Tin nông nghiệp ngày 12 tháng 4 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 12 tháng 4 năm 2019

Sản xuất cây ăn trái ở ĐBSCL: Ðối mặt với nhiều thách thức

Nguồn tin: Báo Cần Thơ

ÐBSCL là vùng sản xuất cây ăn trái (CAT) trọng điểm của cả nước với nhiều chủng loại đặc sản có giá trị xuất khẩu cao. Tuy nhiên, tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu đã đặt ngành sản xuất CAT của khu vực trước những thách lớn trong phát triển bền vững.

Việc sản xuất phân tán, nhỏ lẻ dẫn đến khó khăn cho đầu tư cơ sở hạ tầng, tổ chức liên kết sản xuất và kiểm soát chất lượng sản phẩm trái cây.

Sản xuất cây ăn trái ở ĐBSCL rất nhiều tiềm năng nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức.

Sản xuất nhỏ lẻ, khó kiểm soát chất lượng

ĐBSCL hiện có khoảng 307.000ha CAT, chiếm gần 40% diện tích CAT của cả nước, hằng năm cung cấp cho thị trường khoảng 4 triệu tấn trái, gồm: chuối, xoài, cam, nhãn, khóm, bưởi, sầu riêng, thanh long, chôm chôm, quýt… ĐBSCL cũng là nơi có nhiều giống CAT bản địa ngon nổi tiếng như xoài cát Hòa Lộc, xoài cát chu, vú sữa Lò Rèn, sầu riêng Chín Hóa, bưởi da xanh, bưởi Năm Roi, quýt hồng... Những năm qua, ĐBSCL không chỉ là vùng trồng CAT chủ lực cung cấp trái cây cho các tỉnh, thành trong nước mà còn đóng vai trò quan trọng trong cung cấp nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu. Trong đó, trái xoài đang được thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc ưa thích; thanh long, nhãn, vúa sữa, chôm chôm đã xuất khẩu sang Mỹ với sản lượng gia tăng hằng năm. Bưởi da xanh, Năm Roi đang được các thị trường châu Á có nhu cầu nhập khẩu dạng tươi. Riêng thanh long là mặt hàng quả xuất khẩu chủ lực với khoảng 1,1 tỉ USD năm 2018.

Theo ông Lê Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - NN&PTNT), có thể chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong sản xuất và tiêu thụ trái cây ở ĐBSCL, như: quy mô diện tích mỗi hộ còn thấp và thiếu tập trung, trừ cây khóm và cây thanh long có vùng trồng khá tập trung; việc sản xuất phân tán, nhỏ lẻ dẫn đến khó khăn cho đầu tư hạ tầng, tổ chức liên kết sản xuất và kiểm soát chất lượng sản phẩm. “Nông dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính, mỗi nhà vườn có cách áp dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật khác nhau, tình trạng này dẫn đến trong cùng một loại trái cây nhưng chất lượng và an toàn thực phẩm khác nhau. Các doanh nghiệp rất khó có được khối lượng hàng đủ lớn với chất lượng đảm bảo và đồng đều về kích thước, ngoại hình trái. Sản xuất trái cây an toàn theo quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP) tuy đã hình thành tại các vùng trồng CAT, nhưng diện tích trồng đạt theo quy trình này còn rất hạn chế”- ông Tùng cho biết.

Tại Hội thảo Sản xuất cây ăn quả bền vững do Viện Cây ăn quả miền Nam tổ chức mới đây tại Tiền Giang, các chuyên gia nông nghiệp, nhà khoa học đều đánh giá tiềm năng của ĐBSCL trong cung cấp nguồn hàng trái cây xuất khẩu còn rất lớn, không chỉ các thị trường truyền thống mà còn xuất đi các thị trường khó tính. Cơ hội gia tăng giá trị xuất khẩu trái cây những năm tới có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực như sản xuất rau quả an toàn theo quy trình GAP, chất lượng rau quả được nâng lên, Việt Nam đang tăng cường đàm phán với các nước nên hứa hẹn thị trường sẽ tiếp tục được mở rộng.

Thách thức từ biến đổi khí hậu

Ông Nguyễn Văn Hòa, Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam, cho biết: Những năm gần đây, thị trường rau quả của Việt Nam tăng trưởng tốt. Riêng năm 2018, Việt Nam đã xuất sang hơn 60 quốc gia, đạt kim ngạch khoảng 3,8 tỉ USD. Tuy kết quả khả quan nhưng một trong những thách thức lớn nhất hiện nay của ngành sản xuất CAT ở ĐBSCL là sự tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Hạn hán và xâm nhập mặn đã gây thiệt hại nặng về mặt kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng, phát triển của các vườn CAT. “Để thích ứng với biến đổi khí hậu, phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp cho vùng ĐBSCL, chúng ta cần thay đổi sản xuất theo khoa học và đẩy mạnh sản xuất CAT theo hướng hữu cơ để sản phẩm bền vững, có thể cạnh tranh tốt ở thị trường thế giới”- ông Hòa nói.

Trong bối cảnh nhu cầu thị trường trái cây ngày càng khắt khe về chất lượng, nhất là yếu tố an toàn thực phẩm, nếu không có sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc sản xuất theo hướng an toàn, sẽ dẫn đến nhiều thách thức lớn trong duy trì xuất khẩu ở mức cao và bền vững. Đặc biệt, đại bộ phận trái cây sản xuất được sử dụng dưới dạng ăn tươi, chế biến rất hạn chế, điều này cũng trở thành điểm yếu trong xuất khẩu trái cây đi các thị trường xa và khó tính. Đối với nhiều loại trái cây, do có thời gian bảo quản ngắn, tỷ lệ hư hỏng cao, thiếu điều kiện chế biến, công nghệ sau thu hoạch kém, đã và đang dẫn đến nhiều phiền toái cho nhà vườn và doanh nghiệp kinh doanh trái cây. Bên cạnh đó, an toàn thực phẩm là một vấn đề hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc sản xuất trái cây không đảm bảo an toàn sẽ làm giảm khả năng tiếp cận thị trường dẫn đến phát triển không bền vững.

Theo ông Lê Thanh Tùng, thời gian tới cần triển khai thực hiện hiệu quả Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”. Tiếp tục mở rộng diện tích một số CAT chủ lực có giá trị xuất khẩu như chuối, xoài, khóm, nhãn... phục vụ tốt nhu cầu tiêu thụ nội địa, hạn chế nhập khẩu và gia tăng xuất khẩu. “Tập trung nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm, giảm giá thành; tăng tỷ lệ sản phẩm có chứng nhận (an toàn, GAP, hữu cơ,...), đẩy mạnh sản xuất rải vụ thu hoạch. Nâng cao năng lực bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch cả về số lượng và chất lượng. Tăng cường chế biến sâu các sản phẩm trái cây, gia tăng giá trị sản xuất đồng thời tránh các hàng rào kỹ thuật đối với các sản phẩm tươi sống, mở rộng thị trường, tăng khối lượng và giá trị xuất khẩu. Xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, chứng nhận bảo hộ độc quyền thương hiệu hàng hóa tại Việt Nam cho các loại trái cây đặc sản” - ông Tùng nhấn mạnh.

Theo Cục Trồng trọt, những năm gần đây, diện tích CAT các tỉnh phía Nam liên tục tăng. Từ 1996 - 2005 diện tích CAT tăng bình quân khoảng 7%/năm; sau đó, tốc độ tăng diện tích chậm lại (từ 2009 - 2012) và từ năm 2013 đến nay, diện tích tăng bình quân tăng khoảng 4,2%/năm. Năm 2018, diện tích CAT ước đạt 596.331ha (chiếm 60% diện tích CAT cả nước); tổng sản lượng trái cây đạt hơn 6,6 triệu tấn (chiếm khoảng 67% sản lượng cả nước), tăng trên 61% so năm 2010 (2,5 triệu tấn).

Những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu rau quả nước ta liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, từ 151,5 triệu USD năm 2003 lên đạt 2,458 tỉ USD năm 2016, bình quân tăng 1,25 lần/năm. Năm 2018, giá trị xuất khẩu rau quả đạt 3,8 tỉ USD, tăng trên 47,3% so năm 2017, trong đó ước tính các sản phẩm từ trái chiếm trên 80% tổng giá trị. Các thị trường xuất khẩu trái cây lớn được mở rộng, năm 2004 có 13 thị trường xuất khẩu có giá trị trên 1 triệu USD. Năm 2018, có 13 thị trường xuất khẩu lớn có giá trị trên 25 triệu USD; bên cạnh Trung Quốc là thị trường lớn nhất (chiếm 73,1% thị phần), nhiều loại trái cây nước ta đã được xuất khẩu vào các thị trường khó tính: Mỹ (3,7%), Hàn Quốc (3,0%), Nhật Bản (2,8%), Hà Lan (1,6%); tiếp đến là Malaysia, Thái Lan, Úc, Đài Loan, Các tiểu vương quốc Á-rập Thống nhất (lần lượt từ 1,2 - 1,0%).

Bài, ảnh: Bình Nguyên

Đắk Lắk: Bơ trái vụ trúng mùa, được giá

Nguồn tin: Báo Đắk Lắk

Nhiều nông dân trồng bơ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk phấn khởi vì năm nay bơ trái vụ ra quả nhiều, giá bán cao hơn các năm trước.

Gia đình anh Nguyễn Ngọc Đức (thôn 7, xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin) hiện có hơn 50 cây bơ từ 4-6 năm tuổi, thuộc giống trái vụ đang cho quả. Cứ tầm tháng 10 hằng năm, cây bắt đầu ra hoa, đậu quả nhiều đợt, cho thu lai rai đến hết tháng 5 năm sau. Nhờ ưu điểm quả to đều (1 quả nặng từ 5-7 lạng), khi chín vỏ vẫn giữ nguyên màu xanh, cơm vàng, hạt nhỏ, rất thơm ngon nên được khách hàng ưa chuộng. Vào dịp Tết Nguyên đán vừa qua, bơ nhà anh đã cho quả bán, giá 120 nghìn đồng/kg, về sau giá “hạ nhiệt” dần song không khi nào xuống dưới 60 nghìn đồng/kg bán tại vườn. Do bơ ra nhiều đợt, mỗi lần hái chỉ được gần 1 tạ, khách muốn mua phải đặt trước. Cũng vì số lượng có hạn nên anh Đức chủ yếu bán lẻ cho khách “ruột” ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… Ước tính sau vụ thu hoạch, gia đình anh thu về hơn 300 triệu đồng/50 gốc bơ.

Thương lái gom mua bơ trái vụ.

Khác với các loại cây trồng khác, bơ đậu quả trái vụ phần lớn là do giống cây quyết định chứ không phải kỹ thuật canh tác. Bơ trái vụ có hai dòng là sớm vụ (từ tháng 3 đến tháng 6) và muộn vụ (từ tháng 9 đến tháng 12). Cứ đến khoảng thời gian trên, cây sẽ ra hoa đậu quả tự nhiên, người dân chỉ việc tưới nước, bón phân hợp lý cho cây. Ưu điểm của bơ trái vụ là cho lượng quả nhiều hơn từ 10-20%, quả bơ to đều, đẹp và ít bị sâu bệnh hơn so với chính vụ.

Có một yếu tố khác ảnh hưởng đến quá trình cây bơ đậu quả sớm là thời tiết. Nếu trời mưa - nắng bất thường sẽ tác động đến quá trình sinh trưởng, khiến cây bị “tức” và bung hoa trước vụ. Nhà anh Y Klung Niê (buôn Tring, thị xã Buôn Hồ) có 40 cây bơ sáp trồng xen trong vườn cà phê. Tháng 10 năm ngoái trời xuất hiện nhiều cơn mưa muộn đã kích thích bơ ra hoa, đậu quả sớm. Những năm trước, nhà anh cũng có bơ ra trái sớm song chỉ có 2-3 cây; nay vườn có tới 10 cây đậu quả trước vụ cả tháng. Những cây trồng trên 5 năm cho quả mỗi cây từ 3-4 tạ. Nhờ ra trái vụ, bơ bán được giá cao gấp chục lần chính vụ. “Loại bơ này vào đúng vụ chỉ có giá từ 1-2 nghìn đồng/kg. Rẻ quá nên cả người mua lẫn người bán đều không ham, lắm lúc để rụng đầy gốc. Còn giờ thương lái vào tận vườn mua hái “xô”, giá 14-15 nghìn đồng/kg lại không đủ bán”, anh Y Klung Niê chia sẻ. Hiện gia đình anh đã thu được hơn 20 triệu đồng từ bơ trái vụ, các cây còn lại đang tiếp tục ra trái, hứa hẹn vụ mùa bội thu.

Bơ trái vụ của gia đình anh Nguyễn Ngọc Đức (thôn 7, xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin).

Bơ trái vụ được mùa, được giá nông dân mừng, thương lái cũng vui theo. Bà Hiền - thương lái buôn trái cây lâu năm tại thị xã Buôn Hồ cho hay, bơ sớm vụ năm nay có giá cao hơn các năm trước từ 3-4 nghìn đồng/kg. Bơ được trồng tự nhiên, không thuốc hóa học, thuốc kích thích lại tốt cho sức khỏe nên thị trường rất ưa chuộng. Mỗi ngày bà thu mua hơn 2-3 tạ vẫn không đủ bơ để bỏ mối cho khách hàng.

Đắk Lắk là nơi có điều kiện khí hậu, đất đai khá phù hợp để trồng cây bơ. Cây bơ chủ yếu trồng xen trong vườn cà phê, tiêu… tạo bóng mát, tăng độ ẩm, giúp cân bằng môi trường sinh thái cho cây trồng. Tuy là cây xen canh, song những năm gần đây, bơ lại cho thu nhập khá cao. Hiện toàn tỉnh có hơn 3 nghìn ha bơ, sản lượng ước đạt gần 40 nghìn tấn. Các huyện có diện tích cây bơ lớn gồm: Cư M’gar, Krông Búk, Ea H’leo, Cư Kuin, Krông Pắc, thị xã Buôn Hồ…

Huỳnh Thủy

Mỹ Tú (Sóc Trăng): Thu nhập ổn định nhờ trồng mãng cầu xiêm

Nguồn tin: Cổng TTĐT tỉnh Sóc Trăng

Những năm gần đây, anh Hà Văn Sinh, sinh năm 1969 (ấp Thiện Tánh, xã Thuận Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng) được nhiều người biết đến với thành công từ việc mạnh dạn chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng mãng cầu xiêm đạt hiệu quả kinh tế cao.

Trước đây, gia đình anh Sinh chỉ chuyên canh tác lúa, nhưng do đất bị nhiễm phèn nên năng suất thấp, cuộc sống gia đình gặp không ít khó khăn, nhờ được tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi của chính quyền địa phương và tìm hiểu trên báo, đài về các mô hình làm ăn có hiệu quả, đặc biệt là kỹ thuật canh tác mãng cầu xiêm đã giúp anh có thêm động lực, niềm tin để chuyển đổi cây trồng.

Sau khi nắm vững kỹ thuật, kết hợp tham quan, học tập kinh nghiệm mô hình của những người đi trước. Năm 2014, anh Sinh đã mạnh dạn lên liếp một phần đất lúa và trồng thử nghiệm 200 gốc mãng cầu xiêm được mua ở tỉnh Hậu Giang. Trong quá trình sinh trưởng của mãng cầu, anh Sinh luôn tuân thủ đúng quy trình, hướng dẫn của ngành chuyên môn từ việc tưới nước, phun thuốc, bón phân đến khâu thụ phấn để cây cho trái… Nhờ vậy, chỉ hơn 2 năm sau, vườn mãng cầu của anh đã bắt đầu cho thu hoạch. Năng suất ổn định, giá bán cao, lợi nhuận khá ngay vụ đầu tiên, là đòn bẩy cho anh quyết định chuyển đổi toàn bộ hơn 10 công tầm lớn đất trồng lúa sang trồng cây mãng cầu xiêm. Từ việc đi mua cây giống của người khác, anh Sinh đã tự nghiên cứu ươm hạt, tạo cây giống để gieo trồng nhằm giảm chi phí sản xuất cho gia đình.

Theo anh Sinh, mãng cầu xiêm thường cho trái 2 vụ. Vụ thuận vào mùa nắng và vụ nghịch vào mùa mưa. Tuy nhiên, để mãng cầu tự thụ phấn sẽ cho trái rất ít. Do vậy, qua thời gian nghiên cứu, học hỏi, anh đã tìm ra bí quyết để thụ phấn cho cây mãng cầu ra trái nhiều và quanh năm. Nhờ phương pháp này mà vườn mãng cầu của anh cho năng suất khá cao. Hiện nay, gia đình anh Sinh có khoảng 700 gốc mãng cầu xiêm đang cho trái, bình quân mỗi năm 1 cây cho trái trên 60kg. Giá trái mãng cầu tăng giảm theo từng thời điểm, thấp nhất là 7.000 đồng/kg, cao nhất là dịp tết gần 30.000 đồng/kg. Sau khi trừ chi phí, gia đình anh Sinh có lãi hơn 200 triệu đồng/năm. Tính ra cao hơn gấp nhiều lần so với trồng lúa.

Anh Hà Văn Sinh ở ấp Thiện Tánh, xã Thuận Hưng bên vườn mãng cầu xiêm.

Ông Thái Văn Mến - Bí thư Chi bộ, Trưởng Ban nhân dân ấp Thiện Tánh cho biết: “Mô hình trồng mãng cầu xiêm của gia đình anh Sinh đã đem lại nhiều hiệu quả, nhất là giúp cho địa phương thực hiện tốt việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích, đây được xem là một hướng đi mới cho nông dân trong điều kiện biến đổi khí hậu phức tạp như hiện nay”.

Không chỉ nâng cao thu nhập cho gia đình, với kinh nghiệm thực tế, cộng với kiến thức tiếp thu qua dự các lớp tập huấn của ngành chuyên môn, anh Sinh đã không ngần ngại chia sẻ, hướng dẫn lại cho bà con địa phương. Đồng thời, anh Sinh hiện còn là thành viên của Tổ hợp tác mãng cầu xiêm xã Thuận Hưng, là nông dân sản xuất kinh doanh giỏi nhiều năm liền. Được biết, toàn huyện Mỹ Tú hiện có khoảng 10 ha trồng mãng cầu xiêm, nhưng tập trung nhiều nhất ở ấp Thiện Tánh, xã Thuận Hưng. “Mô hình trồng mãng cầu xiêm đang là mô hình kinh tế mới mang lại thu nhập cao cho nhiều hộ nông dân.

Trong thời gian tới, ngành Nông nghiệp huyện phối hợp với các sở, ban ngành hữu quan mở nhiều đợt chuyển giao khoa học kỹ thuật, không chỉ riêng ở Thuận Hưng mà còn nhân rộng mô hình ra các xã, thị trấn trong toàn huyện. Đặc biệt, quan tâm hỗ trợ vốn, đầu tư cải tạo, thành lập đoàn cho nông dân đi đến các tỉnh bạn để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm. Đồng thời đảm bảo đầu ra sản phẩm để tránh tình trạng nông dân được mùa rớt giá”./.

Quốc Tuấn

Hậu Giang: Lợi nhuận cao từ việc trồng dưa gang mùa nắng nóng

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Hiện đang là cao điểm của mùa nắng nóng nên nhiều loại nông sản giải nhiệt đều có xu hướng tăng giá mạnh, trong đó có dưa gang, một loại nông sản rất được ưa chuộng thời điểm này, chính vì thế giá bán hiện nay ở mức khá cao.

Dưa gang được ưa chuộng vào mùa nắng nóng.

Thời điểm này, thương lái vô tận ruộng thu mua dưa gang ở mức 4.000 - 4.500 đồng/kg, cao hơn thời điểm đầu năm khoảng 1.000 đồng/kg. Ông Nguyễn Văn Tư, ở xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp, cho biết dưa gang dễ trồng, chi phí đầu tư thấp, năng suất cao. Gia đình ông đang thu hoạch 2 công dưa gang, năng suất đạt gần 6 tấn, với giá bán hiện nay, trừ hết các khoản đầu tư còn lãi gần 20 triệu đồng.

Tin, ảnh: DUY KHÁNH

Mắc ca Lâm Ðồng xuất ngoại

Nguồn tin: Báo Lâm Ðồng

chục tấn mắc ca chế biến từ thị trấn Liên Nghĩa, Ðức Trọng (tỉnh Lâm Ðồng) xuất khẩu sang các thị trường Hàn Quốc, Singapore... đạt yêu cầu chất lượng và giá cả cạnh tranh, mở ra triển vọng hình thành những vùng chuyên canh mới gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm “hoàng hậu quả khô” này trên các vùng sinh thái đặc trưng Nam Tây Nguyên Lâm Ðồng...

Đóng gói xuất khẩu sang Hàn Quốc, Singapore... các dòng sản phẩm mắc ca chế biến tại Liên Nghĩa, Đức Trọng. Ảnh: V.Việt

Kết thúc tháng 3/2019, Nhà máy chế biến mắc ca của Công ty cổ phần Việt Xanh Maca Lâm Đồng tại số 248, Quốc lộ 20, thị trấn Liên Nghĩa, Đức Trọng thu mua trên dưới 50 tấn mắc ca tươi trái vụ của nông dân vùng Tây Nguyên, trong đó chiếm 40% sản lượng của nông dân các huyện Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Đam Rông, Di Linh, Bảo Lâm, Bảo Lộc của tỉnh Lâm Đồng. Cứ 2 sản phẩm mắc ca tươi đưa vào dây chuyền chế biến ở đây thành 1 sản phẩm hạt nhân sấy khô, đạt các tiêu chuẩn chất lượng an toàn thực phẩm tại thị trường trong nước và nước ngoài. Các dòng sản phẩm chính ở đây gồm hạt mắc ca sấy nguyên vỏ, hạt mắc ca sấy hạt nhân, kẹo mắc ca... Như vậy tính riêng trong tháng 3/2019 vừa qua, thương hiệu Macca Việt Xanh Lâm Đồng chế biến khoảng 25 tấn hạt nhân mắc ca thành phẩm đưa ra thị trường, đặc biệt trong đó chiếm hơn 40% khối lượng thành phẩm xuất ngoại sang thị trường Hàn Quốc và Singapore theo đơn hàng đặt trước từ đầu vụ mùa chính thu hoạch trong 3 tháng 8, 9, 10 năm 2018. Còn lại 60% sản phẩm phân phối tiêu thụ trong hệ thống siêu thị cao cấp trong nước.

Anh Đỗ Đình Dũng, Giám đốc Công ty cổ phần Việt Xanh Maca Lâm Đồng ước tính trong cả mùa vụ nghịch thu hoạch mắc ca năm 2019, công ty thu mua khoảng 150 tấn hạt mắc ca tươi của nông dân. Và dự báo cộng thêm sản lượng chính vụ thu hoạch vào 3 tháng 8, 9, 10/2019 tới, công ty thu mua chế biến tổng cộng khoảng hơn 350 tấn mắc ca tươi, tăng 100 tấn tươi so với năm 2018. “Với dây chuyền thiết bị máy móc chế biến mắc ca hiện tại của công ty chúng tôi mới đạt công suất 70% vào thời điểm thu mua chính vụ và 30% vào thời điểm thu mua nghịch vụ. Bởi vậy công ty chúng tôi thường xuyên kết nối nông dân trong và ngoài tỉnh Lâm Đồng mở rộng vùng nguyên liệu sản xuất hạt mắc ca giống ghép trồng thuần kết hợp với trồng xen canh các loại cây công nghiệp khác...”, Giám đốc Đỗ Đình Dũng nói.

Thực tế qua nhiều năm tự hoàn chỉnh thiết kế lắp đặt, đến nay đã nâng cấp dây chuyền hệ thống thiết bị máy móc vận hành tự động chế biến sản phẩm mắc ca đủ tiêu chuẩn chất lượng xuất ngoại ở Công ty cổ phần Việt Xanh Maca Lâm Đồng với tổng trị giá khoảng 6 tỷ đồng. Trong khi dây chuyền với công suất và chất lượng tương đương được nhập về từ nước ngoài hiện nay lên đến hơn 15 tỷ đồng. Lần lượt phóng viên được tiếp cận dây chuyền thiết bị chế biến mắc ca thương hiệu Việt Xanh Lâm Đồng gồm: máy phun nước ly tâm rửa sạch hạt mắc ca tươi, máy phân loại kích cỡ sản phẩm, hệ thống sấy khô, kho lưu trữ, dây chuyền rang chín hạt nhân, khu vực cắt chẻ vỏ hạt mắc ca thành phẩm, hệ thống đóng gói và dán nhãn xuất hàng. Công suất cụ thể từng bộ phận máy móc gồm: máy rửa 200 kg hạt tươi/5 phút, máy sấy khô 10 tấn/mẻ/4 ngày, máy rang chín 200 kg/mẻ/60 phút, máy chẻ hạt nhân 200 kg/60 phút... Tất cả dây chuyền máy móc của “Việt Xanh” đều kết nối hoạt động đồng bộ một nguồn điện năng, trên đó cài đặt hẹn giờ sản xuất tự động tương ứng với từng bộ phận chức năng nên công nhân chỉ thao tác điều khiển ấn nút và theo dõi chỉ số hiển thị của các thiết bị đồng hồ...

Mắc ca sấy khô bằng hệ thống dây chuyền máy móc tự động tại Công ty cổ phần Việt Xanh Maca Lâm Đồng. Ảnh: V.Việt

Nguồn nguyên liệu mắc ca để cung cấp, vận hành đạt 70% công suất chế biến sau 5 năm hoạt động Công ty cổ phần Việt Xanh Macca Lâm Đồng nói trên với 100 nông hộ liên kết sản xuất, thu hoạch trong năm vừa qua trên tổng diện tích hơn 140 ha trồng thuần và trồng xen canh từ 5 - 10 năm tuổi với cây cà phê, chè. Trong đó hạch toán với cây mắc ca trồng xen canh đến năm thứ 8, 9 và thứ 10 với các loại cây trồng khác, năng suất lên đến 20 - 30 kg/cây (trung bình xen canh 200 cây/ha) đạt thu nhập trên dưới 350 triệu đồng/ha/năm.

Để tăng công suất chế biến hơn nữa, đáp ứng từng bước nhu cầu đặt hàng xuất khẩu sang Hàn Quốc, Singapore... ổn định lâu dài, Công ty cổ phần Việt Xanh Maca Lâm Đồng đang liên kết với một đơn vị chủ rừng trồng khoảng 3.000 cây “mắc ca lâm nghiệp” trên diện tích 15ha ở khu vực K’Nai, xã Phú Hội, Đức Trọng. Theo quy trình kỹ thuật chăm sóc, 5 năm tới sẽ bắt đầu thu hoạch bói, đạt từ 10 - 15 kg/cây. Sản lượng này sẽ tăng lên đạt đến 30 - 40 kg/cây từ năm tuổi thứ 11 trở đi. “Toàn bộ giống cây mắc ca trồng mới tập trung ở K’Nai, Phú Hội, Đức Trọng đều là cây ghép chất lượng cao, nên yên tâm khi thu hoạch và đưa vào chế biến đều đạt tỷ lệ xuất khẩu gần như 100%; trong khi yêu cầu này đối với sản phẩm mắc ca thu hoạch từ cây thực sinh mới đạt trên dưới 50%...”, Giám đốc Đỗ Đình Dũng chia sẻ.

VĂN VIỆT

Loại bỏ thuốc trừ cỏ chứa hoạt chất Glyphosate khỏi danh mục thuốc bảo vệ thực vật

Nguồn tin: Hà Nội Mới

Chiều 10-4, Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) họp báo công bố Quyết định 1186/QĐ-BNN-BVTV của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về việc loại bỏ thuốc trừ cỏ có chứa hoạt chất Glyphosate khỏi danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam.

Ngay sau khi Quyết định 1186/QĐ-BNN-BVTV được ký, việc nhập khẩu Glyphosate vào Việt Nam bị cấm hoàn toàn. Theo thông lệ quốc tế và Luật Thương mại WTO, quyết định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày.

Sau khi cấm Glyphosate, sẽ có 54 hoạt chất trừ cỏ hiệu quả và an toàn thay thế. Trước khi loại bỏ hoạt chất Glyphosate khỏi danh mục, Bộ NN&PTNT đã có giải pháp tổng thể để không ảnh hưởng đến sản xuất và năng suất cây trồng.

Cục Bảo vệ thực vật khẳng định, việc loại bỏ hoạt chất Glyphosate hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và bảo đảm hài hòa với quy định quốc tế. Trước đó, năm 2015, cơ quan Nghiên cứu Ung thư quốc tế IARC (International Agency for Research on Cancer) thuộc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố kết quả đánh giá khả năng gây ung thư nhóm 2A đối với Bảo vệ thực vật chứa hoạt chất Glyphosate có nguy cơ cao gây các bệnh ung thư máu, phổi, tiền liệt tuyến

BẠCH THANH

Long An: Nông dân thu hoạch mè được mùa, trúng giá

Nguồn tin: Báo Long An

So với các vụ mùa trước, vụ mè Xuân Hè năm nay nhờ thời tiết thuận lợi nông dân trồng mè đạt năng suất cao. Bên cạnh đó, giá cả ổn định ở mức cao nông dân trồng mè rất phấn khởi.

Nông dân thu hoạch mè được mùa, trúng giá

Vụ mè Xuân Hè 2019, nông dân huyện Tân Hưng xuống giống được gần 200ha, chủ yếu mè đen, tập trung ở các xã Hưng Điền, Hưng Điền B, Hưng Hà (tỉnh Long An).

Đến thời điểm này, số mè bắt đầu cho thu hoạch với diện tích hơn 40ha, năng suất từ 700kg đến 1,2 tấn/ha . Giá bán trên thị trường hiện nay dao động từ 46.000 đồng đến 52.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí đầu tư, nông dân có lãi từ 20 đến 25 triệu đồng/ha.

Anh Trần Chí Tâm, xã Hưng Điền, huyện Tân Hưng cho biết, vụ mè năm nay gia đình anh gieo trồng được hơn 3ha mè, đến nay đã cho thu hoạch, nhờ thời tiết thuận lợi nên số diện tích này phát triển tốt, năng suất đạt hơn 800kg/ha, với giá bán 49.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí anh thu lợi nhuận hơn 20 triệu đồng/ha.

Tại huyện Vĩnh Hưng, vụ này, nông dân gieo trồng được 190ha, tập trung ở các xã Thái Bình Trung, Thái Trị, Khánh Hưng, Hưng Điền A, đến nay, đã bắt đầu thu hoạch. Theo nông dân trồng mè cho biết, năm nay mè phát triển tốt, ít sâu bệnh, năng suất cao hơn so với các vụ mùa trước từ 200 đến 300kg/ha, giá bán ở mức cao nên nông dân trồng mè rất phấn khởi.

Ngành chuyên môn khuyến cáo, số diện tích mè đã cho thu hoạch nông dân cần vệ sinh đồng ruộng, chuẩn bị các điều kiện cần thiết xuống giống vụ lúa Hè Thu năm 2019 cho kịp thời vụ.

Ngành chức năng cần quan tâm nhiều hơn đầu ra cho cây mè

Cây mè phù hợp với thổ nhưỡng ở địa phương, nhất là những diện tích đất cát, chịu hạn tốt, có thời gian sinh trưởng ngắn, cho năng suất cao, rất thích hợp cho việc trồng xen canh giúp diệt cỏ dại, cải tạo đồng ruộng, tăng thêm độ màu mỡ cho đất. Tuy nhiên, thời gian qua, nông dân trồng mè chủ yếu tự tìm thương lái để bán, giá cả không ổn định nên hiệu quả sản xuất không cao.

Để cây mè phát triển bền vững, thời gian tới, các ngành chức năng cần quan tâm nhiều hơn nhằm tạo ổn định đầu ra cho cây mè, giúp người dân mạnh dạn đầu tư mở rộng diện tích mè, góp phần tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở địa phương./.

Văn Đát

Nhiều giải pháp quản lí, hỗ trợ phát triển cây hồ tiêu

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Để đảm bảo phát triển bền vững cây hồ tiêu, trong những năm qua ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh cùng với các địa phương, đơn vị đã có nhiều giải pháp mang tính chiến lược lâu dài nhằm không ngừng tăng năng suất, sản lượng và chất lượng cây hồ tiêu Quảng Trị.

Nông dân huyện Gio Linh chăm sóc vườn tiêu

Đến nay, tổng diện tích trồng cây hồ tiêu trên địa bàn tỉnh là 2.503,1 ha trong đó diện tích cây hồ tiêu cho sản phẩm là 2.042 ha; hằng năm diện tích trồng mới đạt khoảng 50 ha; năng suất bình quân của cây hồ tiêu đạt 10 - 12 tạ/ha; sản lượng bình quân 1.500 - 2.000 tấn/năm. Phấn đấu đến năm 2020, diện tích trồng cây hồ tiêu đạt 2.500 - 2.700 ha và đến năm 2025 đạt 3.000 ha; năng suất đạt 1,5 - 2 tấn/ha; sản lượng từ 5.000 - 6.000 tấn/năm. Năm 2020 có 10% và năm 2025 có 15% diện tích hồ tiêu ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm; xây dựng 5-7 vườn cây hồ tiêu đầu dòng để nhân giống… Để có được kết quả đó, thời gian qua ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh cùng với các địa phương, đơn vị đã tích cực hỗ trợ, khuyến khích người dân áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kĩ thuật mang lại hiệu quả cao đối với cây hồ tiêu như mô hình quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây hồ tiêu; mô hình sử dụng chế phẩm sinh học chức năng MT1, SH1, Bồ đề 688X2, chế phẩm tricodermasp…; nghiên cứu, áp dụng mô hình tưới nước tiết kiệm, tự động cho cây tiêu kết hợp bón phân; một số giải pháp thiết kế vườn chắn gió bão, thoát nước mùa mưa…

Đã có một số mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao như tưới tiết kiệm, mô hình hữu cơ, ứng dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn châu Âu và Mỹ, đơn cử như Tổ hợp tác sản xuất, kinh doanh nông sản trên địa bàn xã Gio An (huyện Gio Linh) đã tiến hành liên kết với Công ty Organics More Co.,Ltd có trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh để làm các thủ tục kiểm định chất lượng sản phẩm, quy trình sản xuất hồ tiêu, cây nghệ theo các tiêu chuẩn EC834/2007 của châu Âu; tiêu chuẩn NOP USDA của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Hoạt động đánh giá để cấp chứng nhận được thực hiện bởi Tổ chức đánh giá độc lập châu Âu Control Union trên diện tích 20 ha cây nghệ và 64 ha hồ tiêu tại địa bàn xã Gio An từ ngày 10/6/2018 đến ngày 20/6/2018. Đến nay, có 62,6 ha hồ tiêu của xã Gio An được đưa vào sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ của châu Âu và Mỹ. Vụ hồ tiêu năm 2018, các hộ nông dân xã Gio An đã bán hồ tiêu cho Công ty Organics More Co.,Ltd trong năm đầu tiên với số lượng 18 tấn (giá bán 78.000 đồng/kg, cao hơn 18.000 - 20.000 đồng/kg so với giá thị trường tại thời điểm công ty thu mua)… Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Trị đã ban hành quy trình kĩ thuật sản xuất hồ tiêu mang chỉ dẫn địa lí Quảng Trị; huy động sự hỗ trợ của các tổ chức, dự án và sự nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thu hoạch, sơ chế, bảo quản và quảng bá thương hiệu sản phẩm tiêu đen, tiêu trắng, tiêu ngũ sắc… để sản phẩm hồ tiêu Quảng Trị có mặt ở nhiều nước trên thế giới, nhất là việc được ghi nhận về chất lượng tại châu Âu và Mỹ...

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Thanh Hiền cho biết, để phát triển bền vững cây hồ tiêu trong thời gian tới và giảm thiểu rủi ro cho người sản xuất, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh cùng với các địa phương, đơn vị đã đưa ra các giải pháp như thực hiện phục hồi các vườn tiêu cũ; quy hoạch vùng trồng mới cây hồ tiêu ở những vùng có điều kiện thuận lợi; áp dụng biện pháp canh tác bền vững theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP); áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm; chú trọng công tác quản lí dịch bệnh (đặc biệt là bệnh chết nhanh, chết chậm trên cây hồ tiêu); chọn lựa, xây dựng các vườn hồ tiêu đầu dòng có chất lượng nhằm cung ứng giống hồ tiêu sạch bệnh và đảm bảo cho việc trồng mới cây hồ tiêu trên địa bàn tỉnh; huy động các nguồn lực, tập trung xây dựng chuỗi giá trị sản xuất hồ tiêu bền vững, tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm để phát huy tiềm năng, lợi thế và nâng cao năng suất, chất lượng cây hồ tiêu cũng như thu nhập cho nông dân; thiết lập kênh thông tin thị trường vật tư phân bón và sản phẩm hồ tiêu để giúp nông dân chủ động trong sản xuất; xây dựng thương hiệu, quảng bá, giới thiệu sản phẩm hồ tiêu và mở rộng thị trường xuất khẩu; hỗ trợ cho người dân sản xuất hồ tiêu theo hướng chất lượng cao, có chứng nhận, đáp ứng các tiêu chuẩn tiêu dùng (đặc biệt là xuất khẩu đến các thị trường tiềm năng); xây dựng chuỗi giá trị sản xuất hồ tiêu bền vững theo hướng hữu cơ, sạch, có chứng nhận (đặc biệt là sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong việc ký kết hợp đồng liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hồ tiêu Quảng Trị); nghiên cứu, xây dựng các quy trình trồng, chăm sóc cây hồ tiêu phù hợp với từng vùng; xây dựng vườn nhân giống tiêu cũng như chọn tạo giống tiêu kháng bệnh từ những vườn tiêu trên địa bàn tỉnh; bảo tồn nguồn gen và phục tráng giống (đặc biệt là giống tiêu Vĩnh Linh, tiêu Cùa đang có dấu hiệu thoái hóa)… và nhiều giải pháp hữu hiệu khác.

An Phong

Cà Mau: Liên kết chuỗi giá trị bền vững cho nông sản

Nguồn tin:  Báo Cà Mau

Nhằm thúc đẩy phát triển hợp tác xã (HTX), UBND tỉnh Cà Mau ban hành Kế hoạch số 22/KH-UBND ngày 28/3/2017 về thí điểm hoàn thiện và nhân rộng mô hình HTX kiểu mới đến năm 2020. Qua 2 năm triển khai thực hiện, HTX nông nghiệp hoạt động hiệu quả, gắn sản xuất với tiêu thụ trong các chuỗi giá trị nông sản.

Diện mạo mới của HTX

Tham gia kế hoạch của tỉnh có 15 HTX nông nghiệp hoạt động trên 3 lĩnh vực: Thuỷ sản, lúa gạo và trái cây. Một trong những kết quả quan trọng đến thời điểm này là việc xây dựng mô hình sản xuất liên kết với doanh nghiệp, nhất là thực hiện chuỗi liên kết bao tiêu sản phẩm đầu ra. Ngoài ra, từng bước xây dựng thương hiệu, chuyển giao khoa học, công nghệ tại HTX, giúp thành viên HTX và nông dân từng bước nâng cao ý thức và trách nhiệm trong sản xuất, tạo sức cạnh tranh cho nông sản trong tiến trình hội nhập.

HTX Dịch vụ nuôi trồng thuỷ sản Cái Bát, xã Hoà Mỹ, huyện Cái Nước là một minh chứng. Từ khi được tham gia dự án “Chuỗi giá trị tôm công bằng bền vững tại Việt Nam”, HTX được liên kết với các doanh nghiệp cả đầu vào lẫn đầu ra rất hiệu quả. Ông Nguyễn Văn Lâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Cái Bát, chia sẻ, minh chứng tốt nhất là trong những ngày diễn ra cơn bão số 16 vào cuối tháng 12/2017. Trong khi những ao tôm khác thu hoạch vào thời điểm này đều bị thương lái ép giá thì tôm của HTX vẫn bán được giá cao hơn, từ đó giúp thành viên giảm thiệt hại hơn 400 triệu đồng.

“Đó chỉ là một trường hợp cụ thể, còn nếu tính chi tiết hơn về giá thành mua con giống, thức ăn và các loại thuốc thú y, chế phẩm sinh học… thì thành viên HTX đều mua thấp hơn giá thị trường”, ông Lâm chia sẻ thêm. Chính hiệu quả mang lại cao nên thành viên HTX tăng nhanh. Nếu lấy số 127 thành viên hiện tại so với con số 12 xã viên của những ngày đầu mới thành lập (năm 2013) đã tăng hơn 10 lần.

Không chỉ tập trung cho hoạt động nuôi tôm đạt năng suất, chất lượng và đảm bảo môi trường, hiện nay HTX Cái Bát còn có kế hoạch đưa sản phẩm đặc trưng của tỉnh ra thị trường trong và ngoài nước. “HTX đang có những đối tác tiến tới ký hợp đồng xuất khẩu sản phẩm bồn bồn ra nước ngoài. Kế hoạch của HTX là tiến hành xây dựng nhà xưởng chế biến, đóng gói và kho bảo quản sản phẩm để đảm bảo sản phẩm đáp ứng yêu cầu quốc tế”, ông Lâm cho biết thêm.

HTX Dịch vụ nông nghiệp Kinh Dớn, ấp Kinh Dớn, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời cũng là một điển hình. Được thành lập vào năm 2014 với 27 thành viên, diện tích sản xuất lúa 49 ha, đến nay HTX đã thu hút 47 thành viên với diện tích sản xuất 75 ha.

Nhờ ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm mà giá thành đầu ra sản phẩm lúa của Hợp tác xã Kinh Dớn luôn ổn định.

Sự ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm là một trong những yếu tố quan trọng giúp HTX thu hút được nhiều người tham gia. Giám đốc HTX Kinh Dớn Nguyễn Trường Đời bộc bạch: “Câu chuyện bị thương lái ép giá không còn đáng lo ngại, chúng tôi có thể “làm giá” lại với các đại lý cung ứng giống, vật tư nông nghiệp, dịch vụ làm đất, thu hoạch… theo hướng có lợi nhất cho người dân, tức lựa chọn cơ sơ uy tín, chất lượng tốt nhưng giá thành giảm”.

HTX gắn liền với nhãn hiệu

Theo thống kê của Sở NN&PTNT, các HTX tham gia kế hoạch thí điểm đều mở rộng được quy mô sản xuất kinh doanh. Rõ nhất trong số này là các HTX sản xuất lúa. Do liên kết được với doanh nghiệp đầu ra nên mở rộng liên kết ngoài phạm vi HTX, từ đó gia tăng diện tích, sản lượng vùng nguyên liệu của HTX. Hiện tại có 25 lượt hợp đồng liên kết giữa doanh nghiệp với các HTX trong cung ứng giống, vật tư đầu vào, tổ chức sản xuất, tiêu thụ đầu ra, chuyển giao quy trình và áp dụng tiêu chuẩn lúa an toàn, tiêu chuẩn ASC trong nuôi tôm... tổng giá trị hợp đồng trên 75,3 tỷ đồng.

Không chỉ vậy, có 7 HTX tham gia thí điểm được cán bộ trẻ tốt nghiệp đại học, cao đẳng về làm việc có thời hạn hỗ trợ hoạt động chuyên môn. Từ đó, lợi nhuận mang về khá cao, nhất là ở các HTX thuỷ sản, có HTX đạt lợi nhuận sau thuế gần 1,3 tỷ đồng/năm. HTX trong lĩnh vực trồng trọt đạt mức lợi nhuận không cao so với thuỷ sản, bù lại tất cả thành viên được lợi từ giá thành đầu vào thấp và giá đầu ra sản phẩm lúa ổn định ở mức cao hơn trung bình bên ngoài.

Để hạn chế rủi ro trong sản xuất tôm thâm canh, siêu thâm canh, cần có sự liên kết chặt chẽ từ đầu vào đến đầu ra.

Mục tiêu tỉnh đặt ra đến năm 2020 là xây dựng liên kết theo chuỗi giá trị bền vững giữa 15 HTX với doanh nghiệp cung ứng đầu vào và đầu ra của sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời, trong số này, có ít nhất 5 HTX nông nghiệp xây dựng được thương hiệu hàng hoá và logo HTX. Đặc biệt, xây dựng được 1 mô hình HTX nông nghiệp hoạt động hiệu quả thành HTX hoặc liên hiệp HTX có quy mô lớn cấp tỉnh…

Để thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể nói chung và HTX nói riêng, tại hội nghị tổng kết việc nhân rộng mô hình diễn ra cuối tháng 1/2019, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải chỉ đạo, cần nhân rộng mô hình sản xuất gắn với xây dựng HTX, THT đối với các hộ sản xuất cùng ngành nghề, cùng đối tượng, theo từng loại hình trên các địa bàn dân cư. Qua đó, mời gọi doanh nghiệp phối hợp với người dân xây dựng liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất. Đồng thời, nhanh chóng rà soát, triển khai việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá đối với các sản phẩm chủ lực của tỉnh theo đúng trình tự thủ tục quy định. Đặc biệt lưu ý giải pháp để tránh hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu tôm, cua Cà Mau nhằm góp phần nâng cao giá trị nông sản.

Riêng đối với HTX Dịch vụ nuôi trồng thuỷ sản Cái Bát, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Tiến Hải giao Sở NN&PTNT phối hợp với các sở, ngành, địa phương, đơn vị chức năng rà soát kỹ hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, yêu cầu của thị trường đối với chất lượng, số lượng bồn bồn. Từ đó, tính toán, hỗ trợ HTX trong việc đầu tư cơ sở sản xuất, trang thiết bị, quy trình kỹ thuật chế biến, bảo quản, đóng gói sản phẩm, đăng ký nhãn hiệu, mẫu mã, mã vạch, quảng bá thương hiệu, phương án đảm bảo nguyên liệu chất lượng phục vụ chế biến... Trường hợp vượt thẩm quyền, tham mưu, đề xuất UBND tỉnh xem xét quyết định./.

Tổng kinh phí thực hiện Kế hoạch số 22 của UBND tỉnh về thí điểm hoàn thiện và nhân rộng mô hình HTX kiểu mới giai đoạn 2017-2020 là 43,8 tỷ đồng. Sau 2 năm triển khai thực hiện, có 3 HTX được vay vốn từ nguồn Quỹ hỗ trợ phát triển HTX với số tiền 1,1 tỷ đồng. Đồng thời, tiến hành hỗ trợ HTX xây dựng phòng làm việc, cửa hàng giới thiệu vật tư nông nghiệp, nhà kho, sân với tổng kinh phí 3,1 tỷ đồng. Hiện đang tiếp tục thực hiện việc hỗ trợ hạ tầng cho các HTX.

Nguyễn Phú

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop