Tin nông nghiệp ngày 13 tháng 5 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 13 tháng 5 năm 2019

Tăng giá điện, người trồng Thanh Long đứng ngồi không yên

Nguồn tin: VOV

Hiện khoảng 500 hộ trồng Thanh Long ở huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đang gặp nhiều khó khăn vì chi phí đầu vào tăng cao do giá điện tăng.

Theo cách tính của người nông dân ở huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, bình quân một tấn Thanh Long phải chi ra 5 triệu tiền điện, giờ giá điện tăng ước tính phải chi từ 7 triệu – 8 triệu đồng, nên họ cầm chắc thua lỗ.

Chị Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (ở ấp Trang Định, xã Bông Trang, huyện Xuyên Mộc) cho hay, trồng Thanh Longlệ thuộc rất lớn vào nguồn điện để chong đèn, đợt này vì giá điện cao nên gần 150 trụ Thanh Long ruột trắng của chị không làm nữa.

“Trước khi tăng giá điện thì gia đình có 150 trụ Thanh Long trắng, giá chong đèn cỡ 3 triệu và tầm 6 triệu - 7 triệu tiền phân, thuốc. Đến khi ra trái Thanh Long không được giá thì không đủ tiền phân và tiền điện, chưa tính tiền công mình bỏ ra”, chị Nguyễn Thị Mỹ Hạnh nói.

Giá điện tăng cao người trồng Thanh Long gặp khó

Tương tự, hơn 300 hộ dân trồng Thanh Long ở xã Bưng Riềng cũng đang gặp khó vì giá điện. Theo tính toán của nhiều hộ dân, bình quân 1 năm làm 4 vụ, 1 vụ chong đèn 4 lần, mỗi lần từ 15 – 20 ngày, do đó, muốn cây đạt sản lượng thì chi phí cho điện rất cao.

Ông Nguyễn Đình Đoài, xã Bông Trang, huyện Xuyên Mộc than thở, bình thường 500 trụ Thanh Long, mỗi đợt chong đèn đã chi gần 4 triệu đồng tiền điện, từ tháng 3 đến giờ giá điện tăng lên gần gấp đôi, người nông dân thêm mệt mỏi: “Bình thường Thanh Long làm 3 vụ/năm, mỗi vụ chong đèn một lần trong 15 ngày cho đến thu hoạch chi khoảng 3 triệu – 4 triệu đồng tiền điện/lần. Hai năm nay đã vất vả rồi, giờ giá điện tăng lên càng khó khăn”.

Hình ảnh có liên quan

Chi phí tiền điện để chong đèn tăng người trồng Thanh Long dự kiến bỏ vườn

Ông Nguyễn Văn Thiết, xã Bưng Riềng, huyện Xuyên Mộc kiến nghị, ngành điện nên có chính sách riêng cho nông dân nếu không nhiều người sẽ không kham nổi.

“Tháng trước 1 đợt như vậy là trả hết 8 triệu tiền điện, điện tăng như thế, trả mười mấy triệu thì người dân không chịu nổi, ảnh hưởng kinh tế gia đình. Ngành điện nên ưu tiên cho nông dân, tăng ít thôi đừng tăng nhiều quá. Nếu ngành điện định mức 1 kwh điện là 1.700 đồng và nhiều kwh điện cũng 1.700 đồng thì nông dân mới chịu được”, ông Nguyễn Văn Thiết kiến nghị.

Trung bình mỗi tấn Thanh Long tiêu tốn gần 5 triệu tiền điện

Hội Nông dân huyện Xuyên Mộc cho biết, tăng giá điện khiến mỗi hộ trồng Thanh Long phải chi thêm từ 50 - 70% phí tiền điện để chong đèn, chính vì vậy, nhiều hộ dân đang tính chặt Thanh Long chuyển đổi cây trồng.

Theo ông Dương Thế Dũng, Chủ tịch Hội Nông dân xã Bông Trang, huyện Xuyên Mộc, hiện nay chính quyền và các hội đoàn thể vận động nông dân chuyển dần từ trồng Thanh Long ruột trắng sang trồng ruột đỏ để có giá trị kinh tế cao hơn. Còn việc chuyển đổi cây trồng ở vùng này rất khó, vì đất ở địa phương chỉ phù hợp với Thanh Long.

Xuyên Mộc là vùng đất phù hợp cây Thanh Long phát triển

“Ở đây chỉ phù hợp với Thanh Long, người dân sống được là nhờ vào cây Thanh Long. Giá điện mà ổn định như những năm trước thì người dân sống được, còn tăng giá điện sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống”, ông Dương Thế Dũng cho biết.

Cây Thanh Long những năm trước đã mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Hiện gần 500 hộ dân vùng đất này đang đứng ngồi không yên vì giá điện, họ đang mong chờ vào chính sách ưu đãi của ngành điện để tiếp tục duy trì sản xuất, đảm bảo nguồn thu nhập ổn định, tiếp tục tạo ra sản phẩm có giá trị phục vụ xã hội./.

Lưu Sơn/VOV-TPHCM

Tân Yên (Bắc Giang): Giá vú sữa tăng, đạt 35-40 nghìn đồng/kg

Nguồn tin: Báo Bắc Giang

Hiện nay, huyện Tân Yên (Bắc Giang) đang vào chính vụ thu hoạch vú sữa, giá tăng cao, dao động từ 35-40 nghìn đồng/kg. Do chất lượng quả bảo đảm, mẫu mã đẹp, nhiều siêu thị, trung tâm thương mại trong, ngoài tỉnh và các tiểu thương đã về tận vườn ký kết thu mua, tiêu thụ, tạo thuận lợi cho người dân lưu thông hàng hóa.

Khách đến tham quan, tìm hiểu tại các vườn quả vú sữa ở thôn Cửa Sông, xã Hợp Đức (Tân Yên). Ảnh: Châu Giang

Được biết, diện tích cây vú sữa ở huyện Tân Yên chủ yếu tập trung ở xã Hợp Đức, khoảng 30ha, năng suất đạt từ 10-12 tấn/ha.

Ông Nguyễn Văn Cường, Giám đốc HTX Sản xuất, Tiêu thụ sản phẩm vú sữa Hợp Đức cho biết, do người dân biết cách áp dụng quy trình VietGAP vào sản xuất nên thương hiệu vú sữa Hợp Đức được nhiều người biết đến, giá bán rất ổn định.

Nhằm nâng cao giá trị kinh tế từ cây vú sữa, UBND huyện Tân Yên đã thành lập Ban Chỉ đạo phát triển cây vú sữa, tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho nông dân, chuyển đổi mô hình canh tác phù hợp để đưa cây vú sữa vào trồng…

Đặc biệt, UBND huyện đang phối hợp với Viện Rau quả T.Ư, Bộ Nông nghiệp và PTNT thực hiện dự án tuyển chọn giống cây đầu dòng và xây dựng vùng trồng vú sữa chuyên canh.

Thành Nam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người trồng hồ tiêu Gia Lai

Nguồn tin: Báo Gia Lai

Chiều ngày 10-5, Đoàn công tác Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã làm việc với tỉnh Gia Lai liên quan đến việc tháo gỡ khó khăn cho người dân vay vốn trồng hồ tiêu trên địa bàn tỉnh. Đồng chủ trì buổi làm việc có các đồng chí: Đào Minh Tú- Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Đinh Duy Vượt-Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai, Nguyễn Đức Hoàng- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai

Theo thông tin từ Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, trên địa bàn Gia Lai hiện có 15 chi nhánh ngân hàng (14 chi nhánh Ngân hàng thương mại và chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội) cho vay trồng, chăm sóc hồ tiêu tại 15 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh, với diện tích 12.033 ha, chiếm 73,9% tổng diện tích hồ tiêu toàn tỉnh. Đến cuối tháng 4-2019, dư nợ cho vay trồng, chăm sóc hồ tiêu là 3.724 tỷ đồng. Trong đó, dư nợ ngắn hạn là 2.665 tỷ đồng, chiếm 71,6%; dư nợ trung, dài hạn là 1.059 tỷ đồng, chiếm 28,4%. Nợ xấu là 451 tỷ đồng, chiếm 12,1% dư nợ cho vay trồng, chăm sóc hồ tiêu. Số khách hàng còn dư nợ là 18.888 khách hàng. Qua khảo sát, thống kê cho thấy dư nợ của khách hàng bị thiệt hại do cây hồ tiêu bị chết là 2.653 tỷ đồng, chiếm 71,2% dư nợ cho vay hồ tiêu, với 11.056 khách hàng bị thiệt hại, chiếm 58,5% số khách hàng vay trồng, chăm sóc hồ tiêu trên địa bàn tỉnh.

Trước tình hình người dân sản xuất hồ tiêu trên địa bàn tỉnh bị thiệt hại do tiêu chết, giá cả giảm thấp, ảnh hưởng lớn đến thu nhập, đời sống và khả năng trả nợ vay ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Gia Lai đã có nhiều văn bản chỉ đạo các chi nhánh ngân hàng chủ động phối hợp với chính quyền địa phương để rà soát, tổng hợp thiệt hại của khách hàng, kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng theo thẩm quyền như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, điều chỉnh giảm lãi suất, xem xét cho vay mới để khôi phục sản xuất, chuyển đổi cây trồng. Tính đến cuối tháng 4-2019, các chi nhánh ngân hàng đã thực hiện hỗ trợ là 6.009 khách hàng, chiếm 54,4% tổng số khách hàng bị thiệt hại. Trong đó, số dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ 337 tỷ đồng, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay 706 tỷ đồng, cho vay mới 816 tỷ đồng, cho vay chuyển đổi cây trồng 119 tỷ đồng, đề nghị khoanh nợ 107 triệu đồng của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã Xội tỉnh.

Tham dự cuộc họp, đại diện các Ngân hàng Agribank, Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Chính sách Xã hội, HD Bank đã thông tin thêm về tình hình cho vay, dư nợ thiệt hại, áp lực nợ xấu cũng như những vướng mắc trong quá trình triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trên địa bàn Gia Lai. Trong bối cảnh khó khăn của người trồng hồ tiêu cũng là khó khăn của ngân hàng, đại diện các ngân hàng đề xuất các giải pháp liên quan đến việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, quy hoạch vùng sản xuất để các tổ chức tín dụng yên tâm hơn khi đầu tư tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp-nông thôn. Mặt khác, mong muốn chính quyền địa phương, các sở ngành liên quan có giải pháp thiết thực cùng ngành Ngân hàng nhằm hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho bà con.

Sau khi ghi nhận các ý kiến thảo luận tại cuộc họp, đồng chí Đào Minh Tú-Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã nêu rõ, cuộc họp này nhằm thảo luận, thống nhất các giải pháp có tính ngắn hạn lẫn dài hạn, thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm và sự quan tâm của ngành Ngân hàng nhằm xử lý kịp thời các vấn đề khó khăn của người trồng hồ tiêu Gia Lai.

Theo đó, Phó Thống đốc Đào Minh Tú yêu cầu ngay sau cuộc họp này, các chi nhánh ngân hàng thống kê, đánh giá chi tiết thực trạng khó khăn, dư nợ, tình hình nợ xấu hiện nay. Xác định thiệt hại thực tế của người vay vốn, khả năng mất vốn lẫn không thu hồi được vốn. Sau khi phân tích, đánh giá thực trạng, tổng hợp về Hội sở chính để Hội sở báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chủ động đề xuất biện pháp khắc phục. Đồng thời, các đại diện Ngân hàng thương mại cần báo cáo lại lãnh đạo Hội sở chính, xem xét lại từng món vay để thực hiện giãn nợ, giảm lãi, xóa lãi. Triển khai ngay đối với từng hộ dân, có báo cáo kết quả triển khai về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt là vấn đề giảm lãi cho bà con. Liên quan đến vấn đề giảm lãi, giãn nợ, xóa lãi sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch tài chính, trích lập dự phòng rủi ro của năm nay của các ngân hàng. Do đó, các ngân hàng phải chủ động có cơ chế, chính sách xử lý vấn đề này. Về phía Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ xem xét gia tăng hạn mức tín dụng cho các ngân hàng trong năm nay.

Một nhiệm vụ dài hơi khác, các chi nhánh ngân hàng cần tư vấn, tham mưu cho tỉnh trong vấn đề quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đồng thời bám sát sự chỉ đạo của tỉnh, phối hợp với các sở ban ngành để triển khai hỗ trợ hợp lý, đúng quy định. Tiếp tục quan tâm thực hiện cho vay nông nghiệp-nông thôn, các lĩnh vực nhóm ngành kinh tế ưu tiên. Hỗ trợ phát triển nông nghiệp, hỗ trợ bà con nông dân là nhiệm vụ chính trị quan trọng của ngành Ngân hàng. Đối với tỉnh Gia Lai, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đề nghị tỉnh chỉ đạo các đơn vị chức năng, địa phương có báo cáo đánh giá thực trạng khó khăn, thiệt hại của hồ tiêu để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, về phía Ngân hàng Nhà nước sẵn sàng hỗ trợ, phối hợp kết nối với các bộ ngành chức năng đề nghị xem xét có chính sách khoanh nợ để hỗ trợ cho bà con, tháo gỡ khó khăn cho tỉnh theo đúng quy trình, quy định.

Sơn Ca

Triển khai các dự án khoa học công nghệ cấp cơ sở vào sản xuất nông nghiệp: Góp phần nâng cao thu nhập người dân

Nguồn tin: Báo Hải Phòng

Hiện, nhiều địa phương trên địa bàn thành phố Hải Phòng tích cực triển khai dự án khoa học công nghệ cấp cơ sở vào sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, sử dụng tài nguyên, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, tạo việc làm mới, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân.

Trồng bắp cải theo tiêu chuẩn VietGAP ở xã An Hòa, huyện An Dương.

Phát triển nhiều mô hình sản xuất sạch, an toàn

Một trong những dự án ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ đang được triển khai hiệu quả cao là mô hình sản xuất rau cải bắp an toàn theo hướng VietGAP tại xã An Hòa, huyện An Dương. Dự án được triển khai từ tháng 10-2018, đến tháng 5-2019 đã hình thành được vùng sản xuất tập trung rau màu an toàn, chất lượng cao, góp phần thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển những sản phẩm chủ lực có lợi thế canh tranh cao và phát triển bền vững. Ông Lưu Xuân Lước, ở xã An Hòa, huyện An Dương cho biết: “Khi triển khai mô hình canh tác rau sạch, trong quá trình trồng trọt, nông dân không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, không sử dụng phân bón hóa học, nguồn nước dùng để tưới rau cũng phải là nguồn nước sạch. Do đó, sản phẩm được thị trường tiêu thụ mạnh, thu nhập của người trồng rau được nâng lên rõ rệt từ khi triển khai dự án”.

Theo ông Đỗ Văn Hùng, Giám đốc HTX nông nghiệp và xây dựng An Hòa, huyện An Dương, xã An Hòa là vùng đất màu mỡ, chất đất thích hợp để trồng các loại rau, màu, trong khi đó điều kiện cơ sở hạ tầng được quy hoạch thành vùng sản xuất tập trung với quy mô lớn; có hệ thống mương tưới, tiêu và đường nội đồng bảo đảm yêu cầu sản xuất; đồng thời vùng được cấp chứng nhận đủ điều kiện sản xuất các sản phẩm rau an toàn trên diện tích 100 ha… Do đó, khi dự án này kết thúc, mô hình sản xuất rau cải bắp an toàn theo hướng VietGAP vẫn có khả năng duy trì và nhân rộng tại địa phương.

Cùng với dự án trồng rau sạch ở xã An Hòa, một số dự án nuôi trồng theo tiêu chuẩn VietGAP đang được triển khai tốt như mô hình nhân giống hoa hồng, hoa lan Dendro và trồng hoa lan Dendro thương phẩm tại phường Minh Đức (quận Đồ Sơn); nuôi tôm thẻ chân trắng, cá rô phi, gia súc, gia cầm ở các quận: Đồ Sơn, Dương Kinh, các huyện Kiến Thụy, Vĩnh Bảo, Cát Hải... Những mô hình này tạo sản phẩm an toàn cho người sử dụng, không gây ô nhiễm môi trường, hiệu quả kinh tế tăng gấp 1,5-2 lần so với mô hình không áp dụng VietGAP, đồng thời góp phần đa dạng hóa giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện địa phương, nâng cao đời sống, thu nhập của bà con nông dân.

Hỗ trợ nông dân ứng dụng công nghệ tiên tiến

Theo ông Tạ Hữu Thanh, Phó trưởng Phòng quản lý khoa học và công nghệ cơ sở Sở Khoa học-Công nghệ, các dự án khoa học công nghệ cấp cơ sở đều do quận, huyện trực tiếp quản lý từ khâu phê duyệt thuyết minh đến đánh giá, nghiệm thu. Để dự án khoa học công nghệ cấp cơ sở được phê duyệt cần bảo đảm các yếu tố: phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tạo ra sản phẩm mới, có năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đặc sản; tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu; bảo vệ sức khỏe con người, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh; sản xuất sạch, thân thiện môi trường… Do đó, để các dự án khoa học công nghệ cấp cơ sở đáp ứng những yêu cầu “khắt khe” nêu trên và thực sự là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội, các địa phương tăng cường kết nối “đặt hàng” các nhà khoa học, đơn vị nghiên cứu để tạo ra những cây giống, con giống có năng suất, giá trị kinh tế cao, phù hợp đặc thù từng địa phương. Đồng thời cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất, chế biến, đến tiêu thụ sản phẩm; đẩy mạnh xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu sản phẩm để nâng cao giá trị hàng hóa, thu nhập cho người dân.

Mặt khác, ngành Khoa học- Công nghệ tiếp tục có giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân ứng dụng các công nghệ tiên tiến như thiết bị cảm biến, công nghệ đèn LED, công nghệ nhà kính, nhà lưới, công nghệ sinh học, thủy canh, tự động hóa, ứng dụng di động trong cung cấp thông tin về thời tiết, nông học, phát triển thị trường, kiểm soát giá cả, thanh toán… Đây chính là “công cụ” quan trọng giúp người nông dân mạnh dạn xây dựng và triển khai có hiệu quả cao các dự án khoa học công nghệ cấp cơ sở vào thực tế sản xuất tại địa phương.

Từ nay đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Hải Phòng quy hoạch 5870 ha khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với các sản phẩm có lợi thế trên địa bàn 7 quận, huyện: Dương Kinh, Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, An Dương và Kiến Thụy. Trong đó có 3 khu và 42 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Thanh Thủy

Gỡ khó cho ‘cánh đồng lớn’ phát triển

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp là hướng đi được ngành chức năng khuyến khích.

Thời gian qua, ở ĐBSCL có những mô hình như “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, “cánh đồng 1 giống”, “cánh đồng lúa chất lượng cao”, “cánh đồng lúa thâm canh VietGAP”… Và sau đó là mô hình hoàn thiện với tên gọi “cánh đồng lớn”, nhằm hướng tới nền sản xuất lúa gạo bền vững.

Cánh đồng lớn là hướng đi đúng để phát triển ngành lúa gạo.

Hiệu quả thiết thực

Theo Bộ NN&PTNT, vụ lúa Đông xuân 2018-2019, các tỉnh Nam bộ thực hiện mô hình “Cánh đồng lớn” được khoảng 170.000ha, với sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nông dân. Diện tích này có tăng so vụ Đông xuân trước, tuy nhiên tỷ lệ vẫn còn thấp so với tổng diện tích sản xuất lúa Đông xuân toàn vùng Nam bộ hơn 1,68 triệu héc-ta.

Thực tế ở ĐBSCL cho thấy, thời điểm đầu vụ thu hoạch lúa Đông xuân 2018-2019, giá lúa xuống thấp chỉ 4.400-4.900 đồng/kg, giảm khoảng 1.000 đồng/kg so vụ Đông xuân trước. Đáng lo ngại hơn là tiến độ thu mua chậm, nhất là những nơi sản xuất không có hợp đồng bao tiêu, không nằm trong mô hình cánh đồng lớn. Trước tình hình trên, UBND các tỉnh ĐBSCL hối thúc doanh nghiệp triển khai mạnh thu mua lúa cho dân, nhất là những diện tích thuộc mô hình cánh đồng lớn. Điều này cho thấy, khi sản xuất có hợp đồng tiêu thụ thì dù gặp tình trạng rớt giá, nông dân vẫn được ưu tiên đầu ra, giảm thiểu những rủi ro.

Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) cho hay, trong vụ Đông xuân 2018- 2019, tại tỉnh Tiền Giang sản xuất hơn 124ha lúa theo tiêu chuẩn VietGAP và GlobalGAP có liên kết với doanh nghiệp. Khi thu hoạch, nông dân bán giá cao hơn sản xuất thông thường 200-300 đồng/kg, lợi nhuận cao hơn 1,6-2,4 triệu đồng/ha. Còn ở Sóc Trăng, vụ lúa Đông xuân này thực hiện 9 mô hình liên kết tiêu thụ lúa đặc sản. Tất cả diện tích được doanh nghiệp bao tiêu với giá cao hơn thị trường 10%, nhờ đó lợi nhuận cao hơn canh tác bên ngoài từ 1,2-2,9 triệu đồng/ha.

Các nhà chuyên môn nhận định, cánh đồng lớn là mô hình sản xuất lúa gạo hiện đại, tạo ra sản lượng lớn, đồng đều, làm tăng chất lượng lúa gạo và là nền tảng cho sản xuất lúa chuyên canh, tiêu chuẩn VietGAP với sự liên kết 4 nhà. Từ những lợi ích đó, nên tháng 3-2011, Bộ NN&PTNT chính thức phát động mô hình “cánh đồng lớn” theo hướng liên kết. Ngay lập tức mô hình này được chính quyền địa phương, các hợp tác xã, nông dân, doanh nghiệp… hưởng ứng mạnh mẽ. Theo Cục Trồng trọt, ngay vụ lúa Hè thu 2011 ở ĐBSCL thực hiện cánh đồng lớn khoảng 8.000ha với 6.400 hộ tham gia. Đến vụ Đông xuân 2011-2012, mở rộng gần 20.000ha và cao điểm vào năm 2015 phát triển tới khoảng 190.000ha, với hàng trăm doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu cho hàng chục ngàn hộ tham gia.

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, cho rằng: Mô hình cánh đồng lớn giúp giảm chi phí, tăng năng suất, vì vậy lợi nhuận cao hơn từ 2,2-7,5 triệu đồng/ha so với sản xuất bên ngoài. Cánh đồng lớn cũng làm tăng chất lượng hạt gạo, đáp ứng tốt nhu cầu xuất khẩu, đồng thời thúc đẩy sự phát triển HTX kiểu mới. Cách làm này giúp nông dân tiếp cận thị trường thông qua doanh nghiệp đặt hàng về chủng loại, số lượng; đồng thời giúp doanh nghiệp có vùng nguyên liệu ổn định, chất lượng, nhằm chủ động xuất khẩu. Cánh đồng lớn cũng mang lại thuận lợi trong áp dụng cơ giới hóa, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng và thúc đẩy dồn điền đổi thửa nhằm hướng tới sản xuất lớn…

Cánh đồng lớn giúp thuận lợi trong áp dụng cơ giới hóa trên đồng ruộng.

Gỡ khó để phát triển

Có thể nói, cánh đồng lớn là hướng đi đúng để phát triển nền sản xuất lúa gạo bền vững; thế nhưng sau khoảng 5 năm đầu thực hiện rầm rộ thì vài năm nay mô hình này chựng lại, thậm chí tụt lùi. Có nhiều nguyên nhân được đưa ra như tình hình xuất khẩu gạo khó khăn; giữa doanh nghiệp và nông dân vẫn chưa tìm được tiếng nói chung, điển hình như giá lúa cao thì nông dân bẻ kèo để bán ra ngoài, ngược lại khi giá lúa giảm thì doanh nghiệp chậm thu mua gây khó cho dân… Ngoài ra, dù Thủ tướng Chính phủ có chính sách “khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn” (Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg), tuy nhiên việc triển khai thực hiện ở các địa phương còn chậm, chưa đồng bộ. Lãnh đạo Sở NN&PTNT các tỉnh ĐBSCL chỉ ra thêm hạn chế là năng lực của các doanh nghiệp chưa mạnh, không đáp ứng được về hệ thống máy sấy nên gặp thời điểm thu hoạch rộ thì không thể mua hết lúa cho dân, nhất là vụ Hè thu thường gặp mưa bão. Song song đó, cũng có doanh nghiệp không mặn mà tham gia mô hình do không đủ vốn đầu tư, không muốn bao tiêu và một số nguyên nhân khác…

Ông Nguyễn Sĩ Lâm, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh An Giang, cho rằng: Hiện tại, tình hình xuất khẩu gạo ngày càng cạnh tranh dữ dội, vì vậy việc phát triển cánh đồng lớn nhằm nâng chất lượng, giảm giá thành, từ đó xây dựng thương hiệu gạo để tăng sức cạnh tranh là nhu cầu cấp bách. An Giang đánh giá cao mô hình cánh đồng lớn và đang nỗ lực gỡ khó nhằm hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp cùng liên kết để phát triển mô hình này.

Nhiều chuyên gia cho rằng, để cánh đồng lớn thật sự “lớn lên” thì phải kéo nhiều doanh nghiệp tham gia; doanh nghiệp phải là “chủ xị” trong cung ứng vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm và đặt hàng cho nông dân sản xuất theo tín hiệu thị trường xuất khẩu. Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi thông qua cơ chế, chính sách để doanh nghiệp an tâm đầu tư cánh đồng lớn. Đồng thời, tổ chức cho nông dân vào HTX hoặc tổ hợp tác để liên kết với doanh nghiệp. Theo UBND tỉnh Đồng Tháp, tỉnh đang tạo điều kiện thuận lợi và mời gọi các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, trong đó có cánh đồng lớn. Lãnh đạo tỉnh luôn đồng hành cùng doanh nghiệp và đánh giá cao vai trò của doanh nghiệp…

Cánh đồng lớn sẽ lớn, nếu có sự vào cuộc mạnh hơn, quyết tâm hơn của các cấp, các ngành. Tất cả cùng nhau nhìn xa hơn, lâu dài hơn thì sản xuất nông nghiệp nói chung và mô hình cánh đồng lớn nói riêng sẽ lớn mạnh!

Bài, ảnh: HƯNG TÂN

Trà Vinh: Công bố chính sách hỗ trợ nông dân trồng mía niên vụ 2019-2020

Nguồn tin: Mard

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh vừa phối hợp với Công ty cổ phần Mía đường Trà Vinh tổ chức thông báo công bố chính sách đầu tư trồng, chăm sóc và giá thu mua mía nguyên liệu cho niên vụ 2019-2020 trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Theo đó, trong niên vụ mía 2019-2020 Công ty cổ phần Mía đường Trà Vinh sẽ thu mua mía đạt 10 chữ đường với giá 700 đồng/kg, nếu chữ đường tăng trên 10 thì công ty mua tăng thêm 10%/chữ và ngược lại, chữ đường giảm dưới 10 thì mua giảm 10%/chữ.

Nông dân huyện Trà Cú (Trà Vinh) thu hoạch mía niên vụ 2018-2019

Còn theo chính sách đầu tư trồng, chăm sóc vừa được công bố, các tổ hợp tác, hợp tác xã, hộ nông dân trồng mía thuộc vùng quy hoạch có diện tích sản xuất mía tối thiểu 01 ha ký hợp đồng với công ty được hưởng các chính sách đầu tư trồng và chăm sóc, bao tiêu sản phẩm như: công ty đầu tư mía giống (ưu tiên giống KK3) và phân bón NPK chuyên dùng cho mía. Đến kỳ thu hoạch, công ty bao tiêu sản phẩm và thu hồi vốn đầu tư với mức lãi suất được tính bằng lãi cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh. Đồng thời, để giúp nông dân trồng mía giảm thiểu được chi phí trung gian qua thương lái và chi phí vận chuyển, công ty sẽ tiếp tục triển khai chính sách thu mua tại ruộng và tự chịu chi phí vận chuyển. vụ mía vừa qua là lần đầu tiên công ty thực hiện chính sách này, cùng với mức hỗ trợ 5.000 đồng/tấn đối với mía sạch. Ngoài các chính sách vừa nêu, đối với những vùng đủ điều kiện trồng mía, khi nông dân có đơn đăng ký chuyển đổi từ cây trồng khác sang trồng mía và cam kết giữ vững diện tích tối thiểu 02 vụ, thì sẽ được công ty hỗ trợ mỗi hộ chuyển đổi 02 triệu đồng/ha. Đồng thời, công ty sẽ phối hợp với ngành nông nghiệp hỗ trợ về khoa học, kỹ thuật, hướng dẫn quy trình trồng mía, tư vấn giống mía, cách phòng trừ sâu bệnh trên mía cho các hộ được đầu tư.

Được biết, hiện nông dân trồng mía tỉnh Trà Vinh đã cơ bản thu hoạch dứt điểm diện tích mía niên vụ 2018 - 2019, với năng suất bình quân khoảng 80-85 tấn/ha. Bước vào niên vụ mía 2019-2020, nông dân trồng mía trên địa bàn tỉnh đã xuống giống được trên 2.000 ha, dự kiến đến tháng 12/2019 sẽ bắt đầu thu hoạch niên vụ mía 2019-2020.

Thanh Tuyền

10 năm trồng cao su, nhiều người dân Sơn La ‘vỡ mộng’ vì thất thu

Nguồn tin: VOV

Sau hơn 10 năm phát triển cây cao su, không ít gia đình ở Sơn La đã lâm vào tình cảnh khốn đốn vì thất thu từ cao su.

Cây cao su được đưa về trồng ở Sơn La và các tỉnh Tây Bắc từ năm 2008. Khi ấy, loại cây này được đánh giá là sẽ phát triển tương đương với cao su trồng ở Đông Nam Bộ và là cây đa mục đích, vừa có giá trị kinh tế cao, vừa thực hiện nhiệm vụ của rừng phòng hộ bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, bảo vệ đất, chống xói mòn. Tham gia góp đất trồng cao su, người dân việc làm ổn định, thu nhập bền vững…

Thế nhưng, sau hơn 10 năm phát triển cây cao su, không ít gia đình đã lâm vào tình cảnh khốn đốn vì thất thu từ cao su và hiện đang trăn trở với suy nghĩ có nên tiếp tục mỏi mòn chờ đợi? Chính quyền địa phương sẽ làm gì khi người dân đang loay hoay về cây cao su?

Căn nhà tuyềnh toàng, trống hoác của gia đình chị Lò Thị Thuông, bản Củ Pe, huyện Mai Sơn.

Trong căn nhà sàn tuyềnh toàng, trống hoác, tường nhà bên vách liếp, bên tường đất với những vệt vôi cũ kỹ, chị Lò Thị Thuông, dân tộc Thái, người dân ở bản Củ Pe, xã Mường Bon, huyện Mai Sơn, Sơn La không thôi phàn nàn: Phải chi gia đình không tham gia góp đất trồng cao su, thì chắc đã làm được nhà đàng hoàng cho các con ở, cuộc sống không túng thiếu như hiện nay.

Năm 2008, khi chính quyền vận động người dân tham gia góp đất trồng cây cao su với viễn cảnh tươi sáng: có việc làm, thu nhập ổn định; cao su là cây có giá trị kinh tế cao, gia đình sẽ nhanh chóng khấm khá… Nghe thế, vợ chồng chị đã góp toàn bộ 1 héc ta diện tích đất nương của gia đình trồng cao su. 7 - 8 năm rồi 10 - 11 năm mòn mỏi, cho đến nay, cây cao su vẫn chưa được khai thác, đồng nghĩa với việc gia đình chưa được chia một đồng lợi nhuận nào, vì thế, cuộc sống rất khó khăn. Gần 1 năm nay, chồng chị cũng bỏ không làm công nhân cho công ty cổ phần cao su Sơn La nữa vì lương rất thấp, lại bấp bênh; cả nhà 5 miệng ăn cùng chi phí học hành cho 3 con giờ chỉ trông chờ vào tiền công thuê mướn qua ngày của vợ chồng chị.

Chị Lò Thị Thuông nói: "Chúng tôi quá khổ vì mấy năm trồng cây cao su, đến nay chúng tôi chưa được cạo mủ, và suốt mấy năm qua gia đình cũng chưa có tí lợi ích kinh tế nào từ cây này. Không có đất để trồng cấy, bây giờ hàng ngày chúng tôi chỉ biết đi làm thuê làm mướn, tiền công mỗi ngày được 1 trăm nghìn, nhưng số tiền này coi như chỉ đủ bản thân mình ăn, còn chồng còn con, học hành này nọ của bọn trẻ… thiếu thốn lắm".

10 năm tuổi, nhưng nhiều cây cao su thân rất bé.

Vợ chồng chị Lò Thị Thân, cùng bản Củ Pe cũng đã bỏ, không còn làm công nhân cho công ty cổ phần cao su Sơn La từ 2 năm nay. Góp toàn bộ 2 héc ta đất trồng cao su, những mong cuộc sống sẽ đỡ vất vả, năm đầu còn được 2 đến 3 triệu 1 tháng, nhưng khi cây cao su khép tán, mỗi tháng chỉ còn vài trăm nghìn đồng. Nay “vỡ mộng” về thứ cây này, gia đình chỉ muốn lấy lại phần đất đã góp để canh tác ngô, sắn như trước, có thu nhập đều đều, cuộc sống đỡ vất vả:

"Ban đầu họ nói là cao su xóa đói giảm nghèo, nhưng bây giờ dân càng nghèo hơn. Bây giờ bà con trong bản ai cũng muốn công ty trả đất cho bà con trồng cà phê, trồng sắn ăn thôi", chị Lò Thị Thân chia sẻ.

Một số diện tích đã cho cạo mủ, nhưng lượng mủ ít.

Với các hộ dân cao su đã cho khai thác mủ, tình cảnh cũng không mấy khả quan. Ông Bạc Cầm Sươn, ở bản Hụm, xã Mường Khiêng, huyện Thuận Châu là một trong những hộ được khai thác mủ sau hàng chục năm gắn bó với cây cao su. Tuy nhiên, trong năm đầu khai thác này, bình quân mỗi tháng, gia đình ông thu được 1,5 tạ mủ cao su. Với giá 3,7 triệu đồng một tạ mủ như hiện nay, bình quân mỗi tháng, ông chỉ được thu 600 nghìn đồng, trừ tiền nộp bảo hiểm, ông còn nhận về ngót nghét 300 nghìn đồng. Nhà có 5 nhân khẩu, với mức thu này, ông không biết sống bằng cách nào. Ông cho biết, nhiều hộ ở bản ông đã không đi cạo mủ cao su nữa mà đi làm thuê ở ngoài, vì ít nhất đi làm thuê cũng được từ 150 đến 200 nghìn đồng một người một ngày. Nếu cứ tình cảnh này, ông và bà con trong bản không mấy ai còn mặn mà với cây cao su.

Được biết, để giúp người dân góp đất trồng cao su có thêm điều kiện trang trải cuộc sống, ngày 18 tháng 3 năm 2011, HĐND tỉnh Sơn La đã ban hành Nghị quyết số 363 về chính sách phát triển cây cao su trên địa bàn. Theo Nghị quyết này, các cá nhân, hộ gia đình tham gia góp đất trồng cây cao su, nhưng không đủ 1 ha hoặc trên 1 ha, nhưng không có lao động tham gia làm công nhân tại Công ty Cổ phần Cao su Sơn La được hỗ trợ về vốn phát triển sản xuất và đào tạo chuyển đổi ngành nghề, với mức 3 triệu đồng/ha/năm/hộ trong thời gian 7 năm để mua phân bón, giống cây lương thực, hoa màu, hỗ trợ chăn nuôi gia súc, gia cầm khi chưa có thu nhập từ cây cao su… Tuy nhiên, đến nay đã là 8 năm sau khi Nghị quyết được ban hành, không ít vùng, bà con vẫn chưa được nhận khoản hỗ trợ này.

Ông Lò Văn Thuận, Chủ tịch UBND xã Mường Khiêng, huyện Thuận Châu cho biết: "Thực tế đến thời điểm này, bà con đã trồng cao su được 8-9 năm rồi, nhưng chưa được hỗ trợ theo tinh thần Nghị quyết 363, bà con rất khó khăn. Vì vậy, xã cũng mong cấp trên quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa về việc thực hiện chính sách hỗ trợ này.

Nhiều người trồng cao su ngao ngán: "Cao su xanh nhưng đời mình không xanh".

Hàng chục năm chờ đợi, sống mỏi mòn dưới tán cao su, nhưng hiệu quả kinh tế vẫn còn ở tương lai xa; nhiều chỗ cho khai thác với năng suất thấp; hoặc cây cao su đã gần 10 năm tuổi vẫn chưa khai thác được. Đã thế, người dân nhiều vùng vẫn chưa được nhận khoản hỗ trợ nào từ chính quyền, trong khi chính sách hỗ trợ đã ban hành từ lâu. Thực tế này đang khiến người trồng cao su Sơn La hao mòn niềm tin với thứ cây “vàng trắng” này khi họ đang “sống dở, chết dở”, không ít nhiều người thốt lên: “Cây cao su xanh, nhưng đời mình không xanh”!./.

Nhóm PV/VOV-Tây Bắc

Thừa Thiên Huế: Phong Điền mất mùa lạc vụ đông xuân do thời tiết hanh khô

Nguồn tin: Báo Thừa Thiên Huế

Vụ đông xuân năm nay, bà con nông dân trên địa bàn huyện Phong Điền (Thừa Thiên Huế) đưa vào gieo trỉa gần 930 ha lạc, trong đó tập trung ở các xã Phong Sơn 355 ha; Phong Xuân 223 ha; Phong An 163 ha; Phong Hiền 67 ha…

Mô hình trồng lạc hữu cơ ở HTX Nam Sơn (Phong Sơn, Phong Điền)

Để đảm bảo cho năng suất và sản lượng cao, huyện Phong Điền đã bố trí giống lạc chủ lực được bà con nông dân xem là thế mạnh và năng suất cao để gieo trỉa như giống L14, L18, L23, lạc dù Tây Nguyên.

Ngay từ đầu vụ, huyện đã có kế hoạch sản xuất cụ thể, đồng thời cử cán bộ Phòng NN&PTNT huyện, Trạm khuyến nông lâm ngư, Trạm BVTV huyện bám sát cơ sở, hướng dẫn bà con nông dân gieo lạc đảm bảo khung lịch thời vụ, đúng quy trình kỹ thuật, phòng trừ sâu bệnh.

Tuy nhiên, do thời tiết khô hạn ngay từ đầu vụ đã ảnh hưởng đến sự nảy mầm, sinh trưởng, phát triển của cây lạc, tỷ lệ nảy mầm của cây lạc thấp đã làm cây lạc sinh trưởng phát triển kém, ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng. Vì vậy, năng suất bình quân ước đạt 18 tạ/ha, sản lượng chỉ đạt 1.672 tấn.

Đây được xem là vụ lạc mất mùa của bà con nông dân trên địa huyện Phong Điền trong những năm trở lại đây. Đến thời điểm này, bà con nông dân trên địa bàn huyện Phong Điền đã thu hoạch gần 200 ha lạc.

Tin, ảnh: Hải Huế

Đức Linh (Bình Thuận): Tạm ngừng sản xuất vụ hè thu do thiếu nước

Nguồn tin: Báo Bình Thuận

Thông tin từ UBND huyện Đức Linh (tỉnh Bình Thuận), đến thời điểm này, huyện đã tập trung chỉ đạo tạm ngừng việc xuống giống hè thu 2019. Nguyên nhân, hiện tình hình thời tiết nắng hạn, có xu hướng diễn biến phức tạp; nước trên các suối lạch, ao bàu hầu hết đã khô kiệt. Nguồn nước từ thủy điện Hàm Thuận- Đa Mi không đảm bảo để cấp nước cho sản xuất trên địa bàn huyện. Cụ thể, đến ngày 9/5, dung tích hữu ích hiện tại hồ thủy điện Hàm Thuận chỉ còn 8,84 triệu m3/552,50 triệu m3, chỉ đạt 1,69% dung tích hữu ích thiết kế (mực nước chết), thấp hơn rất nhiều so cùng kỳ 2018. Với trữ lượng nước còn lại, thủy điện Hàm Thuận- Đa Mi chỉ đảm bảo nguồn nước đến ngày 10/5/2019 và không đảm bảo nước để sản xuất vụ hè thu.

Do đó, ông Huỳnh Văn Tú- Phó Chủ tịch UBND huyện Đức Linh cho biết, việc tạm ngừng sản xuất hè thu cho đến khi thời tiết có mưa ổn định; nguồn nước từ các công trình thủy điện đảm bảo phục vụ cho sản xuất, sẽ hạn chế thấp nhất thiệt hại do nắng hạn gây ra trong thời gian tới.

Các hệ thống tưới trên địa bàn đã khô cạn nước.

Theo kế hoạch, vụ hè thu năm nay, huyện Đức Linh sẽ gieo trồng cây hàng năm 9.910 ha; gồm diện tích lúa 8.340 ha, cây bắp 300 ha, cây đậu phộng 90 ha, đậu các loại 70 ha, rau các loại 110 ha, cây mỳ 850 ha, cây có bột 150 ha.

Tương tự huyện Đức Linh, địa phương lân cận là Tánh Linh cũng đang gặp khó khăn về nguồn nước và đang tìm mọi biện pháp khắc phục.

K.H

Tuyên Quang: Hàm Yên phát triển vật nuôi đặc sản

Nguồn tin:  Báo Tuyên Quang

Hàm Yên (Tuyên Quang) có nhiều lợi thế phát triển sản xuất nông nghiệp. Ngoài các loại cây trồng chủ lực như cam, mía, chè, gỗ rừng trồng thì trên địa bàn còn có nhiều loại vật nuôi đặc sản đang được huyện quan tâm đẩy mạnh phát triển là cá chiên, lợn đen, vịt bầu Minh Hương.

Xã Thái Hòa có hơn 9 km sông Lô chảy qua địa bàn xã, tận dụng điều kiện thuận lợi này, từ năm 2006, một số hộ dân trong xã đã tổ chức nuôi cá lồng. Hiện nay, toàn xã có hơn 40 hộ nuôi cá lồng với 138 lồng cá, trong đó có 53 lồng cá chiên đặc sản, tập trung chủ yếu ở 5 thôn: Ba Luồng, Tân An, Khánh An, Bình Thuận, Soi Long. Đặc biệt, năm 2016, Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh cá đặc sản Thái Hòa được thành lập và sản phẩm cá chiên của hợp tác xã đã được công nhận đạt chuẩn VietGAP.

Ông Vũ Xuân Đối, thôn 2 Minh Quang, xã Minh Hương (Hàm Yên) chăm sóc đàn lợn đen của gia đình.

Anh Vũ Tuấn Công, thôn Ba Luồng là một trong những người nuôi cá lồng đặc sản đầu tiên ở xã Thái Hòa. Hiện gia đình anh đang nuôi 4 lồng cá chiên. Anh cho biết, so với nhiều loại vật nuôi khác thì nuôi cá chiên đặc sản mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Bởi, cá chiên được xếp vào nhóm cá “ngũ quý” (cá chiên, cá lăng, cá dầm xanh, cá anh vũ và bỗng). Giá cá chiên trên thị trường hiện nay dao động từ 450 - 500 nghìn đồng/kg, mỗi lồng cá anh thu lãi 50 - 60 triệu đồng.

UBND xã Thái Hòa chọn xây dựng thương hiệu “Cá chiên Thái Hòa” là sản phẩm mũi nhọn của địa phương. UBND huyện Hàm Yên đang triển khai dự án hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn xã Thái Hòa. Thời gian thực hiện từ tháng 6-2018 đến tháng 6-2020, với tổng kinh phí là hơn 6,7 tỷ đồng. Ông Phạm Thanh Bình, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh cá đặc sản Thái Hòa cho biết, mục tiêu của dự án đến năm 2020 sẽ duy trì nuôi từ hơn 130 lồng cá trở lên, trong đó có 75 lồng cá chiên, sản lượng đạt hơn 38 tấn, cung cấp cho các nhà hàng, thương lái trong và ngoài tỉnh.

Mô hình nuôi lợn hữu cơ bằng giống lợn đen của gia đình ông Vũ Xuân Đối, thôn 2 Minh Quang, xã Minh Hương mang lại hiệu quả khá cao. Vào thời điểm giá lợn hơi xuống thấp như đợt tháng 2 vừa qua, nhưng đàn lợn thương phẩm của gia đình ông vẫn bán giá 70 - 80 nghìn đồng/kg. Ông Đối cho biết, gia đình ông nuôi lợn đen hơn chục năm nay, khu vực chăn nuôi luôn duy trì trên 100 con, mỗi năm thu nhập từ nuôi lợn hữu cơ đạt trên 100 triệu đồng. Điều quan trọng là thị trường tiêu thụ lợn đen luôn mở rộng, không có sản phẩm để bán và giá bán ổn định.

Theo ông Đào Quang Chính, thôn 6 Minh Quang, xã Minh Hương, chăn nuôi lợn đen tuy thời gian kéo dài do lợn chậm lớn, mỗi tháng nuôi lợn chỉ tăng được 2 - 3 kg/con, trọng lượng lợn xuất chuồng thường từ 20 - 30 kg nhưng bù lại giá 1 kg lợn đen cao gấp 2 đến 3 lần giá lợn thường. Giống lợn địa phương có khả năng kháng thể tốt nên ít chi phí thuốc chữa bệnh, chủ yếu là tiêm phòng và tẩy giun sán định kỳ cho đàn lợn. Vì vậy, thịt lợn đen địa phương ăn rất thơm, ngon và được thực khách đánh giá cao.

UBND huyện Hàm Yên đã xây dựng thành công nhãn hiệu tập thể “Vịt bầu Minh Hương”, dự kiến năm 2019 giá trị thu từ vịt bầu Minh Hương đạt 6,6 tỷ đồng; phối hợp với Chi cục Thủy sản tỉnh để hoàn thiện hồ sơ đề nghị Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng công nhận nhãn hiệu hàng hóa sản phẩm đặc sản “Cá chiên Thái Hòa”; khuyến khích người dân, doanh nghiệp tham gia liên kết sản xuất - tiêu thụ - chế biến sản phẩm nông nghiệp nói chung và đẩy mạnh phát triển sản xuất lợn đen địa phương nói riêng. Trên địa bàn huyện đã hình thành các tổ hợp tác chăn nuôi lợn đen huyện Hàm Yên, Tổ hợp tác nuôi lợn đen thôn 2 Minh Quang, thôn Kim Dao, xã Minh Hương, các sản phẩm lợn của tổ hợp tác được nhiều nhà hàng trên địa bàn trong và ngoài tỉnh đặt mua…

Bài, ảnh: Hải Hương

Đa lợi ích của phế phụ phẩm nông nghiệp

Nguồn tin:  Hà Nội Mới

Là một trong những địa phương có diện tích trồng trọt và đàn vật nuôi lớn, bên cạnh sản phẩm chính cung ứng cho người tiêu dùng, Hà Nội còn có lượng lớn phế phụ phẩm nông nghiệp. Để khai thác hiệu quả nguồn nguyên liệu này, Hà Nội đang có nhiều biện pháp cụ thể để phế phụ phẩm nông nghiệp được sử dụng hữu hiệu, thiết thực hơn...

Tận dụng phế phụ phẩm sau thu hoạch, huyện Mỹ Đức đã xây dựng mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học để xử lý rơm rạ trong sản xuất đậu tương. Kết quả cho thấy, bằng phương pháp mới này, năng suất đậu tương cao hơn so với biện pháp thông thường từ 17 đến 20kg/sào, gốc rạ phân hủy nhanh sau 50 ngày, đạt 70%; giảm số lần bón phân và thuốc bảo vệ thực vật (1-2 lần/vụ); đặc biệt, cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, hạn chế sâu bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng độ phì của đất...

Sử dụng xơ dừa trồng hoa lan ở huyện Đan Phượng. Ảnh: Minh Hùng

Không chỉ Mỹ Đức, nhiều huyện của Hà Nội như: Đông Anh, Sóc Sơn, Gia Lâm… cũng đang sử dụng rơm rạ để trồng nấm, xử lý thành chế phẩm trồng các loại cây, rau màu... Ngoài nguồn phế phụ trong trồng trọt, nhiều địa phương còn tận dụng phế phụ trong chăn nuôi để triển khai các công trình khí sinh học. Đơn cử, Hội Nông dân xã Ba Trại (huyện Ba Vì) tận dụng nguồn phế thải từ chăn nuôi bò, gia cầm... để xây dựng hơn 40 hầm biogas. Phó Trưởng phòng Kinh tế huyện Ba Vì Hứa Bá Trình cho biết, huyện tiếp tục phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Hà Nội (Sở NN&PTNT) xây dựng các mô hình sản xuất có tận dụng nguồn phế phụ phẩm trong nông nghiệp; đồng thời hướng dẫn nông dân thực hiện, bước đầu đạt hiệu quả khả quan...

Để tận dụng nguồn phế phụ từ chăn nuôi, ngoài các hộ, trang trại chăn nuôi tự xây dựng hầm biogas, thành phố đã hỗ trợ một số trang trại chăn nuôi xử lý chất thải bằng hình thức sử dụng đệm lót sinh học và công nghệ xử lý lên men vi sinh. Theo thống kê của ngành Nông nghiệp Hà Nội, tính đến hết năm 2018, toàn thành phố có hơn 648 cơ sở sử dụng đệm lót sinh học; 159.630 cơ sở xây dựng công trình biogas xử lý chất thải chăn nuôi… Các hình thức xử lý, sử dụng phế phụ phẩm này đã góp phần tăng năng suất cây trồng, vật nuôi; giảm đáng kể tình trạng ô nhiễm môi trường, giảm phát khí thải nhà kính…

Theo Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Nguyễn Huy Đăng, nguồn phế phụ phẩm trong trồng trọt, chăn nuôi của Hà Nội rất lớn, nhưng việc khai thác sử dụng còn hạn chế. Cụ thể, mỗi năm Hà Nội có khoảng 1,8 triệu sinh khối phế phụ phẩm từ sản xuất lúa gạo, trong đó có 1,44 triệu tấn rơm rạ, 240 nghìn tấn trấu, 120 nghìn tấn cám... Tuy nhiên, mỗi năm khoảng 500 nghìn tấn rơm rạ bị đốt bỏ (chiếm hơn 30% tổng lượng rơm rạ), vừa gây ô nhiễm môi trường (tro bụi, khói...), vừa lãng phí nguồn nguyên liệu hữu cơ. Ngoài lúa, hằng năm, lượng phế phụ phẩm từ cây ngô cũng tương đối lớn (khoảng 11 nghìn tấn, trong đó có 69,8 nghìn tấn phế phụ phẩm từ lõi, bẹ ngô và 41,1 nghìn tấn từ thân, lá ngô). Thực tế, chỉ có 20% số phế phụ phẩm từ ngô được ủ làm thức ăn chăn nuôi; lượng lớn còn lại, nông dân bỏ tại ruộng, rất lãng phí...

Trong lĩnh vực chăn nuôi, Hà Nội là một trong những địa phương có đàn gia súc, gia cầm lớn với gần 30 triệu con. Theo điều tra, thực trạng phế phụ phẩm chăn nuôi của Hà Nội chủ yếu là chất thải rắn và nước thải, trong đó, nguồn chất thải rắn lên tới 11,4 triệu tấn, song việc sử dụng nguồn phế phụ này còn hạn chế. Hầu hết người chăn nuôi chưa nhận thấy nguồn lợi từ những phế phụ... do hiểu hoặc chưa được tiếp cận với kỹ thuật ứng dụng khoa học trong xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp.

"Để tận dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu hữu cơ tiềm năng này, Sở NN&PTNT Hà Nội đang triển khai các mô hình sản xuất sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp trong trồng nấm, đậu tương, khoai tây; đồng thời, đầu tư, chuyển giao khoa học kỹ thuật trong xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp tại các huyện có diện tích trồng trọt và quy mô chăn nuôi lớn. Điều quan trọng, các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền để nông dân hiểu, tiếp cận và ứng dụng các biện pháp kỹ thuật trong tái sử dụng hiệu quả nguồn phế phụ phẩm trong nông nghiệp nhằm đạt đa lợi ích" - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Nguyễn Huy Đăng nhấn mạnh.

ĐỖ MINH

Nông nghiệp vượt khó tăng trưởng

Nguồn tin:  Báo An Giang

Dù giá lúa, cá tra không thuận lợi từ sau Tết Nguyên đán nhưng những tháng đầu năm 2019, tốc độ tăng trưởng khu vực I (nông, lâm nghiệp và thủy sản) vẫn vượt kế hoạch đề ra, giá trị tuyệt đối tăng gần 213 tỷ đồng so cùng kỳ năm 2018. Trong khi chăn nuôi giảm nhẹ thì trồng trọt và thủy sản tăng trưởng khá.

Trái cây có đóng góp lớn vào tăng trưởng nông nghiệp

Ổn định trong khó khăn

Sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, giá lúa bất ngờ sụt giảm. Nguyên nhân được cho là động thái đột ngột dừng nhập khẩu gạo của Chính phủ Trung Quốc từ trước Tết. Quyết định của quốc gia chiếm đến 45% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam năm 2018 ngay lập tức khiến thị trường lúa, gạo ảm đạm, nhất là vùng ĐBSCL. Nhờ nỗ lực điều hành chính sách vĩ mô của Chính phủ, sự vào cuộc của UBND tỉnh và các sở, ngành, nỗ lực thu mua lúa tạm trữ, xúc tiến hợp đồng của doanh nghiệp, tình hình xuất khẩu gạo vẫn ổn định. Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), trong tháng 3 và tháng 4-2019, dù giá lúa tươi thấp hơn cùng kỳ 2018 từ 500-600 đồng/kg nhưng đã tăng lên khá so tháng 2. Đối với cá tra, từ giữa tháng 3 đến nay, giá cá tra nguyên liệu dù có tăng nhẹ so tháng 2 nhưng chỉ dao động quanh mức 24.000 đồng/kg, giảm 5.000 đồng/kg so thời điểm cuối năm 2018, đầu năm 2019. Tuy nhiên, với mức giá này, người nuôi vẫn lãi từ 500 - 1.000 đồng/kg.

Những tháng đầu năm 2019 cũng ghi nhận tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, thời tiết thất thường, không thuận lợi… Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn ổn định. Theo đánh giá sơ bộ của Cục Thống kê, năng suất lúa đông xuân ước đạt 7,3 tấn/ha, xấp xỉ cùng kỳ, diện tích và sản lượng vụ mùa tăng, năng suất các loại cây ăn trái tăng. Về thủy sản, người nuôi chủ động nuôi liên kết với doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm. Chi cục Thủy sản An Giang cho biết, hiện diện tích vùng nuôi của doanh nghiệp và các hộ nuôi liên kết chiếm khoảng 80-85% tổng diện tích nuôi cá tra, chỉ còn khoảng 150ha hộ nuôi không liên kết với doanh nghiệp (chủ yếu nuôi tiêu thụ nội địa, tiêu thụ qua thị trường Campuchia, làm khô cá tra phồng…). Quý I-2019, ước sản lượng thu hoạch cá tra tăng 9%, sản xuất giống tăng 13% so cùng kỳ. Nhờ đẩy mạnh phát triển sản xuất chuỗi liên kết cá tra giống 3 cấp nên sản lượng tiêu thụ ổn định, người nuôi vẫn có lợi nhuận.

Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Võ Thị Thanh Vân cho biết, tổng giá trị tăng thêm (VA so sánh 2010) của khu vực I trong quý I-2019 có thể đạt 7.282 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 2,64% (kịch bản đề ra là 2,5%). Trong giá trị tuyệt đối tăng gần 213 tỷ đồng, trồng trọt tăng 158 tỷ đồng, chăn nuôi giảm 4,6 tỷ đồng, thủy sản tăng 39 tỷ đồng…

Tập trung giành thắng lợi nông nghiệp

Hiện nay, Chính phủ cùng các bộ, ngành Trung ương, các địa phương, doanh nghiệp đẩy mạnh xúc tiến thị trường cho các mặt hàng nông sản chủ lực. Đối với ĐBSCL, việc Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) phối hợp Hiệp hội Lương thực Trung Quốc đưa 20 doanh nghiệp nhập khẩu gạo của nước này đến khảo sát nhà máy, kết nối giao thương với doanh nghiệp xuất khẩu lương thực tại tỉnh An Giang, Long An, Đồng Tháp mở ra cơ hội lớn để mặt hàng gạo có chất lượng tiếp tục tiến vào thị trường Trung Quốc qua đường chính ngạch. Đối với cá tra, theo TS Đào Việt Anh (Tham tán thương mại Việt Nam tại Bắc Kinh - Trung Quốc), đây vẫn là mặt hàng có lợi thế gần như độc quyền của ĐBSCL, nhất là các tỉnh đầu nguồn như: An Giang, Đồng Tháp. “Dù phía Trung Quốc có vài lần yêu cầu Cục Quản lý chất lượng nông - lâm sản và thủy sản (Bộ NN&PTNT) tăng cường kiểm tra chất lượng cá tra nhưng đến nay, Trung Quốc vẫn chưa áp thêm hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng đối với cá tra Việt Nam. Đây là mặt hàng thủy sản có rất nhiều tiềm năng, lợi thế khi xuất khẩu theo đường chính ngạch”- TS Đào Việt Anh đánh giá.

Để đáp ứng chất lượng nguồn gạo nguyên liệu, các đơn vị chuyên môn của Sở NN&PTNT đã phân công cán bộ kỹ thuật thường xuyên bám sát địa bàn, vận động nông dân xuống giống lúa vụ hè thu 2019 đúng lịch thời vụ, đồng thời theo dõi thời tiết, tình hình 33 bẫy đèn và diễn biến dịch hại ngoài đồng ruộng để đưa ra những thông báo, khuyến cáo nhằm giúp nông dân xử lý dịch bệnh kịp thời, hiệu quả. Nhằm phát huy lợi thế cá tra, tránh cung vượt cầu, Sở NN&PTNT sẽ tiếp tục phối hợp các địa phương tăng cường quản lý việc phát triển diện tích nuôi trồng, đảm bảo không để xảy ra tình trạng tự phát đào ao nuôi cá không theo quy hoạch. Đồng thời, tiếp tục thực hiện chương trình giống cá tra 3 cấp tỉnh An Giang giai đoạn năm 2017 - 2021, tiếp tục phối hợp Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II (Viện II) thực hiện quan trắc giám sát môi trường trên địa bàn tỉnh; giám sát định kỳ các cơ sở đã tiếp nhận đàn cá tra bố mẹ của Viện II tại các địa phương trong tỉnh…

Bên cạnh tập trung cho 2 mặt hàng chủ lực (lúa, cá tra), những mặt hàng có giá trị kinh tế cao như: tôm càng xanh toàn đực, thủy sản nước ngọt, cây ăn trái, nông sản an toàn, sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao… được chú trọng phát triển, liên kết đầu ra nhằm tạo giá trị lớn cho ngành nông nghiệp.

Bài, ảnh: HOÀNG XUÂN

Công ty của tỷ phú Thái tìm nhân sự cho mảng nông nghiệp sạch tại Việt Nam

Nguồn tin:  VnExpress

MM Mega Market dự kiến xuất khẩu thêm cá biển Việt Nam sang Thái Lan, Trung Quốc và các thị trường Đông Nam Á khác trong nửa cuối năm.

Ngày 10/5 tại TP HCM, Công ty TNHH MM Mega Market Việt Nam ký kết hợp tác MoU với Đại học Tôn Đức Thắng về đào tạo nhân sự giữa hai bên. Theo đó, doanh nghiệp sẽ hỗ trợ học bổng, các chương trình đào tạo sát thực tế cho nhà trường. Ngoài ra, sinh viên còn thực tập thực tế trong siêu thị và có thể được tuyển thẳng vào công ty nếu đạt yêu cầu.

Ông Phidsanu Pongwatana, Tổng giám đốc MM Mega Market Việt Nam cho hay, công ty đang thực hiện khá nhiều dự án về nông nghiệp sạch, nên nhu cầu tuyển dụng khá cao. Ngoài hợp tác với Đại học Tôn Đức Thắng, thời gian tới doanh nghiệp sẽ còn hợp tác với nhiều trường chuyên về nông nghiệp và kinh tế để tìm kiếm nhân tài.

"Việc tìm nhân sự trong lĩnh vực nông nghiệp khá khó khăn. Do đó, công ty muốn hợp tác với nhà trường để đào tạo được những nhân sự đáp ứng nhu cầu thực tế", ông Phidsanu Pongwatana nói và đánh giá, chất lượng sinh viên Việt Nam ngày được nâng cao. Đã có nhiều sinh viên chủ động tham gia các khóa thực tập nông nghiệp ở các nước có nền nông nghiệp phát triển như Isarel, Australia... Do đó, họ cần có môi trường phát triển tại Việt Nam.

Bước đầu, công ty này đã xây dựng 4 hệ thống trung chuyển các đặc sản Việt như, Đà Lạt cung cấp rau củ sạch, Đồng Nai cung cấp thịt heo. Trong khi đó, Cần Thơ là đầu mối thu mua thuỷ hải sản, còn trái cây được thu mua tại Bến Tre. Nửa cuối năm nay sẽ mở thêm trạm trung chuyển ở miền Bắc. Các trạm này sẽ đẩy mạnh cùng lúc sản lượng và chất lượng trong năm nay. Đặc biệt, đối với các sản phẩm rau quả, sắp tới siêu thị chỉ cung ứng hàng đạt tiêu chuẩn VietGAP và chứng nhận sạch.

"Chúng tôi muốn nông sản Việt không chỉ được bán tại các hệ thống siêu thị tại Việt Nam mà còn đưa ra thế giới nhiều hơn", ông Phidsanu Pongwatana nói và dẫn chứng, năm ngoái công ty ông đã xuất khẩu thành công khoai lang, thanh long Việt sang Thái Lan. Năm nay, doanh nghiệp đã và đang xuất được thêm khoai tây, ớt chuông với sản lượng tăng gấp đôi qua từng đợt. Ngoài ra, nửa cuối năm nay công ty sẽ xuất khẩu các mặt hàng cá biển của Việt Nam sang Thái Lan, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á khác.

MM Mega Market trước đây là Metro Cash & Carry Việt Nam. Hệ thống này được bán lại cho Tập đoàn Berli Jucker (BJC) của Thái Lan với tổng giá trị 655 triệu euro (tương đương 879 triệu USD) hồi tháng 1/2016. Công ty này thuộc sở hữu của tỷ phú giàu thứ ba tại Thái Lan, ông Charoen Sirivadhanabhakdi.

Thi Hà

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop