, chất lượng lúa thương phẩm.

Đồng thời, cần tranh thủ thu hoạch khi lúa đạt độ chín, hạn chế neo lúa trên đồng để giảm thất thoát. Dự kiến đến ngày 15/7 nông dân trong tỉnh sẽ thu hoạch dứt điểm diện tích lúa còn lại.

Bài, ảnh: NGỌC LIỄU

Huyện Phụng Hiệp (Hậu Giang): Sẽ đăng ký 6 sản phẩm sản xuất theo chuỗi giá trị công nghệ cao - an toàn - hữu cơ

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Hiện huyện Phụng Hiệp (tỉnh Hậu Giang) đang xây dựng và đăng ký thêm 6 sản phẩm đặc trưng sản xuất theo chuỗi giá trị công nghệ cao - an toàn - hữu cơ, gồm: sầu riêng xã Tân Bình, khóm MD2 xã Phương Bình, bưởi da xanh xã Phụng Hiệp, dưa lưới xã Bình Thành, cam xoàn xã Phương Phú và cam sành xã Tân Long.

Xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao - an toàn - hữu cơ là một trong những nhiệm vụ đột phát mà huyện Phụng Hiệp thực hiện năm 2019. Để xây dựng mô hình, từ đầu năm đến nay, huyện đã củng cố xây dựng hợp tác xã và tổ hợp tác kinh tế điển hình, hiệu quả, vận động Nhân dân chuyển đổi 833ha mía kém hiệu quả, cải tạo 100ha vườn tạp, hỗ trợ 45.000 cây giống chanh không hạt cho 7 hợp tác xã nông nghiệp, trị giá 540 triệu đồng, để nông dân thực hiện thí điểm. Huyện cũng đang hỗ trợ khoa học kỹ thuật, liên kết đầu ra với các doanh nghiệp thực hiện mô hình các loại cây trồng và sản phẩm đặc trưng theo khuyến cáo của địa phương, như: xoài cát chu (19ha), mãng cầu xiêm (23ha), cây tắc (39ha), sản xuất lúa an toàn, trồng rau an toàn, nuôi lươn trong bể bạc, thử nghiệm nuôi vịt sạch, sản phẩm đặc trưng cá thát lát, trà mãng cầu xiêm, rượu Lão Tửu. Để hoàn thành nhiệm vụ đột phá trong năm 2019, huyện đã chỉ đạo ngành nông nghiệp phối hợp với nhà khoa học xây dựng hoàn thành đề án “Phát triển kinh tế xanh” và đẩy nhanh tiến độ đề án quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn theo chủ trương của tỉnh.

THANH TRÚC

Giá măng cụt giảm mạnh so với đầu mùa

Nguồn tin: Báo Bà Rịa - Vũng Tàu

 

Măng cụt được bày bán tại chợ Vũng Tàu.

Theo thông tin từ các nhà vườn trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trong những ngày qua giá măng cụt liên tục giảm, chỉ bằng 1/2 so với đầu mùa. Cụ thể, thương lái thu mua mang cụt tại vườn chỉ 15-17 ngàn đồng/kg, giảm hơn phân nửa so với đầu vụ. Tại các chợ truyền thống, giá bán măng cụt còn 30-35 ngàn đồng/kg (đầu vụ từ 50-65 ngàn đồng/kg), tại các siêu thị bán lẻ như Vinmart +, Co.op Mart, Lotte Mart giá dao động từ 50-75 ngàn đồng/kg, giảm khoảng 15% so với đầu vụ.

Nguyên nhân giá giảm là do đang trong thời gian nở vụ, nguồn cung dồi dào.

Tin, ảnh: KIM HỒNG

Bơ Sơn La được xuất khẩu đi nhiều quốc gia

Nguồn tin: VOV

Tỉnh Sơn La hiện có hơn 1.000 ha trồng bơ, sản lượng năm nay ước đạt gần 4.000 tấn.

Từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm là tháng chính vụ thu hoạch quả bơ, tỉnh Sơn La phấn đấu xuất khẩu 50 tấn bơ sang Trung Quốc, Du Bai, Nhật Bản, và Hàn Quốc. Giá trị xuất khẩu ước đạt 50.000 USD.

Bơ Mộc Châu được nhiều người lựa chọn.

Tỉnh Sơn La hiện có hơn 1.000 ha trồng bơ, sản lượng năm nay ước đạt gần 4.000 tấn. Bơ được người dân trồng nhiều loại giống đa dạng như: Bơ nếp thon dài, thơm, dẻo; Bơ sáp béo ngậy; Bơ kép quả tròn dạng bóng đèn dây tóc sai quả; Bơ đốm trắng vỏ tím, ruột vàng và các loại giống khác. Đặc điểm chung là vỏ mỏng, da căng, thịt béo ngậy, ít sơ, không sượng.

Thời điểm này, những người trồng bơ ở Sơn La đang vào đầu vụ thu hoạch. Theo bà con nông dân, quả bơ có thể nặng từ 1 - 2,2kg. Giá bơ mua tại vườn trung bình từ 30.000đ - 35.000 đồng/kg.

Những quả bơ mẫu mã đẹp, được sử dụng đúng quy trình sản xuất, dùng phân hữu cơ có thể lên tới 40.000 - 50.000 đồng/kg đã mang lại thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình.

Quả bơ được thị trường tiêu thụ chủ yếu trong tỉnh, các siêu thị tại Hà Nội như: Fivimart, Metro, VinMart, các tỉnh như: Yên Bái, Lạng Sơn, Hà Nam, Hưng Yên, Thanh Hóa …

Thanh Thủy/VOV-Tây Bắc

Nhãn sớm giá cao gấp đôi

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Điều khiển nhãn ra hoa, đậu quả sớm, một số vườn nhãn ở tỉnh Hưng Yên đã cho thu hoạch và được bán với giá cao, dao động từ 60 - 70 nghìn đồng/kg.

Giá gấp 2 lần năm ngoái

Ông Bùi Xuân Tám, Giám đốc điều hành HTX sản xuất nhãn lồng Nễ Châu, xã Hồng Nam, thành phố Hưng Yên, cho biết: Năm nay, HTX có 3 gia đình tiến hành trồng nhãn sớm đang cho thu hoạch. Ước sản lượng nhãn sớm của HTX vào khoảng 4,5 tấn, bán với giá từ 50 đến 70 nghìn đồng/kg, cao hơn nhiều so với nhãn chính vụ và gấp 1,5 - 2 lần giá nhãn sớm năm 2018.

Ông Tám vui mừng vì giá nhãn năm nay gấp 1,5 lần năm 2018.

Gia đình ông Ngô Văn Chiến, thôn Cốc Khê, xã Phạm Ngũ Lão, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, một trong những hộ có nhãn thu hoạch rất sớm. Ông vui mừng chia sẻ: Hiện gia đình trồng 400 gốc nhãn Hương Chi với diện tích gần 5 mẫu. Vụ nhãn này ông thu được gần 10 tấn quả, thu lãi gần 400 triệu đồng.

Nhãn sớm năm nay đều được khách hàng đặt mua từ trước, chỉ đợi chín là đến thu luôn.

Biết cách xử lý cho nhãn ra hoa đậu quả sớm, hiện ông Bùi Bình Bắc ở thôn Thọ Lão, xã Quang Hưng, huyện Phù Cừ đã có nhãn bán được giá cao. Với 30 cây nhãn Hương Chi hơn 10 năm tuổi trên diện tích 3 sào vườn, ông Bắc rải vụ thành 3 trà gồm trà sớm, trà trung, trà muộn.

Hiện 10 cây nhãn sớm của ông Bắc đã cho thu hoạch. Quả nhãn cùi dày, giòn, dễ bóc, sắc nước, hạt nhỏ, vỏ mỏng, mã quả đẹp. Ước tính 10 cây nhãn sớm của ông Bắc sẽ cho thu khoảng 1,5 tấn quả, tương đương trên 60 triệu đồng.

Áp dụng khoa học công nghệ

Theo kinh nghiệm của các hộ thu hoạch nhãn sớm ở HTX nhãn lồng Nễ Châu, để năng suất nhãn không thua kém nhãn chính vụ, nhưng bán với giá cao gấp 2 đến 3 lần, những năm gần đây nhiều nhà vườn đã điều khiển cho nhãn ra hoa, đậu quả sớm.

Ông Bùi Xuân Tám, Giám đốc điều hành HTX sản xuất nhãn lồng Nễ Châu, xã Hồng Nam, thành phố Hưng Yên, cho biết: "HTX được thành lập từ tháng 11/2016, hiện có 26 thành viên với 12,8ha sản xuất theo hướng VietGAP. Áp dụng khoa học kỹ thuật nên sản lượng nhãn của HTX năm nay vẫn đạt 70-80%".

Ông Tám chia sẻ thêm: Nhãn là loại cây ảnh hưởng rất nhiều bởi thời tiết. Để điều khiển nhãn ra hoa theo ý muốn, phải thường xuyên kiểm tra nhiệt độ thời điểm trước khi báo nụ. Nếu thấy chớm rét cần tiến hành bổ sung phân bón và phun thuốc kích thích ra hoa, đậu quả ngay để cây sinh trưởng và ra hoa đúng như mong muốn.

Không giống HTX Nễ Châu, chủ vườn Ngô Văn Chiến lại có cách xử lý và kinh nghiệm riêng.

Để có nhãn sớm so với chính vụ 30 ngày, ông Chiến đã mất 2 năm nghiên cứu, thử nghiệm.

Ông Chiến thu hoạch thành quả ngọt ngào sau 3 năm lao động hăng say.

Ông Chiến giải thích: Theo phương pháp chăm sóc truyền thống, cây nhãn sẽ ra hoa vào thời điểm giữa tháng 11, đầu tháng 12 âm lịch. Tuy nhiên, thời điểm đó sẽ rét làm ảnh hưởng tới quá trình ra hoa, đậu quả. Chính vì vậy, tôi đã nghiên cứu lùi thời điểm ra hoa và cho cây đậu quả nhỏ trước khi đợt rét đến. Đặc thù quả nhãn là dù có gặp rét cũng chỉ chậm phát triển chứ không hề bị rụng.

Và để sản xuất được một vụ nhãn sớm, sau khi thu hoạch đợt cuối phải tiến hành bón phân ngay để cây nhanh chóng ra lộc giúp cây khỏe mạnh. Trước khi cây ra nụ, bón các loại phân hữu cơ, phun chế phẩm sinh học lên khắp tán để kìm hãm cây ra nụ, đơm hoa.

HƯNG GIANG

Nghệ An: Ứng dụng công nghệ cao - làm giàu từ nông nghiệp

Nguồn tin: Khuyến Nông VN

Những năm qua, phong trào phát triển kinh tế, làm giàu tại quê hương được nhiều thanh niên tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Nam Đàn nói riêng hưởng ứng tích cực. Chàng thanh niên trẻ Lê Cảnh Hiếu - Bí thư Chi đoàn xóm 5, xã Nam Anh là một trong trong 25 gương mặt tiêu biểu được Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Nghệ An tuyên dương "Thanh niên sản xuất, kinh doanh giỏi" năm 2018.

Tốt nghiệp Khoa Nông Lâm Ngư - Trường Đại học Vinh, sau khi ra trường, với kinh nghiệm hơn một năm làm việc ở Isarel và nhiều năm công tác ở lĩnh vực giống cây trồng, Hiếu quyết định khởi nghiệp từ mảnh vườn của gia đình. Hiếu gom góp toàn bộ vốn liếng là hơn 500 triệu đồng đầu tư cải tạo đất vườn, mua sắm trang thiết bị, cây giống. Để sớm có thu nhập, chàng kỹ sư trẻ đã dành hơn một nửa diện tích để trồng ổi lê Đài Loan vì đây là loại cây dễ trồng và dễ tiêu thụ. Phần đất còn lại, một phần Hiếu trồng cam Xã Đoài, một phần Hiếu để ươm cây giống. Ngoài ra Hiếu xây dựng khu nhà lưới ứng dụng công nghệ cao 1000m2 để luân canh sản xuất rau củ quả an toàn.

Lê Cảnh Hiếu bên sản phẩm dưa lưới của mình Vụ Hè Thu 2019, Hiếu đầu tư sản xuất dưa lưới công nghệ cao trong nhà lưới. Toàn bộ cây đều được trồng trên giá thể xơ dừa đã qua xử lý mầm bệnh trộn lẫn với đất, sử dụng các loại phân bón vi sinh và ứng dụng hệ thống tưới tiết kiệm tự động. Sau hơn 2 tháng thâm canh, cây dưa lưới phát triển tốt, sạch sâu bệnh, dự kiến năng suất đạt khoảng 2 tấn quả. Với giá thị trường hiện nay 40.000 - 45.000 đồng/kg sẽ cho doanh thu khoảng 80 - 90 triệu đồng/vụ. Diện tích trồng ổi lê Đài Loan cũng cho thu nhập cao, thương lái đến tận ruộng thu mua với giá 15.000 - 20.000 đồng/kg. Diện tích trồng cam cũng sắp cho quả. Như vậy, mỗi năm gia đình anh Hiếu thu nhập từ các loại cây trồng bình quân trên 250 triệu đồng/năm. Bằng niềm đam mê và nghị lực phấn đấu, bước đầu mô hình của thanh niên Lê Cảnh Hiếu đã đưa lại nhiều kết quả khả quan, trở thành mô hình điểm trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại huyện Nam Đàn.

Mô hình trồng dưa lưới của Hiếu là nơi nhiều bạn trẻ đến tham quan, học tập

Hoài Phương

Tiền Giang: Trồng nấm rơm giúp nông dân thị xã Cai Lậy tăng thu nhập

Nguồn tin: Báo Tiền Giang

Những năm gần đây, nông dân các xã phía Bắc thị xã Cai Lậy đã tận dụng rơm rạ trong sản xuất nông nghiệp để phát triển nghề trồng nấm rơm, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nhiều nông hộ. Nấm rơm được trồng chủ yếu ở các xã Mỹ Phước Tây, Tân Hội, Tân Phú, Mỹ Hạnh Trung và Mỹ Hạnh Đông.

Theo nhiều nông dân, nấm rơm dễ trồng, chi phí thấp, trồng được 3 vụ/năm, chủ yếu lấy công làm lời. Sau khi thu hoạch lúa, người dân vận chuyển rơm lên liếp để chất thành lớp và tưới nước thấm đều cọng rơm, ủ khoảng 10 - 15 ngày, chất rơm thành dòng khoai, ngang 25 cm, dài tùy theo khuôn viên đất rộng hay hẹp. Dùng meo rải lên mặt rơm và phủ thêm lớp rơm thứ hai nhằm giữ độ ấm, kích thích meo phóng tơ tạo trứng cá, 10 ngày sau cho thu hoạch. Bình quân trồng 1.000m2 đất sẽ cho thu hoạch khoảng 1 tấn nấm, giá bán dao động từ 40.000 - 50.000 đồng/kg, trừ chi phí nông dân thu lãi 10 - 15 triệu đồng. Sau khi thu hoạch nấm, rơm phân hủy thành phân hữu cơ, dùng bón cho cây ăn trái hoặc trồng hoa màu rất tốt.

Thảo Quyên - Tấn Cường

Hà Tĩnh: Làm giàu trên đất hoang từ hai bàn tay trắng

Nguồn tin:  Khuyến Nông VN

Bằng bàn tay, khối óc và ý chí quyết tâm cao, vợ chồng chị Võ Thị Loan ở thôn Anh Hùng, xã Thượng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã “khai hoang thục phá” vùng đất bỏ hoang tại đồi Kỷ Vọ để xây dựng nên trang trại tổng hợp rộng 5ha với doanh thu tiền tỷ mỗi năm.

Lập gia đình, được cha mẹ cho ra ở riêng trong một túp lều tranh 1 gian, một đầu nấu nướng, một đầu ngủ và sinh hoạt. Cuộc sống nghèo khổ đã nhen nhóm và nung nấu ý chí thoát nghèo trong vợ chồng chị Loan. Năm 1994, anh chị quyết định thuê lại mảnh đất bỏ hoang của Hợp tác xã chăn nuôi bò, để bắt đầu xây dựng kinh tế.

“Lúc đó, vùng đất của gia đình chỉ là đồi núi hoang sơ, đường đi khó khăn, nhìn ra chỉ thấy cây dại và cỏ mọc um tùm. Ngày này qua tháng khác, dưới ánh mặt trời và cả ánh trăng, thậm chí là ánh đèn dầu, anh chị cần mẫn đào từng gốc cây, cải tạo lại từng mét vuông đất. Mất gần 2 năm công tác cải tạo, phá bỏ vườn tạp mới cơ bản xong” – Chị Loan nhớ lại.

Cải tạo được mảnh đất nào, anh chị trồng ngô và thả bò, nuôi gà… diện tích nhỏ nên quanh năm không đủ ăn. Cuộc sống của gia đình chị vô cùng khó khăn, chật vật khi các con lần lượt ra đời. Năm 2008, anh chị đã quyết tâm mua 100 gốc cam từ Hương Sơn (Hà Tĩnh) về trồng với mong ước khi cây có quả sẽ có thêm thu nhập cho các con bớt khổ. Cần mẫn, chịu khó mà vẫn công cốc, cây cam cứ chết dần, không có kiến thức lẫn kinh nghiệm nên anh chị không biết nguyên nhân gì. Hai năm sau, khi đã thấm mùi thất bại, không nản chí, anh chị bắt đầu tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm từ những nhà trồng cam giỏi của làng, của tỉnh rồi mạnh dạn đề xuất với chính quyền để được tham gia các lớp tập huấn, đào tạo kỹ thuật sản xuất nông nghiệp. Năm 2010, khi đã có cơ sở hơn, anh chị đã mạnh dạn vay vốn đầu tư, mua 200 gốc cam về trồng. Đến nay, trang trại của chị đã có 2.000 gốc cam. Mỗi năm, gia đình chị thu hoạch 30 - 50 tấn cam với giá bán 35.000 đồng/kg.

Chị Võ Thị Loan bên vườn cam sai trĩu cành của gia đình

Chị Loan chia sẻ: “Cam là cây cực kỳ khó tính, nếu không có kiến thức và kinh nghiệm thì không thể thành công. Tuy nhiên, giống cây khá phù hợp với đất đồi, đất sỏi nơi đây. Cái khó là trồng thế nào để cây cho năng suất cao, chất lượng tốt và thu hoạch được lâu dài. Vì vậy, gia đình chị đã áp dụng quy trình VietGAP và thực hiện trồng, chăm bón, thu hái đúng quy trình kỹ thuật. Để hướng tới sản phẩm sạch, hiện nay các loại phân hữu cơ và chế phẩm vi sinh được sử dụng rộng rãi, các phương pháp phòng trừ sâu hại bằng bẫy bả và các dung dịch hữu cơ tự pha chế từ tỏi, gừng, rượu, ớt cay…được sử dụng đại trà. Để cây cam được bền, đậu quả nhiều thì cần rải rơm rạ hoặc ủ trấu dưới gốc cùng với phân chuồng ủ hoai vào đúng thời điểm để cây có đủ dinh dưỡng phát triển tốt”. Nhờ chăm bón theo đúng quy trình nên cây nào cây nấy sinh trưởng tốt và cho quả sai cành.

Để nâng cao hiệu quả kinh tế, bên cạnh tăng cường áp dụng các biện pháp thâm canh, đồng thời tích cực xây dựng thương hiệu, quảng cáo sản phẩm bằng việc tham gia các hội chợ, mở kênh quảng cáo bằng zalo, facebook… Ngoài ra, để tận dụng diện tích có sẵn và đa dạng các loại cây trồng, tăng thu nhập cho gia đình, chị Loan còn tìm hiểu và trồng thêm gần 300 gốc cây ăn quả khác, đào 1ha ao thả cá và nuôi hàng trăm con gia cầm các loại. Trang trại trù phú gần 5 ha, mỗi năm mang lại cho gia đình chị doanh thu trên 1 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 3 lao động thường xuyên và 10 lao động thời vụ với mức thu nhập 250.000 đồng/ngày.

Thành quả hôm nay là kết tinh của mồ hôi, công sức, ý chí quyết tâm và khối óc trong lao động, sáng tạo của hai vợ chồng chị. Gia đình chị trở thành một trong những hộ làm kinh tế vườn đồi tiêu biểu nhất của xã Thượng Lộc với vinh dự nhiều lần được nhận bằng khen của huyện, của tỉnh. Chủ tịch UBND xã Thượng Lộc, anh Nguyễn Xuân Diệu khẳng định: “Chính sự chăm chỉ và kiên trì cùng khát khao làm giàu đã đem đến cho gia đình chị thành quả như ngày hôm nay. Anh chị là tấm gương sáng, góp phần lan tỏa và khuyến khích các mô hình kinh tế của địa phương.”

Kim Thịnh

Chuyển dịch cây trồng, vật nuôi để tăng thu nhập

Nguồn tin:  Báo An Giang

Với phương châm sản xuất theo nhu cầu thị trường, nông dân TX. Tân Châu (tỉnh An Giang) đã chủ động nắm bắt thông tin từ thị trường, từ đó lựa chọn những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, “đầu ra” tốt để sản xuất. Vì vậy, đời sống của bà con được cải thiện đáng kể, sản phẩm làm ra tiêu thụ tốt.

Giảm lúa, tăng màu

Đi đầu trong phong trào vận động nông dân chuyển dịch nuôi trồng những cây, con có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ tốt, trước hết phải kể đến các xã: Long An, Phú Vĩnh, Vĩnh Hòa, Vĩnh Xương, Tân Thạnh. Ở xã Vĩnh Xương có mô hình trồng xoài Keo, xoài cát Hòa Lộc, trồng dưa lưới trong nhà màng. Ở xã Long An, ngoài diện tích trồng rau màu, địa phương này còn có thế mạnh trong phát triển thủy sản lồng bè, nuôi các loài cá chợ để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu sang Campuchia. Xã Phú Vĩnh có mô hình sản xuất cây giống trong nhà màng, nhà lưới; trồng hoa lan, cây kiểng.

“Năm 2015 và 2016, khi thương lái Trung Quốc vào tận đây tìm mua xoài Keo, xoài cát Hòa Lộc, xoài Cát Chu, nhiều hộ nông dân đã sang Campuchia thuê đất trồng xoài rồi mang về bán cho thương lái Trung Quốc. Thời điểm đó, xoài Keo có lúc lên đến 24.000 đồng/kg. Bình quân mỗi công (xoài từ 5-7 năm tuổi), cho năng suất từ 6-7 tấn. Với mức giá trên, có những công xoài doanh thu mỗi năm hơn 100 triệu đồng. Bắt được tín hiệu này, nhiều nông dân nơi đây đã chuyển sang trồng xoài, nhờ vậy đời sống nâng lên đáng kể, có điều kiện cho các con đi học trong và ngoài nước” - ông Trần Thanh Tuấn (xã Vĩnh Xương) thông tin.

Ngoài trồng xoài, ở các xã: Vĩnh Xương, Phú Lộc, Vĩnh Hòa còn có mô hình trồng các loại cây có múi như: cam xoàn, bưởi da xanh, quýt đường, chanh bông tím, trái hạnh… Những mô hình này đã thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhà nông. “Trước đây trồng lúa, mỗi vụ lúa, 1 công lãi không được 2,5 triệu đồng, thời gian kéo dài đến 3 tháng. Những năm lúa không có giá, gia đình phải đi vay tiền nóng bên ngoài để sản xuất, chi tiêu. Từ khi chuyển sang trồng cây ăn trái, cuộc sống gia đình rất tốt, không còn đi hỏi vay bên ngoài mà tiền lời bình quân mỗi năm trên 100 triệu đồng” - chị Trương Thị Lệ (xã Vĩnh Hòa) chia sẻ.

Phát triển thủy sản

Phong trào chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn TX. Tân Châu đang phát triển rầm rộ. Đến nay đã có 860ha đất trên địa bàn được chuyển sang trồng các loại cây ăn trái, rau màu. Chỉ tính riêng vùng đất Châu Phong - Long An, diện tích trồng rau màu để xuất khẩu sang Campuchia và tiêu thụ nội địa lên đến 300ha. TX. Tân Châu đang tiếp tục vận động nông dân nhân rộng mô hình trồng các loại rau ăn lá, cải tùa sậy, cải bắp, khổ qua, dưa leo để bán cho thương lái Campuchia. “Chúng tôi không thể làm một cách tự phát như trước đây, bởi đi kèm với việc chuyển dịch sang trồng rau màu, cây ăn trái phải tính đến hệ thống thủy lợi nội đồng cho phù hợp với từng loại cây, con. Chuyển dịch theo chủ trương không sai quy hoạch tổng thể của thị xã, mặt khác có được hạ tầng tốt để phục vụ tưới tiêu” - ông Lê Công Nam (xã Châu Phong) phân tích.

Ở TX. Tân Châu ngày nay, bên cạnh cây lúa, rau màu và các loại cây ăn trái, địa phương này đang phát triển mạnh phong trào nuôi thủy sản. Sản phẩm thủy sản nơi đây, ngoài xuất khẩu sang Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU), Trung Quốc, Mexico (đối với cá tra), các loại cá khác như: cá điêu hồng, cá mè vinh, cá he, cá lóc, cá rô, cá trê để phục vụ thị trường nội địa. “Năm nay, do bệnh dịch tả heo Châu Phi xuất hiện trên địa bàn tỉnh, vì vậy các loại cá chợ tiêu thụ rất tốt, giá cả cao. Cụ thể, cá he có giá trên 50.000 đồng/kg, cá lóc 42.000 đồng/kg, cá điêu hồng 38.000 đồng/kg, nhờ đó ngư dân có đời sống rất tốt” - chị Lê Thị Lan (xã Long An) chia sẻ.

Thời gian tới, TX. Tân Châu sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển thủy sản khu vực ven sông Tiền, sông Hậu từ 300ha lên 500ha/năm vào năm 2020. Phát triển các vùng nuôi cá theo tiêu chuẩn xuất khẩu như: VietGAP, GlobalGAP để sản phẩm của nông dân được tiêu thụ tốt trên thị trường.

“Để quá trình chuyển dịch cây trồng, vật nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh việc sản xuất theo tín hiệu của thị trường, ngành nông nghiệp TX. Tân Châu đang vận động nông dân đi vào con đường làm ăn hợp tác, thông qua mô hình hợp tác xã kiểu mới và tổ hợp tác. Đây là tiền đề quan trọng để phát triển một nền nông nghiệp bền vững”- Phó Chủ tịch UBND TX. Tân Châu Đặng Văn Nê phân tích.

Bài, ảnh: MINH HIỂN

Xây trung tâm hỗ trợ nông dân đầu tiên trên cả nước

Nguồn tin:  Khoa Học Phổ Thông

Công ty cổ phần Lavifood đã tổ chức lễ động thổ Trung tâm hỗ trợ nông dân Lavifarm - trung tâm hỗ trợ nông dân đầu tiên trên cả nước tại xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, đồng thời công bố Giải pháp phần mềm hỗ trợ nông dân e-Farm, hiện thực hóa mục tiêu đồng hành phát triển cùng nông dân Việt Nam.

Là mô hình đầu tiên ra đời tại Việt Nam, Trung tâm hỗ trợ nông dân Lavifarm tại Trà Vinh đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và tư vấn các loại cây trồng phù hợp với nhu cầu thị trường và quy hoạch chung; cung cấp và xây dựng giải pháp kỹ thuật và vật tư nông nghiệp cũng như hỗ trợ sơ chế và bảo quản nông sản kết hợp vùng trồng thực nghiệm đối với người nông dân tại Trà Vinh. Trung tâm sẽ đào tạo nông dân thành công nhân nông nghiệp, đổi mới để nâng cao tính cạnh tranh của nông sản, xây dựng thương hiệu nông sản địa phương, liên kết và hợp tác để bảo đảm lợi ích cho nông dân.

Công trình nằm trên khu đất có diện tích gần 17 ha tại xã Bình Phú, huyện Càng Long, gồm 4 khu vực chính: khu vực siêu thị, khu vực dịch vụ, khu vực sơ chế đóng gói và khu vực kho. Trung tâm cũng là nơi tập kết và bao tiêu nông sản cho bà con nông dân. Dự kiến, trung tâm sẽ được đưa vào hoạt động từ tháng 6/2020.

Công suất của trung tâm hỗ trợ nông dân: cấy ghép và ươm trồng các loại cây thân mềm 1.000.000 cây/năm; ươm cây 1.500.000 cây/năm; dây chuyền đóng gói rau ăn lá và rau ăn củ 15,6 tấn/ngày; kho mát 300 tấn; kho lạnh 1.000 tấn; vườn trồng thực nghiệm 10 ha, tổng sản lượng ước tính khoảng 250 tấn rau củ quả.

Mô hình Trung tâm hỗ trợ nông dân Lavifarm là mắt xích quan trọng phát triển mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao định hướng thị trường trên nền tảng logistics trong ngành rau củ quả do Viện kinh tế nông nghiệp hữu cơ sáng lập và vận hành. Trung tâm hỗ trợ nông dân Lavifarm Trà Vinh khi hoàn thành sẽ trở thành công trình mang tính biểu tượng cho người nông dân Trà Vinh, đáp ứng nhu cầu liên kết và hợp tác, nâng cao tính cạnh tranh của nông sản Trà Vinh.

Hệ thống quản lý nông nghiệp e-Farm là giải pháp kết hợp các công nghệ hiện đại 4.0 vạn vật kết nối (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI), giúp nông dân lập kế hoạch, giám sát và phân tích các hoạt động trên vùng trồng một cách chủ động, dễ dàng như: khâu chuẩn bị làm đất, cây giống, trồng, phân bón, tưới tiêu, giám sát chất lượng, thu hoạch và tất cả các hoạt động khác được quản lý tập trung trên hệ thống.

Với nền tảng kiến thức và kinh nghiệm về các quy trình thực tế tốt nhất được phân tích cho các loại cây trồng trên từng loại đất, hệ thống có thể giúp nông dân và các hợp tác xã theo dõi sốlượng và chi phí sử dụng, giờ làm việc cho mọi hoạt động trong vùng trồng, quản lý doanh thu và lợi nhuận cho từng mùa vụ.

L.A

Mô hình chăn nuôi heo khép kín đạt hiệu quả cao

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Tái cấu trúc ngành chăn nuôi là mục tiêu mà tỉnh Cà Mau đang triển khai thực hiện có hiệu quả trong những năm trở lại đây.

Hộ nuôi tự quyết định giá

Hiện nay, tại nhiều trang trại chăn nuôi heo sạch trên địa bàn tỉnh Cà Mau đều có một cách thức, quy trình chăn nuôi rất riêng, nhưng tính hiệu quả đạt rất cao. Bên cạnh sự hiệu quả, thì việc quyết định giá không phải do thương lái mà người quyết định chính là do hộ chăn nuôi.

Tuy nhiên, để hộ nuôi là người quyết định giá, điều trước tiên họ phải làm đó là chăn nuôi theo quy trình khép kín, sạch bệnh và không sử dụng chất kháng sinh gây hại đến sức khỏe con người từ khi bắt đầu thả nuôi đến khi xuất chuồng.

Anh Hồ Quốc Thắng, ngụ xã Tân Lộc, huyện Thới Bình chia sẻ thông tin với Báo NNVN.

Anh Hồ Quốc Thắng, ngụ xã Tân Lộc, huyện Thới Bình (Cà Mau) là người đi tiên phong trong việc nuôi lợn sạch khép kín và không sử dụng chất kháng sinh ở huyện Thới Bình. Hiện trang trại của anh Thắng có được 50 con heo nái, 200 con heo thịt.

Trung bình mỗi tháng, anh Thắng sẽ cho xuất chuồng từ 40 – 50 con. Mang về khoản thu nhập từ 80 – 100 triệu đồng (kể cả việc bán heo giống). “Có nhiều hộ nuôi heo thắc mắc với tôi rằng, tại sao cùng là heo, trọng lượng như nhau, nhưng thương lái họ mua của tôi với giá cao hơn của họ. Khi đó, tôi giải thích với họ rằng tại heo của họ chưa đủ chuẩn nên thương lái không mua giá đó. Hiện tại, trại tôi bán ra giá 4,7 triệu đồng/100kg” anh Thắng cho biết.

Hiện tỉnh Cà Mau có tổng đàn lợn khoảng gần 94.500 con. Trên địa bàn tỉnh hiện có nhiều trang trại chăn nuôi lợn sạch khép kín, cho năng suất và chất lượng rất cao.

Anh Thắng còn cho biết, một thực tế hiện nay là do hộ nuôi thường đỗ lỗi cho thương lái, nhưng nếu khách quan, công bằng mà nói, thì phải thông cảm cho thương lái. Vì heo họ nuôi có hàm lượng mỡ cao nên họ không thể nào bán giá cao được. “Lái có quyền mua rẻ hơn, tôi nuôi heo tôi biết, nên thường giá cả là do tôi quyết định hoàn toàn, chứ không phải do lái đâu.

Heo tôi nạc ở tiêu chuẩn đó, giá thị trường mua là 4,7 triệu, thì heo tôi phải bán 4,9 triệu. Còn nếu con nào mỡ, tôi sẳn sàng bán 4,5 – 4,6, triệu đồng. Những con mà tôi định giá tốt rồi thì phải bán giá tốt, chớ không phải lái quyết định giá đâu” anh Thắng chia sẻ.

Khi chúng tôi băn khoăn về điểm khác biệt giữa heo nhà dân nuôi với heo trang trại của anh Thắng thì được anh giải thích rằng, nó khác nhau nhiều lắm. Đôi khi người dân không hiểu họ nói bị thương lái ép, nhưng thật sự thương lái họ không ép mình, mà nguyên nhân chính là do bản thân con heo của mình. “Nếu đem con heo nạc khi giết mổ ra chợ thì các đầu mối ở sạp thịt họ sẽ lấy ngay.

Ngược lại, nếu con heo đó nhiều mỡ, chất lượng thịt kém, đầu mối sẽ phải hạ giá xuống. Nguyên nhân hạ giá là vì, người mua lúc nào họ cũng ưa chuộng và chọn mua thịt heo nạc. Như vậy, nếu lái mua giá thấp là vì họ bị bạn hàng ngoài chợ ép lại, nên họ mới ép dân thôi, lỗi không phải ở họ”, anh Thắng nhìn nhận khách quan.

Anh Thắng giới thiệu mô hình ủ phân heo thành phân hữu cơ để bón cho cây trồng.

Tương tự, trang trại chăn nuôi heo của ông Nguyễn Trung Hưng ở xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời cũng cho thấy hiệu quả về yếu tố chất lượng, thịt heo khi cung ứng ra thị trường đều được cơ quan thú y kiểm định rất nghiêm ngặt và đóng dấu kiểm định về chất lượng. Điều quan trọng vẫn là yếu tố giá cả. “Heo của tôi khi giết thịt đều có giá bán rất cao, bởi 100% là heo đạt tiêu chuẩn nạc.

Thông thường, tại một số lò giết mổ họ còn bơm nước vào heo để tăng trọng lượng, nhưng ở đây tôi không làm như vậy. Điều đó, sẽ ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của trại heo. Bởi vậy, muốn nuôi heo giá tốt, trước tiên người nuôi phải chú trọng đến chế độ ăn cho vật nuôi”, ông Hưng nói.

Theo tìm hiểu của PV giá heo nạc lúc nào cũng cao hơn heo mỡ là do, thứ nhất là yếu tố tâm lý, khách hàng thường mua heo thịt về sử dụng trong bữa ăn. Một điểm đáng chú ý, con heo nạc thì bơm nước vào để tăng trọng lượng, còn heo mỡ thì bơm nước không vào. Theo đó, nhiều lái heo cho rằng, việc bơm nước vào heo rất lời. Một con heo nạc có trọng lượng 100kg, sau khi giết mổ (cắt bỏ phần đầu và nội tạng) vẫn còn nguyên 100kg.

Mỗi con heo mà chất lượng nạc đảm bảo thì các đối tượng bơm nước vào tăng từ khoảng 20kg. Còn heo mỡ, bơm nước không vô, có chăng khoảng 5kg là cùng vì bản chất của mở không thấm nước. Nhưng hành vi đó chỉ có ở bọn buôn gian, bán lận. Còn việc, người dân nuôi lợn sạch, đạt chất lượng, bán giá cao là chuyện rất bình thường và rất cần được nhân rộng.

Quy trình nuôi quyết định sự thành bại

Để rõ hơn về khâu chăn nuôi lợn khép kín, đạt tiêu chuẩn chất lượng, PV báo NNVN đã đến trang trại chăn nuôi lợn sạch của anh Hồ Quốc Thắng, ngụ xã Tân Lộc, huyện Thới Bình để tìm hiểu về quy trình nuôi ở trang trại này. Đặc biệt, trang trại nuôi của anh Thắng tự sản xuất ra con giống để nuôi, nên yếu tố dịch bệnh luôn được kiểm soát chặt chẽ.

Heo đực giống tại trang trại của anh Thắng được chăm sóc theo chế độ đặc biệt, trọng lượng của heo đạt 300kg.

Anh Thắng cho biết, khi lợn mẹ sinh con, tối đa khoảng 25 ngày thì anh tách sữa. “Khi heo con đủ 25 ngày là tôi tách sữa, 30 ngày tuổi tôi chuyển heo con sang chế độ nuôi trên sàn theo chế độ chăm sóc đặc biệt. Trại tôi có làm một cái sàn, cách mặt đất khoảng 2 – 3 cm.

Ông Nguyễn Thành Huy, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Cà Mau cho biết: Tái cấu trúc ngành chăn nuôi đã được tỉnh tập trung triển khai từ nhiều năm nay và bước đầu đã thấy được hiệu quả. Những mô hình nuôi khép kín, an toàn dịch bệnh và không sử dụng hàm lượng kháng sinh thì rất cần được nhân rộng.

Cách nuôi này, khác với người nuôi truyền thống ở chỗ là không bỏ heo dưới đất. Tôi mất 1 tháng để nuôi heo con đạt trọng lượng 25kg. Sau đó, tôi đưa xuống chuồng. Từ giai đoạn này, nuôi heo đến 100kg chỉ mất từ 2,5 – 3 tháng” anh Thắng chia sẻ.

Nói về tính hiệu quả khi nuôi lợn trên sàn, có gì khác biệt so với nuôi dưới đất, thì anh Thắng nói: “Khác nhiều chứ, nếu heo con sau khi tách sữa mà chuyển xuống đất, khi gặp môi trường đất ẩm thấp, chúng dễ bị tiêu chảy. Để trên sàn và trông đèn thì heo không bị tiêu chảy vì nó không bị lạnh. Khi chúng ta can thiệp vắc – xin hoặc chuyển đổi thức ăn heo sẽ không bị sốc, stress thức ăn”. Đồng thời, việc vệ sinh chuồng trại cũng rất dễ dàng, thuận lợi.

Theo nhận định của người nuôi, điểm khác biệt giữa nuôi lợn dưới đất và trên sàn, thì tốc độ lớn của heo trên sàn sẽ nhanh hơn và an toàn dịch bệnh hơn. Việc chăn nuôi trang trại, yếu tố tiên quyết để quyết định thành công là đảm bảo an toàn dịch bệnh. Vì vậy, hộ nuôi phải bón vôi sát trùng xung quanh chuồng trại, cách lối vào với khoảng 100m.

Anh Thắng nói, trước đây anh từng nuôi heo dưới đất nhưng kém hiệu quả, heo thường bị tiêu chảy và không bao lâu thì chuyển sang bệnh Ecoli dẫn đến heo bị chết hàng loạt. “Từ lúc tôi nuôi, trên sàn thì tỷ lệ hao hụt trên đàn heo con chỉ chiếm khoảng 2 – 3% thôi.

Tức là, 100 con, chỉ hao 2, 3 con và đó chỉ là mấy con đèo đẹt sau khi tách sữa mẹ. Khi heo con nuôi trên sàn đủ chuẩn, mình chuyển sang giai đoạn nuôi thúc thì nó đã có dốc, hình thù sẳng rồi. Khi xuống đất thì nuôi nhanh lớn lắm. Tùy giai đoạn mà mình xử lý thức ăn, nếu giá cao thì mình có thể thúc nhanh hơn một chút. Heo tôi nuôi 100kg là heo đạt chuẩn nạc theo quy định.

Hộ nuôi thường xuyên phun thuốc sát trùng đề phòng dịch bệnh trên đàn heo.

Với anh Thắng, một trong những yếu tố quyết định sự thành công của người nuôi heo là phải thực hiện tiêm phòng cho heo khi mới sinh ra.

“Heo trong bụng mẹ là tiêm ngừa 2 mũi vắc-xin còi cọc, LMLM. Có số trại người ta tiêm mũi ngừa chủng Ecoli. Nhưng đối với trại tôi thì không cần, bởi vì thức ăn tôi dùng là cám Nhật kháng được bệnh Ecoli. Khi sinh ra, tôi tiêm thêm 6 mũi nữa là 6 bệnh. Trong 30 ngày là tôi sử lý xong 6 mũi luôn”, anh Thắng nói.

Ông Lê Vương Cảnh, kỹ sư có chuyên ngành Chăn nuôi Thú y, Cty Kyodo Sojitz (Nhật Bản) cho biết: “Đặc tính của cám Nhật là loại thức ăn được SX theo quy trình khép kín, sạch bệnh an toàn cho vật nuôi. Đặc biêt, cám Nhật Kyodo Sojitz là loại thức ăn chăn nuôi không có hàm lượng kháng sinh, nên không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Heo nuôi sử dụng loại thức ăn này sẽ không bị mắc bệnh Ecoli”.

Địa phương luôn khuyến khích những hộ nuôi theo hình thức trang trại có hiệu quả. Mô hình nuôi khép kín, nếu vệ sinh chuồng trại đúng quy trình thì vật nuôi không mắc bệnh, thịt đạt tiêu chuẩn theo quy định. Đó là mục tiêu mà ngành chăn nuôi tỉnh Cà Mau hướng đến”.

Ông Huy khuyến còn khuyến cáo, người dân nên lựa chọn con giống đảm bảo chất lượng, cho năng suất cao tại những cơ sở có uy tín. Trong quá trình nuôi cần tuân thủ nghiêm ngặt quy định về bảo vệ môi trường thông qua việc ứng dụng quy trình, kỹ thuật công nghệ mới như: hầm biogas, men sinh học, ủ phân hữu cơ..., để xử lý môi trường trong chăn nuôi.

TRỌNG LINH - TRẦN DUY

Lão nông huấn luyện bò không ăn lúa

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Lão nông Nguyễn Văn Thắng ở thôn Động Xá, thị trấn Kim Động, Hưng Yên được coi là dị nhân nuôi bò. Bởi dưới sự quản lý điều hành của lão, gần 60 con bò các loại chăn thả trên đồng suốt năm, nhưng không con nào dám ăn lúa của dân.Lão nông Nguyễn Văn Thắng ở thôn Động Xá, thị trấn Kim Động, Hưng Yên được coi là dị nhân nuôi bò. Bởi dưới sự quản lý điều hành của lão, gần 60 con bò các loại chăn thả trên đồng suốt năm, nhưng không con nào dám ăn lúa của dân.

Bằng cách chăn nuôi nói trên, mỗi năm lão Thắng đã xuất chuồng được gần 8.000kg bò thịt, thu lãi 600 triệu. Đạt được tỷ suất thu nhập cao tuyệt đối như vậy, là do lão Thắng có nhiều bí quyết chăn nuôi giúp tối đa hóa lợi nhuận.

Ông Thắng chủ yếu nuôi bò cái cho sinh sản bê con làm bò thịt. Phối giống nhân tạo cho bò mẹ từ các nguồn tinh năng suất chất lượng cao. Tất cả số bê sau sinh đều nuôi tới trọng lượng tối đa mới xuất bán. Chăn thả tự nhiên cho bò tự kiếm ăn rơm cỏ sẵn có trên các cánh đồng.

Ngoài ra, sau mỗi mùa gặt hái, lão Thắng còn tranh thủ gom nhặt được hàng chục tấn rơm rạ làm thức ăn dự trữ cho bò trong các tháng khan hiếm cỏ xanh. Đặc biệt, lão còn có bí quyết huấn luyện bò, không dám ăn lúa khi được thả tự do kiếm cỏ trên đồng.

Trang trại nuôi bò của lão Thắng.

Mới đầu nhiều người dân trong làng, xóm còn hồ nghi, nhưng sau nhiều lần kiểm tra, không thấy hao khuyết lúa, họ mới tin tưởng lão Thắng tuyệt đối.

Theo đó thường ngày lão Thắng chỉ phải lùa bò ra khỏi trại, rồi tìm nơi bóng mát nghỉ ngơi, đến giờ nghỉ thì dùng roi hoặc đèn pin ra hiệu, là cả đàn bò nối đuôi nhau về đúng nơi qui định.

Theo bật mí của lão Thắng: Để bò không ăn lúa của dân, phải rèn dạy ngay từ khi bê con mới tập ra ăn cỏ ngoài đồng, nếu thấy con nào la liếm lúa phải dùng roi quất mạnh vào mông và miệng chúng, vài lần như vậy là con bê trông thấy lúa sẽ chừa không ăn, nhưng vẫn cần theo dõi rèn cặp 6-7 tháng sau chúng mới thuần hẳn.

Mặt khác các loại gia súc đều có tính bầy đàn, khi cả đàn bò mẹ không ăn lúa, thì các bò con cũng sẽ bắt chước theo. Một khó khăn nữa khi chăn thả trên đồng là, trâu bò rất dễ ăn phải loại cỏ mới phun hóa chất diệt cỏ, trong trường hợp này bò không chết, nhưng sẽ bị tiêu chảy ảnh hưởng tới khả năng tăng trọng.

Để giảm thiểu nguy cơ bò ăn phải cỏ có thuốc trừ cỏ, ngay trước và sau gieo cấy, người chăn nuôi tuyệt đối không cho bò kiếm ăn trên các bờ ruộng lúa, chỉ chăn thả trên các gò đống, đường lớn và bờ sông trục.

Để tránh nắng cho bò và người trông coi, chỉ nên thả bò ra đồng vào những khi trời mát, mùa hè có thể chăn bò tới 10 giờ đêm. Khi bò bị bệnh cần nuôi cách ly, không cho ăn cám ngô, cám gạo, cám công nghiệp, chỉ cho ăn rơm, cỏ kết hợp dùng kháng sinh điều trị.

Nhìn chung, các loại đại gia súc đều phàm ăn, dễ nuôi, ít bệnh và tốn ít công lao động. Chú ý tiêm phòng lở mồm long móng vào đầu năm và tụ huyết trùng khoảng cuối năm là có thể yên tâm về phần dịch bệnh.

“Chu kỳ sinh sản của bò cái kéo dài 12-15 năm (mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con). Nên nuôi bò chuyên đẻ chỉ cần đầu tư con giống 1 lần, sẽ cho thu lợi 12-15 năm” – lão Thắng bật mí thêm.

Đàn bò của lão Thắng.

Nhớ lại những ngày mới khởi nghiệp nuôi bò, lão Thắng vẫn còn ái ngại: “Khi đó gia đình tôi thuộc diện nghèo khó nhất làng, cuộc sống quanh năm giật gấu vá vai, nghĩ mãi không biết làm gì để bớt khó khăn. Cuối cùng tôi đánh liều vay tiền tín dụng, mua 6 con bê cải về nuôi cho nhẹ vốn, rồi dắt đi chăn trên các bờ ruộng, mặc cho chúng giao phối tự do với bò đực trên đồng. Nào ngờ hơn 2 năm sau tôi đã có thêm 6 con bê sinh ra từ đàn bò mẹ.

Được đà tất cả số bê cái sinh ra hàng năm tôi đều giữ nuôi làm bò giống, bê đực chăn lớn bán làm bò thịt. Cứ như vậy, chỉ trong vòng 6 năm tôi đã nhân rộng được đàn bò nuôi thường xuyên gần 60 con, bao gồm 36 con chuyên đẻ và 18 con chuyên thịt.

Do chăn thả tự nhiên, không ăn thêm cám công nghiệp, nên các loại bò thịt của tôi đều bán được giá cao hơn 10-12% so với bò cùng loại của gia đình khác. Kết quả hơn 10 năm nuôi bò, gia đình tôi đã có được cuộc sống sang chảnh, mà rất nhiều người dân đang còn mơ ước".

“Do chăn nuôi đơn giản, giàu nhanh, giàu dễ dàng, nên đó đây đã có người gièm pha châm chọc tôi: Nhà cao cửa rộng, ô tô, xe máy... không thiếu thứ gì, mà vẫn không dám hưởng thụ, lại ra giữa đồng không mông quạnh ở với bò, điện đóm không có, bàn ghế giường nằm cũng không. Trời hành! Nhưng từ nay đến cuối năm tôi vẫn tiếp tục nâng số lượng bò nuôi thường xuyên lên hơn 70 con, trong đó có 40 con chuyên đẻ, cho phối giống nhân tạo bằng tinh cọng vàng (BBB)” – lão Thắng chia sẻ.

Lào Cai: Hỗ trợ người chăn nuôi lợn chuyển đổi sản xuất

Nguồn tin: Báo Lào Cai

Cùng với chỉ đạo quyết liệt khoanh vùng dập dịch, UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các địa phương nhanh chóng hoàn tất thủ tục hỗ trợ người chăn nuôi có lợn buộc phải tiêu hủy do dịch tả lợn châu Phi, đồng thời có chính sách hỗ trợ vốn, kỹ thuật khuyến nông để các hộ chủ động chuyển đổi vật nuôi, sớm ổn định cuộc sống.

Tính đến ngày 26/6, dịch tả lợn châu Phi đã gây thiệt hại cho gần 1.200 hộ dân ở 215 thôn, tổ dân phố của 56 xã, phường, thị trấn tại 9/9 huyện, thành phố. Với chủ trương không được tái đàn lợn trong vùng dịch bệnh, chính quyền các địa phương đã chủ động hỗ trợ người chăn nuôi lợn chuyển đổi sản xuất. Trong đó, nhiều hộ chăn nuôi lợn bị ảnh hưởng bởi dịch tả lợn châu Phi đã chuyển sang đối tượng vật nuôi khác như gia cầm, thủy sản và gia súc lớn.

Chị Nguyễn Thị Thanh (thôn Na Lin, xã Bản Lầu, huyện Mường Khương) cho biết: Dịch tả lợn châu Phi xảy ra, gia đình không tái đàn mà chuyển sang nuôi bò. Theo chị Thanh, bò ít bị bệnh, sinh sản tốt nên sẽ cho hiệu quả kinh tế cao. Bò nái mỗi năm đẻ 1 lứa và bê sau 1 năm nuôi có giá trị hơn 10 triệu đồng. Nuôi bò có chi phí đầu tư ban đầu cao hơn nuôi lợn do con giống đắt nhưng lại tận dụng được thức ăn từ sản xuất nông nghiệp (rơm, lá ngô, ngô hạt...).

Nhiều hộ chuyển sang nuôi bò để ổn định cuộc sống.

Hộ ông Nguyễn Văn Doanh ở tổ dân phố số 5, thị trấn Nông trường Phong Hải, huyện Bảo Thắng, là một trong những hộ có số lợn tiêu hủy nhiều nhất tỉnh đến thời điểm này (125 con). Do quy mô chăn nuôi lớn nên sau khi lợn nhiễm bệnh phải tiêu hủy, trong kho của gia đình ông còn hơn 3 tấn cám. Để tận dụng nguồn thức ăn này, ngay sau khi hoàn tất việc tiêu hủy đàn lợn bị nhiễm bệnh, ông Doanh vệ sinh, khử trùng chuồng trại để chuẩn bị chuyển sang nuôi gà. Theo tính toán của ông Doanh, với 8 chuồng nuôi lợn trước đây có thể cải tạo để nuôi hơn 1.000 con gà. Nuôi gà khoảng 4 đến 6 tháng là có thể xuất bán và thu nhập gia đình sẽ ổn định trở lại.

Tuy nhiên, không phải hộ nào cũng có sẵn nguồn vốn để chuyển đổi sản xuất. Như hộ ông Phạm Văn Khá ở thôn Na Nối, xã Bản Xen, huyện Mường Khương, có 40 con lợn (hơn 2 tấn) bị nhiễm bệnh tả lợn châu Phi vừa buộc phải tiêu hủy. Đây là tổn thất nặng nề nhất về kinh tế của gia đình ông từ trước đến nay. Hiện ông còn nợ ngân hàng 80 triệu đồng mà trước đó vay để xây dựng chuồng trại và mua cám, chưa biết trả nợ bằng cách nào. Ông muốn sửa chữa chuồng trại chuyển sang nuôi bò, trâu sinh sản nhưng bế tắc về vốn. Ông Khá ngậm ngùi: “Gia đình tôi muốn nuôi khoảng 3 đôi trâu, 2 đôi bò nhưng hiện chưa đủ vốn. Chúng tôi mong sớm nhận được tiền hỗ trợ của Nhà nước vì có lợn tiêu hủy để trả bớt nợ, đồng thời được tiếp tục vay vốn phục vụ phát triển sản xuất”.

Để tháo gỡ khó khăn cho người dân, nhiều địa phương đã có những chính sách kịp thời, phù hợp. Tại huyện Bảo Yên, hàng trăm hộ dân bị thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi đang đề nghị huyện hỗ trợ vốn để nuôi trâu sinh sản, nuôi vịt bầu và gà thả đồi. Ông Hà Văn Quang, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bảo Yên cho biết: Huyện đã làm việc và thống nhất với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Bảo Yên về hỗ trợ cho các hộ bị thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi. Theo đó, đối với các hộ chăn nuôi bị thiệt hại do dịch, ngân hàng sẽ cơ cấu lại nợ, kéo dài thời gian trả nợ; giảm lãi tiền vay, không thu lãi quá hạn; hộ chăn nuôi có thể trực tiếp đến các chi nhánh để đề nghị hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn. Đặc biệt, ngân hàng sẽ đầu tư mới để người dân tiếp tục sản xuất, chăn nuôi, có thu nhập và thanh toán vốn vay. Phía đơn vị chức năng của huyện đã tiến hành rà soát, đánh giá cụ thể tình hình phát triển chăn nuôi tại các xã, đồng thời quy hoạch lại vùng sản xuất đối với từng loại vật nuôi như nuôi trâu sinh sản, nuôi vịt, gà thả đồi... từ đó có phương án hỗ trợ các hộ chuyển đổi chăn nuôi đạt hiệu quả cao nhất.

Dịch tả lợn châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, gây tổn thất lớn về kinh tế, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, môi trường và đời sống của người dân. Để người dân yên tâm, chủ động khai báo khi lợn nhiễm bệnh và vơi bớt khó khăn bởi tổn thất do dịch bệnh gây ra, tỉnh Lào Cai sẽ hỗ trợ tất cả các trường hợp có lợn phải tiêu hủy bắt buộc do mắc dịch bệnh hoặc nằm trong vùng có dịch. Quy định mức hỗ trợ cho chủ có lợn bị tiêu hủy do dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn là: Đối với lợn con, lợn thịt các loại bằng 80% giá thị trường tại thời điểm tiêu hủy và tại địa phương có dịch bệnh; đối với lợn nái, lợn đực giống đang khai thác bằng 1,5 lần so với mức hỗ trợ các loại lợn khác.

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lưu ý: Nhiều hộ dân trong tỉnh có ý định nuôi lợn trở lại song theo chỉ đạo của tỉnh và ngành nông nghiệp là không tái đàn cho đến khi công bố hết dịch. Các hộ chăn nuôi có lợn bị tiêu hủy nên tận dụng chuồng trại có sẵn, chuyển đổi sang các vật nuôi khác phù hợp với từng vùng, từng địa phương, trong đó ưu tiên nuôi gia cầm vì vòng đời ngắn, vốn đầu tư không lớn. Bên cạnh đó, các huyện: Bát Xát, Bắc Hà, Si Ma Cai, Bảo Yên ngoài nuôi gia cầm nên tận dụng đất vườn đồi để phát triển đàn dê, trâu, bò, ngựa…

KIM THOA

Lào Cai: Hướng đến xây dựng thương hiệu để phát triển bền vững nghề nuôi ong mật

Nguồn tin: Khuyến Nông VN

Hỗ trợ Nhóm hộ/Tổ hợp tác phát triển bền vững nghề nuôi ong mật, chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng về sản phẩm mật ong, cung cấp thông tin sản phẩm tới người tiêu dùng, xây dựng bao bì nhãn mác, xây dựng nhãn hiệu, nâng cao giá trị sản phẩm, giá trị thu nhập cho người sản xuất mật ong; thay đổi phương thức sản xuất nhỏ lẻ manh mún, không đảm bảo nguồn gốc xuất xứ sang sản xuất theo nhóm hộ (liên kết sản xuất), sản xuất hàng hóa có nhãn hiệu/thương hiệu, minh bạch thông tin sản phẩm là một trong những hoạt động khuyến nông Lào Cai đang tích cực triển khai thực hiện.

Năm 2018, Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp tỉnh Lào Cai đã hỗ trợ 2 xã: Xuân Quang, Phong Niên (huyện Bảo Thắng) thực hiện mô hình “Nuôi ong mật chất lượng cao” thuộc dự án “Xây dựng mô hình nuôi ong mật chất lượng cao trong nông hộ tại các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung Tây Nguyên, giai đoạn 2016-2018”. Quy mô thực hiện mô hình là 200 đàn ong nội/10 hộ tham gia. Thông qua mô hình, các hộ được tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, cung cấp giống vật tư; cán bộ kỹ thuật hướng dẫn và giám sát các hộ thực hiện mô hình đảm bảo theo quy trình kỹ thuật thực hành chăn nuôi ong tốt, an toàn (VietGAHP).

Đến nay, các đàn ong thuộc mô hình cho năng suất 18,28 kg/đàn/năm (cao hơn đối chứng 2,28 kg/đàn/năm), thu nhập 2,66 triệu đồng/đàn/năm. Một lao động có thể nuôi 100 đàn ong, do đó thu nhập có thể đạt 200-250 triệu đồng/năm. Các hộ nuôi ong thuộc mô hình cơ bản đã thành thạo kỹ thuật, có tay nghề, tạo ra sản lượng mật ong ổn định, chất lượng cao, an toàn, hướng đến các tiêu chuẩn VietGAP. Cũng chính từ mô hình, nhiều hộ dân tại 2 xã Xuân Quang, Phong Niên (huyện Bảo Thắng) đã tiếp tục mở rộng quy mô nghề ong. Tuy nhiên, sản phẩm mật ong cần được xây dựng nhãn hiệu, có tem nhãn, bao bì truy xuất nguồn gốc, chứng minh được nguồn gốc xuất xứ, công bố chất lượng mật ong, tạo niềm tin tới người tiêu dùng. Do đó năm 2019, Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp tỉnh tiếp tục tư vấn, hỗ trợ người nuôi ong xây dựng nhãn hiệu, hoàn thiện sản phẩm để nâng cao chất lượng, giá trị thu nhập và phát triển bền vững nghề nuôi ong mật.

Trung tâm Khuyến nông và DVNN tỉnh Lào Cai đang triển khai các bước nhằm duy trì và phát triển sản phẩm mật ong của địa phương

Trại ong mật của gia đình anh Cao Văn Chiến, thôn Nậm Dù là một trong những cơ sở nuôi ong có quy mô lớn nhất của xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng. Với 700 đàn ong ngoại và 300 đàn ong nội, mỗi năm trại ong của anh Chiến thu hoạch khoảng 6.000 lít mật, mang lại nguồn thu ổn định vài trăm triệu đồng/năm. Tuy nhiên, cho dù chất lượng mật ong có đảm bảo nhưng thiếu đi nhãn mác, bao bì sản phẩm đã ảnh hưởng đến sản xuất của gia đình anh Chiến. Anh Chiến chia sẻ: "Khó khăn lớn nhất hiện nay là chưa có nhãn hiệu cho sản phẩm mật ong. Vì vậy rất mong được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp, các ngành, để xây dựng nhãn hiệu cho sản phẩm, giúp sản phẩm mật ong nơi đây được vươn xa hơn nữa".

Tại xã Xuân Quang, mỗi hộ gia đình có từ vài chục đến vài trăm đàn ong, thu hàng trăm, thậm chí hàng nghìn lít mật mỗi năm, tuy nhiên đầu ra cho sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn. Do chưa có tem nhãn nên dù chất lượng mật tốt nhưng vẫn chưa được biết đến rộng rãi trên thị trường. Ông Mai Văn Trường, thôn Hang Đá, xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng cho biết thêm: "Nếu có chứng nhận của các cơ quan chức năng thì tôi tin chắc rằng mật ong của chúng tôi sẽ được nhiều khách hàng tin dùng, bán sẽ dễ hơn bây giờ".

Nhằm tìm ra giải pháp để tiếp tục duy trì và phát triển bền vững nghề nuôi ong mật trên địa bàn, Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp tỉnh đã cùng các nhóm hộ nuôi ong ở Xuân Quang và Phong Niên họp bàn về việc thành lập tổ hợp tác nuôi ong mật chất lượng cao, triển khai xây dựng tem nhãn thương hiệu, thực hiện công bố tiêu chuẩn chất lượng và gắn tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm mật ong, kết nối thị trường cho sản phẩm mật ong của địa phương. Chính quyền và nhân dân kì vọng việc có được tem nhãn, có truy xuất nguồn gốc sẽ là điều kiện thuận lợi để nông dân Xuân Quang tiếp tục mạnh dạn đầu tư mở rộng các cơ sở nuôi ong, tập trung sản xuất mật chất lượng cao cung cấp ra thị trường trong và ngoài nước. Ông Phạm Quốc Vương, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng cho biết: "Chúng tôi luôn vận động người dân chăn nuôi an toàn, chất lượng, vì vậy chúng tôi tuyên truyền để người dân nuôi ong thành lập các nhóm và tham gia vào chương trình mỗi xã một sản phẩm, xây dựng mật ong Xuân Quang để sản phẩm phát triển, nâng cao thu nhập cho người dân".

Hiện xã Xuân Quang đang duy trì trên 2.000 đàn ong mật, tập trung ở các nhóm hộ tham gia mô hình nuôi ong mật chất lượng cao do Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp tỉnh triển khai năm 2019. Bên cạnh đó, còn một số hộ gia đình nuôi ong với quy mô nhỏ. Năm 2018, sản lượng mật ong của xã Xuân Quang đạt trên 17.000 lít, với giá bán trung bình khoảng 200.000 đồng/lít, nghề nuôi ong đã mang lại thu nhập tương đối ổn định cho bà con nhân dân. Do đó với hướng đi đúng đắn mà khuyến nông Lào Cai đã và đang thực hiện sẽ góp phần nâng cao giá trị của sản phẩm mật ong địa phương, đồng thời đóng góp vào thành công trong chương trình Mỗi xã một sản phẩm tại địa phương./.

Thanh Lê

Hiếu Giang tổng hợp

 

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop