Tin nông nghiệp ngày 14 tháng 5 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 14 tháng 5 năm 2019

Lào Cai: Triển vọng phát triển cây ăn quả ôn đới ở Si Ma Cai

Nguồn tin: Báo Lào Cai

Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, những năm gần đây, huyện Si Ma Cai (tỉnh Lào Cai) đã triển khai nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao, trong đó có mô hình trồng cây ăn quả ôn đới.

Trồng cây ăn quả để “xóa nghèo”

Cán bộ khuyến nông xã Lùng Sui hướng dẫn người dân kỹ thuật chăm sóc cây ăn quả ôn đới.

Tranh thủ thời tiết buổi sáng mát mẻ, anh Hảng Seo Nếnh, ở thôn Seng Sui, xã Lùng Sui mang dụng cụ lên khu vườn trồng cây ăn quả của gia đình để chuẩn bị lắp hệ thống tưới nước nhỏ giọt cho khoảng 200 gốc cây ăn quả như mận, mơ theo hướng dẫn của cán bộ khuyến nông. Ngoài diện tích này, gia đình anh còn khoảng 300 gốc cây lê Tai nung, mận Tả Van trồng rải rác ở vườn nhà và trên nương đồi.

Anh Nếnh cho hay: Cây ăn quả gia đình trồng thích hợp với thổ nhưỡng ở địa phương nên phát triển khá tốt. Hơn nữa, khi đã nắm được quy trình, kỹ thuật trồng và chăm sóc thì việc trồng lê và mận không quá vất vả. Hiện gia đình anh có khoảng 300 gốc lê Tai nung và mận Tả Van đã cho thu hoạch. Năm nào được mùa, gia đình thu hái khoảng 1,5 tấn quả, lãi 40 triệu đồng. Nhờ cây trồng này, gia đình anh đã thoát nghèo. Năm 2019, anh trồng thêm 50 gốc và hy vọng đây sẽ là nguồn thu ổn định, giúp kinh tế gia đình khấm khá hơn trong tương lai.

Ông Hảng Seo Toán, Chủ tịch UBND xã Lùng Sui cho biết: Xã hiện có 145 ha cây ăn quả, trong đó 87 ha mận Tả Van và 58 ha lê Tai nung, tập trung trồng ở 4/6 thôn có lợi thế về đất đai, khí hậu. Năm 2018, sản lượng cây ăn quả trên địa bàn xã đạt khoảng 30 tấn,với giá bán tại vườn khoảng 50.000 đồng/kg mận và 30.000 - 50.000 đồng/kg lê đã đem lại nguồn thu hàng tỷ đồng cho người dân. Từ nguồn thu trên, các hộ ngày càng tin tưởng, quyết tâm thực hiện chủ trương phát triển cây ăn quả ôn đới trên địa bàn.

Còn tại xã Lử Thẩn, dù mận, lê đã được đưa vào trồng từ năm 2010 nhưng thời điểm đó, các hộ trồng chủ yếu để phục vụ nhu cầu của gia đình. Từ năm 2016 trở lại đây, diện tích cây ăn quả trên địa bàn xã không ngừng được mở rộng. Xã hiện có 9/87 ha cây ăn quả cho thu hoạch. Theo ông Vàng Seo Sài, Chủ tịch UBND xã Lử Thẩn, năm 2018, xã có 30 hộ thoát nghèo, đa số là các hộ phát triển kinh tế từ cây ăn quả ôn đới.

Ở Si Ma Cai, do đá núi nhiều lại thêm những vùng đất cạn nên sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, hôm nay đến với rẻo cao này, chúng tôi dễ dàng bắt gặp những vườn cây trái xanh tốt. Từ sự cố gắng của các cấp chính quyền cùng nỗ lực của người dân, những “mùa quả ngọt” đang giúp đồng bào vùng cao nơi đây thêm gắn bó với đồng đất quê hương, nuôi giấc mơ vượt khó, làm giàu.

Sẽ có những vụ mùa bội thu

Cuối năm 2018, huyện Si Ma Cai có hơn 380 ha cây ăn quả ôn đới, trong đó có khoảng 116 ha đang cho thu hoạch. Một số xã có diện tích trồng cây ăn quả lớn như Lùng Sui (hơn 54 ha), Mản Thẩn (hơn 50 ha), Quan Thần Sán (44 ha)…

Theo thống kê, vài năm trở lại đây, diện tích cây ăn quả trên địa bàn huyện không ngừng được mở rộng, riêng năm 2018, toàn huyện trồng mới 230 ha cây ăn quả ôn đới. Năm 2019, con số này là 100 ha. Chủ trương của huyện là tập trung chăm sóc diện tích cây ăn quả đang có, bởi nếu mở rộng vùng trồng quá nhanh dễ dẫn đến phá vỡ quy hoạch, ảnh hưởng việc chăm sóc, nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo đầu ra cho sản phẩm.

Hướng dẫn lắp đặt và sử dụng hệ thống tưới nước nhỏ giọt cho người dân xã Lùng Sui.

Theo ông Viên Đình Hiệp, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Si Ma Cai, việc phát triển cây ăn quả ôn đới đã mở ra hướng mới cho sản xuất nông nghiệp ở địa phương. Tuy nhiên, người dân cần quan tâm đến nhiều vấn đề như áp dụng kỹ thuật vào sản xuất, công tác thu hoạch, bảo quản và quảng bá sản phẩm nhằm tăng sức cạnh tranh cho nông sản trên thị trường…

Làm nông nghiệp, nhất là ở vùng cao, luôn phải trông trời đất, nắng mưa. Năm nào thời tiết thuận hòa thì mận, lê sai hoa, đậu quả tốt, nhưng vẫn có những mùa vụ khiến người nông dân nặng trĩu tâm tư. Như đầu năm 2018, do ảnh hưởng của mưa đá, nhiều diện tích cây ăn quả trên địa bàn huyện bị thiệt hại. Vụ mùa năm đó, gia đình anh Nếnh cũng như nhiều hộ khác thất thu bởi sản lượng thấp và chất lượng quả không cao.

Ngoài ra, giá bán sản phẩm cũng bấp bênh, đơn cử như 1 kg lê có lúc được thu mua với giá 50.000 đồng nhưng nhiều khi giá bán giảm hơn một nửa. Do vậy, các hộ tham gia mô hình trồng cây ăn quả đều mong muốn các cấp, ngành chức năng có giải pháp giúp người dân khắc phục những khó khăn trong chăm sóc cây trồng cũng như đảm bảo đầu ra cho sản phẩm.

Nắm được tâm tư của người sản xuất, đồng thời nhằm nâng cao năng suất, chất lượng vùng cây ăn quả ôn đới, năm 2019, huyện Si Ma Cai hỗ trợ nông dân ở các xã Lùng Sui, Lử Thẩn, Quan Thần Sán, Mản Thẩn lắp đặt hệ thống tưới nước nhỏ giọt cho 20 ha cây ăn quả trên địa bàn. Bên cạnh việc hỗ trợ đường ống dẫn nước, téc đựng nước, thiết bị tưới với tổng trị giá khoảng 40 triệu đồng/ha, bà con còn được hướng dẫn kỹ thuật lắp đặt, sử dụng và bảo quản thiết bị. Nhờ đó, người dân đỡ công chăm sóc, tiết kiệm chi phí điện, nước.

Ngoài ra, huyện Si Ma Cai còn mở các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học - kỹ thuật để người dân áp dụng vào sản xuất và kết nối với các đơn vị, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm… Với những chủ trương, giải pháp thiết thực, vùng cao Si Ma Cai hy vọng sẽ có thêm nhiều “mùa quả ngọt”.

QUỲNH TRANG

Giới thiệu mô hình sản xuất xoài sạch đủ chuẩn xuất khẩu

Nguồn tin: Báo Đồng Nai

Ngày 8-5, Trung tâm Khuyến nông Đồng Nai (Sở Nông nghiệp – phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai) tổ chức hội thảo nhân rộng mô hình sản xuất xoài tiên tiến phục vụ xuất khẩu với sự tham dự của đông đảo nông dân trên địa bàn 3 huyện có diện tích xoài lớn của tỉnh là: Định Quán, Vĩnh Cửu và Xuân Lộc.

Bà Nguyễn Thị Kim Mai (áo vàng) hướng dẫn nông dân quy trình trồng xoài sạch đạt chuẩn xuất khẩu.

Theo bà Nguyễn Thị Kim Mai, chủ trang trại cây ăn trái tại huyện Định Quán, thì xoài Cát Hòa Lộc là giống xoài đặc sản riêng của Việt Nam nên không lo đụng hàng với các nước khác. Hiện có doanh nghiệp của Nhật Bản và Mỹ về hợp tác với trang trại bao tiêu sản phẩm này xuất khẩu.

Theo đó, trang trại của bà Mai có nhu cầu liên kết với nông dân trồng xoài sản xuất theo hướng sinh học, an toàn, thực hiện việc bao trái để hạn chế sử dụng phân, thuốc hóa học đạt chuẩn xuất khẩu. Các cơ quan chức năng, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tham gia hỗ trợ, hướng dẫn nông dân phương pháp sản xuất đạt chuẩn xuất khẩu vào các thị trường khó tính.

Đại diện doanh nghiệp chia sẻ thông tin về cơ hội thị trường cũng như tiêu chuẩn của các nước về trái xoài nhập khẩu.

Tại hội thảo, nông dân đã được hướng dẫn kỹ thuật trồng giống xoài cát Hòa Lộc đạt chuẩn xuất khẩu, nhất là kỹ thuật xử lý cho ra trái nghịch vụ; đồng thời được nghe về những chính sách hỗ trợ khi tham gia sản xuất lớn; ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất; tđầu tư nhãn mác, thương hiệu nông sản...Đại diện doanh nghiệp xuất khẩu nông sản cũng giới thiệu với nông dân về cơ hội và yêu cầu để xuất khẩu xoài vào thị trường Mỹ, Nhật Bản…

Bình Nguyên

Để dừa trở thành cây trồng chủ lực vùng Nam Trung bộ: Loài cây chịu được siêu bão, hợp mặn

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Dừa đã khẳng định là loại cây thích ứng với mọi điều kiện thời tiết, nhất là có thể trụ được trước gió bão và xâm nhập mặn, rất xứng đáng được chọn trong công cuộc tái cơ cấu ngành Nông nghiệp khu vực Nam Trung bộ.

Biến đổi khí hậu ngày càng hiện hữu, Nam Trung bộ được dự báo là vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp. Mưa bão, hạn hán, xâm nhập mặn sẽ diễn biến rất bất thường, gây bất thuận đến sản xuất nông nghiệp. Các loại cây phù hợp với sự đỏng đảnh với thời tiết được lựa chọn. Cây đậu phộng (lạc), mè (vừng), những loại cây ít tốn nước tưới, hiệu quả kinh tế cao được thay thế cho nhiều diện tích lúa. Trong khi đó, cây dừa được đánh giá là rất thích ứng với gió bão và xâm nhập mặn vẫn bị lãng quên.

Khu vực Nam Trung bộ hiện có khoảng 40.000ha dừa, chủ yếu nằm trên địa bàn các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Quảng Ngãi. Tỉnh có diện tích dừa nhiều nhất khu vực là Bình Định với gần 10.500ha.

Cây chịu được siêu bão

Dừa đã khẳng định là loại cây thích ứng với mọi điều kiện thời tiết, nhất là có thể trụ được trước gió bão và xâm nhập mặn, rất xứng đáng được chọn trong công cuộc tái cơ cấu ngành Nông nghiệp khu vực Nam Trung bộ.

Những vườn dừa trong khu vực Nam Trung bộ vẫn trụ vững sau những trận cuồng phong. (Ảnh: NK).

TS Hồ Huy Cường, Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ (ASISOV), nhớ lại: Sau khi cơn bão số 12 đổ bộ vùng Nam Trung bộ vào đầu tháng 11/2017, ông đã làm chuyến thị sát qua các tỉnh trong khu vực. Địa phương chịu ảnh hưởng trực tiếp cơn bão số 12 là Khánh Hòa với sức gió cao nhất đạt cấp 12, giật cấp 15. Đến huyện Cam Lâm, vùng xoài trọng điểm của tỉnh Khánh Hòa, ông Cường chứng kiến những vườn xoài trốc gốc, cây xà cừ ngã đổ la liệt.

Thế nhưng tại các vùng dừa thuộc huyện Vạn Ninh và vùng dừa cuối TP Cam Ranh, cây dừa vẫn trụ vững trước những đợt cuồng phong. Ra đến vùng dừa Tam Quan thuộc huyện Hoài Nhơn (Bình Định), nhìn những vườn dừa vẫn đứng hiên ngang sau gió bão kinh hoàng, ông càng khẳng định đây là loại cây “chịu siêu bão”.

“Gió bão không những đã không xô ngã, bẻ gãy được cây dừa mà còn không làm rụng được những quả dừa. Cơn bão số 12 xảy ra vào cuối năm 2017 đổ bộ vào Khánh Hòa với sức gió kinh hoàng là thế nhưng số lượng quả dừa bị rụng không đáng kể. Vì vậy, có thể khẳng định dừa là loại cây có khả năng phi thường trong chống chọi với gió bão”, Tiến sĩ Hồ Huy Cường khẳng định.

Trong khi đó cây xoài ở Khánh Hòa ngã rạp sau cơn bão số 12 xảy ra vào cuối năm 2017. (Ảnh: NK).

Ông Nguyễn Chí Công, Phó Chủ tịch UBND huyện Hoài Nhơn (Bình Định), cho hay: “Trên địa bàn toàn huyện có khoảng 3.000ha dừa, chiếm hơn 90% trong đó là dừa đã cho quả. Qua những đợt bão, cũng có một số cây bị ngã đổ, nhưng đó là những cây dừa đã có tì vết do bom đạn trong chiến tranh gây thương tích, chứ những cây khỏe mạnh vẫn trụ vững”.

Thích ứng xâm nhập mặn

Cũng theo TS Hồ Huy Cường, xâm nhập mặn do ảnh hưởng BĐKH đang đe dọa dải đất cát ven biển dọc các tỉnh khu vực Nam Trung bộ. Những vùng đất bị xâm nhập mặn thì không thể canh tác lúa và nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày khác. Tuy nhiên, đối với cây dừa thì... vô tư. Bởi, thực tế đã cho thấy, dừa được trồng trên những vùng đất cát ven biển có độ mặn nhất định thì chất lượng nước của quả dừa có vị ngọt ngon hơn dừa trồng trên đất thịt hoặc đất đồi.

Đơn cử như vườn dừa trồng trên đất cát ven biển rộng 1ha của ông Lê Xuân Bá ở thôn Tăng Long 2, xã Tam Quan Nam (huyện Hoài Nhơn, Bình Định). Với giống dừa xiêm lùn du nhập từ tỉnh Bến Tre, ông Bá trồng trên vùng đất cát cằn khô ven biển đã mang lại hiệu quả ngoài mong đợi.

“Dừa xiêm lùn da xanh trồng trên vùng đất cát ven biển khoảng chừng 3 năm là cho quả. Đặc biệt, nước dừa có vị ngọt thanh đậm hơn một số giống truyền thống trồng trên những đất khác, được người tiêu dùng ưa chuộng. Dù trồng trên đất cát nhiễm mặn nhưng dừa xiêm cho quả rất sai, mỗi buồng 30 - 40 quả, trung bình mỗi tháng tôi thu hoạch một lần khoảng 600 quả”.

Giải thích vì sao dừa trồng trên đất cát nhiễm mặn có chất lượng nước ngon hơn dừa trồng trên những vùng đất khác, Tiến sĩ Hồ Huy Cường cho biết: Bà con mình có truyền thống đục thân cây dừa bỏ muối hạt vào để nước dừa ngọt hơn, bởi dừa là loại cây rất cần Clo có trong muối. Nhưng đó là dừa trồng trên những vùng đất thịt, dừa trồng trên đất cát ven biển đã được hưởng thụ Clo trong nước nhiễm mặn nên chất lượng nước ngon ngọt tự nhiên mà không cần phải được “tiếp” muối vào thân.

Theo TS Hồ Huy Cường, dải đất cát ven biển vùng Nam Trung bộ đứng trước nguy cơ xâm nhập mặn, muốn tìm đối tượng cây trồng có thể chống chịu với tình trạng này thì cây dừa là lựa chọn số 1. Bởi, gió bão không thể làm ngã đổ cây dừa, dừa lại “ưa” những vùng đất cát nhiễm mặn nên có thể phát triển tốt. Nếu ven biển có rừng dừa làm bình phong che chắn thì những khu dân cư và diện tích đất nông nghiệp nằm bên trong cũng sẽ chịu ít thiệt hại hơn khi có gió bão xảy ra.

“Dải đất cát ven biển dọc Nam Trung bộ còn rất nhiều, có thể phát triển diện tích chuyên canh cây dừa lên đến 300.000 - 400.000ha. Khi ấy, vùng dừa Nam Trung bộ sẽ tạo ra sản phẩm hàng hóa gồm dừa uống nước và dừa chế biến, nông dân sẽ có thu nhập bền vững, đúng với mục tiêu của công cuộc xây dựng nông thôn mới”, Tiến sĩ Hồ Huy Cường, Viện trưởng Viện KHKTNN Duyên hải Nam Trung Bộ.

VŨ ĐÌNH THUNG - NGỌC KHANH

Đồng Tháp: Vào mùa thu hoạch, giá xoài cát chu giảm mạnh

Nguồn tin: Báo Đồng Tháp

Hiện nông dân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đang vào mùa thu hoạch rộ xoài cát chu, tập trung nhiều ở TP.Cao Lãnh, huyện Cao Lãnh... Theo nhiều nông dân trồng xoài cát chu thuộc địa bàn TP.Cao Lãnh, xoài bán xô hiện thương lái thu mua 6.000 - 7.000 đồng/kg; giảm hơn phân nửa so với tháng trước. Ngoài ra, nông dân còn lo lắng bởi những năm gần đây xoài cát chu thường bị các loại sâu bệnh tấn công nhiều khiến ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng trái.

Ông Nguyễn Văn Chì - Giám đốc Hợp tác xã (HTX) xoài Tân Thuận Tây, TP.Cao Lãnh cho biết: “Dù giá thị trường giảm mạnh nhưng nông dân trong HTX đang cung ứng xoài cho Công ty TNHH Long Uyên (Tiền Giang) với giá 8.500 – 9.000 đồng/kg; cao hơn thị trường 2.000 đồng/kg. Nguyên nhân giá xoài xuống thấp là do đang thời điểm thu hoạch rộ vụ xoài khiến cung vượt cầu. Vì vậy, để đảm bảo ổn định đầu ra, các thành viên HTX cũng tìm kiếm thêm nhiều vựa, đầu mối tại các tỉnh lân cận hay TP.Hồ Chí Minh...”.

Trang Huỳnh

Tây Ninh: Cung cấp thông tin về 14 vùng trồng cây ăn quả

Nguồn tin: Báo Tây Ninh

Chi cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật (Sở NN&PTNT) cho biết, năm 2018 ngành Nông nghiệp tỉnh đã thực hiện việc cung cấp thông tin về vùng trồng cây ăn quả và cơ sở đóng gói quả tươi xuất khẩu trên địa bàn tỉnh cho Cục Bảo vệ thực vật Bộ NN&PTNT.

Một vùng trồng nhãn ở Tây Ninh.

Năm 2018, trên địa bàn Tây Ninh có 14 vùng trồng cây ăn quả xuất khẩu và 4 cơ sở đóng gói hoa quả tươi xuất khẩu được ngành Nông nghiệp tỉnh cung cấp thông tin cho Bộ NN&PTNT, với các nội dung: loại quả tươi, diện tích, sản lượng, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Các loại trái cây tươi được đăng ký thông tin vùng gồm có nhãn (hai xã Trường Hòa và Trường Đông thuộc huyện Hòa Thành); sầu riêng, xoài, nhãn (An Cơ, Châu Thành); khóm (An Thạnh, Tiên Thuận thuộc huyện Bến Cầu); nhãn, chôm chôm, thanh long (Phước Đông, Gò Dầu)…

Ngoài ra còn có 4 cơ sở đóng gói hoa quả tươi cũng được đăng ký cung cấp thông tin cho các mặt hàng nhãn, chuối già Nam Mỹ, Mít.

Bộ NN&PTNT cho biết, việc cung cấp thông tin trái cây được trồng và đóng gói ở tỉnh xuất khẩu theo yêu cầu của một số thị trường nước ngoài, trong đó có thị trường Trung Quốc. Cách làm này không những giúp truy xuất nguồn gốc mà còn gắn chặt sản xuất theo quy trình nhất định để đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu, qua đó giúp nông dân ý thức được vấn đề sản xuất liên quan chặt chẽ đến chất lượng và giá thành sản phẩm, là điều kiện cần để trái cây của người Việt có thể xuất ngoại.

Thế Nhân

Hưng Yên: Giá chuối tây tại huyện Khoái Châu từ 8.500 - 12.000 đồng/kg

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Theo những hộ trồng chuối trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, năm nay chuối tây tại đây được mùa, giá khá cao và ổn định, từ 8.500 - 12.000 đồng/kg.

Hiện nay, diện tích trồng chuối tây trên địa bàn huyện chuẩn bị cho thu hoạch xong. Đầu vụ, giá vào khoảng 12.000 đồng/kg, đến nay giá giảm xuống 8.500 đồng/kg.

Người dân phấn khởi thu hoạch chuối tây. Ảnh: Hưng Giang

Theo thống kê của Phòng NN&PTNT huyện Khoái Châu, diện tích chuối trên địa bàn khoảng 900ha. Trong đó, chuối tây chiếm 500ha, diện tích chuối tiêu là 400ha, ước tính cho thu về 4.500 tấn chuối các loại.

Hiện nay, huyện Khoái Châu đang đưa giống chuối tây Thái Lan vào trồng rộng rãi. Theo Phòng NN&PTNT huyện Khoái Châu, đây là giống chuối đã được Viện Nghiên cứu rau quả có đề tài đánh giá về tính hiệu quả. Thực tiễn tại địa phương cho thấy giống này rất hiệu quả, cho năng suất ổn định, đặc biệt là khả năng hạn chế được bệnh héo rũ…

HƯNG GIANG

Giá cà phê Tây Nguyên chỉ còn hơn 29 triệu đồng/tấn

Nguồn tin: Báo Đắk Lắk

Giá cà phê thu mua trong dân khu vực Tây Nguyên ngày 8-5 giảm 1 triệu đồng/tấn so với ngày 7-5, chỉ còn từ 29,1 - 29,9 triệu đồng/tấn

Cụ thể, giá thấp nhất ở tỉnh Lâm Đồng là 29,1 triệu đồng/tấn, Gia Lai 29,5 triệu đồng/tấn, Đắk Nông 29,6 triệu đồng/tấn, Đắk Lắk 29,9 triệu đồng/tấn.

Người dân huyện Cư M'gar sơ chế cà phê

Sở dĩ giá cà phê trong nước giảm do hiện nay cà phê chủ yếu phục vụ thị trường xuất khẩu và được giao dịch qua sàn giao dịch London. Tuy nhiên, các hợp đồng kỳ hạn giao đều đồng loạt giảm từ 49 - 50 USD/tấn, trong đó giảm mạnh nhất (50 USD) là kỳ hạn giao tháng 7-2019 còn 1.295 USD/tấn. Đến tháng 9-2019 là 1.313 USD/tấn, tháng 11-2019 là 1.332 USD/tấn, tháng 1-2020 là 1.351 USD/tấn. Thêm nữa, giá cà phê Arabica trên sàn New York cũng đồng loạt giảm nên các nhà rang xay có thêm sự lựa chọn khi quyết định mua hàng.

Thanh Hường

Bạc Liêu: Xuống giống lúa hè thu đúng lịch thời vụ: Ngăn ngừa nguy cơ sâu bệnh hại lúa

Nguồn tin: Báo Bạc Liêu

Xuống giống lúa hè thu đúng lịch thời vụ: Ngăn ngừa nguy cơ sâu bệnh hại lúa

Nông dân xã Phong Thạnh Đông, TX. Giá Rai xới trục đất (ảnh trên) và xuống giống lúa hè thu. Ảnh: M.Đ

Đến thời điểm này, nông dân trong tỉnh Bạc Liêu đã thu hoạch dứt điểm vụ lúa đông xuân 2018 - 2019, năng suất 7,1 - 7,8 tấn/ha, sản lượng ước đạt hơn 300.000 tấn. Sau khi thu hoạch lúa đông xuân, bà con cải tạo đồng ruộng, xuống giống khoảng 7.000ha lúa hè thu sớm, tập trung chủ yếu ở hai huyện Hồng Dân, Phước Long. Ông Nguyễn Văn Chuối (xã Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Lợi) cho biết: “Gia đình tôi và bà con trong ấp đã cải tạo đồng ruộng và chuẩn bị xuống giống lúa hè thu theo lịch thời vụ”.

Vụ lúa hè thu năm nay, ngành chức năng tiếp tục chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân; khuyến khích bà con sản xuất lúa theo chương trình IPM, quy trình “3 giảm, 3 tăng” hoặc “1 phải, 5 giảm”; sử dụng tiết kiệm nước; quản lý rầy nâu và bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá cộng đồng; quản lý dinh dưỡng, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật an toàn, có hiệu quả. Tăng cường kiểm tra đồng ruộng nhằm phát hiện và xử lý nhanh, kịp thời các loại sâu bệnh; chú ý xuống giống né rầy nâu...

Trên cơ sở nhận định tình hình mưa bão và điều kiện sản xuất các vụ lúa trong năm 2019, Sở NN&PTNT đã ban hành lịch thời vụ sản xuất lúa hè thu. Theo đó, vụ lúa hè thu sạ sớm tập trung ở huyện Hồng Dân, một phần huyện Phước Long; thời gian xuống giống từ ngày 20 - 30/4/2019, áp dụng vùng có mùa mưa đến sớm. Đối với lúa hè thu chính vụ thì xuống giống thành 2 đợt: Đợt 1 xuống giống từ ngày 5 - 15/5/2019, áp dụng cho các vùng có mưa sớm, thuận lợi xuống giống, gồm các huyện: Vĩnh Lợi, Hòa Bình, một phần huyện Phước Long và một phần huyện Hồng Dân, TX. Giá Rai. Đợt 2 xuống giống từ ngày 20 - 30/5/2019, áp dụng cho những vùng mưa đến trễ, vùng xuống giống cần cải tạo đất, rửa phèn, rửa mặn và vùng không sản xuất lúa đông xuân hàng năm. Cụ thể là một phần xã Long Thạnh, xã Châu Thới, thị trấn Châu Hưng, xã Châu Hưng A, xã Hưng Hội, xã Hưng Thành (huyện Vĩnh Lợi); một phần thị trấn Hòa Bình, xã Vĩnh Mỹ B (huyện Hòa Bình); phần còn lại của huyện Phước Long; xã Phong Tân, phường Láng Tròn, một phần phường 1 (TX. Giá Rai); phường 1, phường 8 (TP. Bạc Liêu).

Ngành chức năng khuyến cáo, cơ cấu giống cho vụ hè thu gồm các giống lúa chủ lực để sản xuất đại trà là OM 5451, OM 4900, OM 6976, Nàng hoa 9, Đài thơm 8 và RVT. Ngoài ra, còn một số giống lúa bổ sung như OM 2517, OM 7347, OM 9921, Lộc trời 1, DS1.

Theo ông Trần Văn Na, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh: “Ngoài việc xuống giống đúng lịch thời vụ, các địa phương cần hướng dẫn nông dân lựa chọn sản xuất các giống lúa cấp xác nhận phù hợp để rút ngắn thời vụ, tránh bất lợi từ việc nhiễm mặn phèn, dịch bệnh gây hại các trà lúa. Tận dụng nguồn nước ngọt để rửa phèn, rửa mặn, xử lý cỏ trên đồng ruộng…”.

Bên cạnh đó, ngành chức năng còn chỉ đạo quyết liệt công tác phòng trừ rầy nâu, bệnh đạo ôn, vàng lùn - lùn xoắn lá; hướng dẫn nông dân phòng trừ rầy nâu theo phương pháp “4 đúng”, kiên quyết không để xảy ra cháy rầy, lây lan bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá, bệnh đạo ôn và các loại dịch bệnh hại lúa.

Minh Đạt

Giá tiêu chưa thể khởi sắc trong năm nay

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Những thông tin tại Hội nghị tổng kết niên vụ hồ tiêu 2018, phương hướng kế hoạch niên vụ 2019, do Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam tổ chức ngày 10/5, cho thấy, giá hồ tiêu sẽ chưa thể khởi sắc trong năm nay.

Giá hồ tiêu đang ở mức thấp

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, sản lượng hồ tiêu thế giới trong năm 2019 sẽ tăng khoảng 8,27% và đạt 602 ngàn tấn.

Việt Nam tiếp tục giữ vững vị trí là quốc gia dẫn đầu về sản lượng sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu trong năm 2019 với sản lượng sản xuất ước khoảng 250 ngàn tấn, xuất khẩu dự kiến 235 ngàn tấn.

Giao dịch nội địa trong năm 2019 không có nhiều biến động. Lượng hàng tồn kho dự kiến ở mức cao do tâm lý trông chờ vào sự khôi phục giá trong năm tới.

Dự báo giá tiêu sẽ không khởi sắc trong năm 2019 do lượng cung trên thế giới vẫn cao hơn cầu. Nắm rõ cung cầu thị trường, các nhà nhập khẩu có thể không mua trước với khối lượng lớn.

Hiện tại, giá hồ tiêu (giá đầu giá) ở các vùng nguyên liệu chỉ còn ở mức thấp, dao động từ 43.000-44.000 đ/kg.

SƠN TRANG

Chương trình mỗi xã một sản phẩm: Những thành công bước đầu

Nguồn tin:  Hà Nội Mới

Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) với mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn theo hướng phát huy nội lực và gia tăng giá trị; trọng tâm là phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ... có lợi thế của từng địa phương. Sau một năm thực hiện, Chương trình OCOP giai đoạn 2018-2020 đã có thành công bước đầu, dần tạo sức lan tỏa rộng rãi...

Gà Tiên Yên (huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh) là một trong những thương hiệu nổi tiếng, được người tiêu dùng tin tưởng. Ảnh: Quảng Ninh

Nâng giá trị nhờ Chương trình OCOP

Gà Tiên Yên (huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh) nổi tiếng có chất lượng thịt thơm ngon, nhưng qua thời gian đã bị lai tạp nên có thời điểm giảm giá trị... Triển khai Chương trình OCOP, tỉnh Quảng Ninh đã hỗ trợ địa phương phục tráng giống, chăn nuôi gà theo tiêu chuẩn VietGAP. Nhờ đó, giống gà này dần trở lại chất lượng tốt, năng suất tăng; được “đeo nhẫn” truy xuất nguồn gốc sản phẩm Chương trình OCOP (ở chân) khi xuất bán và khẳng định được thương hiệu, tạo niềm tin cho người tiêu dùng... Hiện gà Tiên Yên được bán tại thị trường với mức giá từ 150.000 đến 250.000 đồng/kg, cao gấp 2-3 lần so với gà thông thường.

Không riêng tỉnh Quảng Ninh, theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam, sau một năm thực hiện Chương trình OCOP giai đoạn 2018-2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến nay, cả nước đã có 42/63 tỉnh, thành phố được phê duyệt đề án, kế hoạch triển khai Chương trình OCOP. Trong đó, các tỉnh: Quảng Ninh, Bắc Kạn, Quảng Nam, Lào Cai... đã thực hiện Chương trình OCOP đạt hiệu quả khá tích cực. Các địa phương đã xét công nhận cho hơn 200 sản phẩm Chương trình OCOP với các mức “3 sao”, “4 sao” và “5 sao” (sản phẩm từ 1 đến 3 sao: Phục vụ thị trường trong nước; sản phẩm từ 4 đến 5 sao: Có khả năng cạnh tranh, xuất khẩu). Để hỗ trợ các địa phương triển khai thực hiện Chương trình OCOP, Bộ NN&PTNT đã xây dựng 26 tiêu chí đánh giá sản phẩm Chương trình OCOP; quy trình đánh giá và phân hạng sản phẩm Chương trình OCOP theo 3 cấp (cấp huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương) làm cơ sở cho địa phương thực hiện. Bên cạnh đó, Bộ triển khai tập huấn cho cán bộ từ trung ương đến địa phương trực tiếp tham gia thực hiện chương trình...

Theo Phó Chánh Văn phòng chuyên trách Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới Hà Nội Hoàng Thị Huyền, Hà Nội có khoảng 7.200 sản phẩm, tương thích với 6 nhóm ngành hàng Chương trình OCOP, bao gồm: 2.881 sản phẩm thực phẩm (39,9%); 2.417 sản phẩm lưu niệm - nội thất - trang trí (33,5%); 1.396 sản phẩm vải và may mặc (19,3%)... Sở NN&PTNT Hà Nội đang xây dựng dự thảo kế hoạch thực hiện Chương trình OCOP trình UBND thành phố phê duyệt.

Thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn

Là địa phương đầu tiên của cả nước triển khai Chương trình OCOP năm 2013, đến nay, tỉnh Quảng Ninh đã có 322 sản phẩm, trong đó 138 sản phẩm đạt "3-5 sao"; trên 90% sản phẩm được dán tem điện tử thông minh để truy xuất nguồn gốc. Tổng doanh số bán hàng Chương trình OCOP của các tổ chức kinh tế, cơ sở hộ sản xuất Chương trình OCOP năm 2018 đạt 311 tỷ đồng, tạo việc làm cho hơn 2.600 lao động. Tại tỉnh Hà Tĩnh, địa phương cũng đã phát triển được các chuỗi giá trị, như: Bưởi Phúc Trạch, cam Vũ Quang... có sức tiêu thụ tốt trên thị trường.

Triển khai muộn hơn so với các tỉnh, thành phố khác, Hà Nội dự kiến nâng cấp các sản phẩm hiện có để đạt "sao" theo quy định. “Hà Nội phấn đấu đưa 1.000 sản phẩm tham gia Chương trình OCOP. Thành phố sẽ hỗ trợ các nhóm hàng nông sản xây dựng hệ thống truy xuất sản phẩm; tổ chức diễn đàn kết nối giao thương; đồng thời, tập trung đào tạo, tập huấn cho cán bộ và các hộ dân tham gia Chương trình OCOP” - Phó Chánh Văn phòng chuyên trách Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới Hà Nội Hoàng Thị Huyền cho biết.

Tuy đạt một số kết quả tích cực, song theo Bộ NN&PTNT, hiện nay còn 21 tỉnh, thành phố chưa phê duyệt đề án, kế hoạch triển khai Chương trình OCOP, cần đẩy nhanh tiến độ. Bên cạnh đó, các địa phương đã triển khai cũng cần nâng cao chất lượng, tăng tính cạnh tranh cho các sản phẩm, đưa Chương trình OCOP vào chiều sâu, tạo điều kiện cho các tổ chức sản xuất, kinh doanh phát triển bền vững... Mới đây, tại diễn đàn quốc tế “Kết nối mạng lưới toàn cầu mỗi xã một sản phẩm” do Bộ NN&PTNT phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức, đại diện Cục Xúc tiến thương mại (Bộ NN&PTNT) đề xuất giải pháp hỗ trợ xúc tiến thương mại; quảng bá, giới thiệu sản phẩm Chương trình OCOP có tiềm năng xuất khẩu; tạo cơ hội để người sản xuất nắm bắt thị hiếu khách hàng, phát triển sản phẩm phù hợp...

Để đẩy nhanh Chương trình OCOP, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam đề nghị các địa phương chỉ đạo quyết liệt các cơ quan tham mưu sớm ban hành đề án, kế hoạch triển khai nhằm thực hiện đồng bộ hóa Chương trình OCOP trong phạm vi cả nước. Đặc biệt, rất cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong khai thác lợi thế Chương trình OCOP phục vụ phát triển kinh tế nông thôn. Mỗi địa phương cần nắm bắt cơ hội và tổ chức lại sản xuất, gắn sản xuất với thị trường, tạo thêm sản phẩm Chương trình OCOP có giá trị cao về kinh tế, xã hội, văn hóa... làm tiền đề trong quy hoạch, chiến lược phát triển trên cơ sở lợi thế, thế mạnh vùng, miền...

NGUYỄN MAI

Sản xuất nông nghiệp: Bỏ tư duy ‘giải cứu’. Bài cuối: Làm nông với suy nghĩ doanh nhân

Nguồn tin:  Báo Đồng Nai

Theo Luật Quy hoạch có hiệu lực từ ngày 1-1-2019, cơ quan nhà nước sẽ không còn quản lý việc “trồng cây gì, nuôi con gì” tại các địa phương. Phát triển nông nghiệp sẽ tùy thuộc vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương chứ không do “trên áp xuống” như trước. Không “quản” cũng có nghĩa là khi Nhà nước rút khỏi sự can thiệp trong sản xuất thì nông dân sẽ phải chủ động nhìn vào tín hiệu thị trường để sản xuất và mỗi mùa vụ phải được nhìn như một dự án đầu tư “lời ăn, lỗ chịu”.

Vườn ươm giống cho dự án cánh đồng lớn ca cao tại Công ty TNHH ca cao Trọng Đức (huyện Định Quán)

Thực tế, nông nghiệp Đồng Nai đã bắt đầu có sự chuyển dịch từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Không chỉ doanh nghiệp (DN) mạnh dạn ứng dụng công nghệ cao, sản xuất quy mô lớn mà nhiều hợp tác xã, nông dân cũng bắt đầu có lối tư duy mới, nhanh nhạy trong nắm bắt nhu cầu và xu thế thay đổi của thị trường để đầu tư đúng.

* Nông nghiệp “chuyển mình” thành sản xuất hàng hóa

Đồng Nai có nhiều mặt hàng nông sản thế mạnh thuộc danh mục 15 sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia của Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn gồm: cao su, cà phê, điều, hồ tiêu, thịt heo, thịt gà... Theo đó, tỉnh đang xây dựng “Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp Đồng Nai trong bối cảnh hội nhập quốc tế” nhằm lựa chọn được các mặt hàng nông lâm sản chủ lực trong bối cảnh hội nhập. Qua đó, địa phương sẽ phát triển nông nghiệp có sức cạnh tranh cao, hiệu quả, bền vững.

Toàn tỉnh hiện có 33 dự án cánh đồng lớn được Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn chấp thuận chủ trương đầu tư. Trong đó, 19 dự án cánh đồng lớn đã được UBND tỉnh phê duyệt với tổng diện tích trên 7 ngàn hécta, hơn 6 ngàn nông hộ tham gia.

Một trong những nội dung được đề án tập trung nghiên cứu là về thị trường Đồng Nai, thị trường trong nước và một số thị trường nước ngoài tiềm năng đối với các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, lợi thế của tỉnh. Định hướng của đề án là đưa Đồng Nai trở thành vùng chế biến cây công nghiệp (cà phê, điều, tiêu) của Việt Nam và thế giới. Trong đó, việc thúc đẩy thương mại chính ngạch với Trung Quốc - thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất của Việt Nam - cũng rất được chú trọng.

Tham gia góp ý cho đề án, ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó giám đốc Sở Khoa học - công nghệ nhấn mạnh: “Đề án nên hướng tới các mục tiêu cụ thể, từ đó xây dựng khung nội dung, đánh giá hiện trạng, các giải pháp, cách tiếp cận thị trường đối với từng sản phẩm. Cần nghiên cứu xu hướng thế giới, tiêu thụ trong nước, trong khu vực để có phương án hợp lý; đề xuất các chính sách, cơ chế, phương án xây dựng vùng nguyên liệu phù hợp với từng sản phẩm”.

Là thành viên của nhóm tư vấn “Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp Đồng Nai trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, TS.Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) nhận định: “Đồng Nai có thế mạnh về nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế đô thị. Cần lưu ý việc lấy nông nghiệp phục vụ công nghiệp chế biến, xuất khẩu trọng điểm để phát huy được lợi thế về vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên. Ngoài ra, cần nghiên cứu sâu về các ngành hàng nông sản, xây dựng cơ sở dữ liệu về các ngành hàng, sản phẩm đặc trưng của địa phương để có hướng xây dựng các chuỗi liên kết, đề nghị về chính sách phù hợp...”.

Và sự thay đổi này phải bắt đầu từ khâu sản xuất. Ông Võ Quan Huy, Giám đốc Công ty TNHH Huy Long An - Mỹ Bình (huyện Đức Huệ, tỉnh Long An) - DN đầu tiên của Việt Nam xuất khẩu trái chuối có thương hiệu Việt vào các hệ thống siêu thị uy tín ở Nhật Bản đã chia sẻ về câu chuyện sản xuất đúng với nhu cầu thị trường. Theo ông Huy: “Điều quan trọng nhất để tham gia tốt thị trường xuất khẩu là chuẩn được quy trình sản xuất. Dù xuất khẩu đi thị trường nào, tôi luôn giữ đúng chuẩn chất lượng sản phẩm an toàn, còn lại là sự khác biệt do những yêu cầu cụ thể của từng thị trường. Nông dân phải hiểu thật chi tiết, cụ thể nhu cầu của thị trường mình muốn bán hàng thì mới làm ra được sản phẩm thị trường cần”.

* Chuỗi khép kín sản xuất - bán hàng

Sự định hướng của Đồng Nai chuyển đổi sang sản xuất lớn, theo chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ này đã bắt đầu đi vào thực tế và có những “quả ngọt” đầu mùa.

Đến thăm nhà máy sản xuất phân hữu cơ từ chất thải chăn nuôi và trang trại trồng rau quả trong nhà màng của Công ty TNHH thương mại Trang Trại Việt (huyện Xuân Lộc), Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường đánh giá: “Đây là hình mẫu của DN sản xuất nông nghiệp thời cách mạng 4.0; đặc biệt là đã tạo được lợi thế cạnh tranh khi xây dựng thành công chuỗi khép kín từ chăn nuôi đến trồng trọt, tiêu thụ”.

Theo Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Chánh, nhiệm vụ trọng tâm mà tỉnh hướng đến đối với việc phát triển sản xuất nông nghiệp là phát triển công nghiệp chế biến nông sản. Tỉnh sẽ cho rà soát các cụm công nghiệp trên địa bàn để phát triển các ngành công nghiệp chế biến gắn với từng vùng nguyên liệu; đồng thời kêu gọi các doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp để mời gọi các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản.

Sản phẩm rau, quả của Trang Trại Việt đã được cấp chứng nhận GlobalGAP và hiện đang trong giai đoạn làm chứng nhận hữu cơ. Ông Trần Quang Tính, Giám đốc Công ty TNHH thương mại Trang Trại Việt cho biết: “DN ứng dụng công nghệ cao xử lý chất thải trong chăn nuôi vì muốn cung cấp cho thị trường sản phẩm phân bón hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp sạch. Nhu cầu của thị trường về nông sản sạch ngày càng lớn nên đây là cơ hội tốt để nông dân chuyển đổi sang sản xuất an toàn, sản phẩm có giá trị kinh tế cao để thoát khỏi vòng luẩn quẩn chỉ chạy theo số lượng nên được mùa là mất giá”.

DN này đang triển khai nhiều dự án chuyển giao quy trình kỹ thuật, cung cấp nguồn phân bón hữu cơ và bao tiêu sản phẩm rau, quả sạch cho nông dân cung cấp cho thị trường xuất khẩu.

Sau nhiều năm kiên trì thực hiện hàng trăm các yêu cầu khắt khe của Nhật Bản, từ việc xây dựng các vùng chăn nuôi an toàn, về quy trình phòng trừ dịch bệnh, về vệ sinh an toàn thực phẩm, đầu tư nhà máy chế biến... Công ty TNHH Koyu & Unitek (Khu công nghiệp Long Bình, TP.Biên Hòa) trở thành DN đầu tiên tại Việt Nam xuất khẩu thịt gà vào thị trường Nhật Bản.

Kể về câu chuyện con gà của DN ở Đồng Nai được xuất đi Nhật, ông Nguyễn Minh Kha, chủ hệ thống Trang trại Miền Đông - đơn vị tiên phong nuôi gà xuất khẩu, cho biết để có lô hàng đầu tiên xuất đi Nhật, trang trại phải kiên trì suốt nhiều năm vất vả xây dựng chuồng trại đạt chuẩn, cố gắng đáp ứng những tiêu chuẩn rất khắt khe của người tiêu dùng Nhật Bản. “Sản phẩm chăn nuôi Việt Nam muốn có chỗ đứng trong những năm tới, không có cách nào khác hơn là người chăn nuôi phải sản xuất theo “tiếng gọi của thị trường”, tức là người tiêu dùng cần gì, mình phải đáp ứng được điều đó. Mong muốn của tôi là không chỉ xuất khẩu thịt gà đi Nhật mà có thể đi châu Âu và các quốc gia phát triển khác” - ông Kha nói.

* Lâu dài, phải đầu tư chế biến

Nói về lời giải cho bài toán “giải cứu” nông sản, ông Nguyễn Quốc Toản, Quyền Cục trưởng Cục Chế biến - phát triển thị trường nông sản khẳng định: “Để nông sản Việt thoát khỏi vòng luẩn quẩn được mùa mất giá, cần phải giải quyết các bài toán về sản xuất, chế biến và thị trường”. Theo ông Toản, từ năm 2018, Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn đã chú trọng thúc đẩy toàn diện lĩnh vực chế biến, từ khâu sơ chế, bảo quản đến chế biến “tinh” và chế biến sâu.

Đặc biệt, 2 năm qua Bộ đã có chủ trương đẩy mạnh hình thành và phát triển hệ thống chế biến gắn kết với vùng nguyên liệu; trong đó đẩy mạnh một số ngành chế biến nông sản có công nghệ và thiết bị tương đối hiện đại, mang tầm khu vực và thế giới. “Thu hút DN đầu tư vào nông nghiệp cần làm ở cả cấp tỉnh, cấp quốc gia và quốc tế thì mới đủ lực cạnh tranh khi bước ra sân chơi lớn. Ở đây, chính sách đã sẵn sàng, nhưng yếu tố quyết định là nông dân và DN có thể tự “đi” tốt bằng đôi chân của mình” - ông Toản nhấn mạnh.

Thực tế, không ít DN đã nắm bắt tốt cơ hội này. Một nông dân từng khởi nghiệp với đàn gà thịt vài chục con nay trở thành chủ DN đi đầu ứng dụng công nghệ cao tại Đồng Nai là ông Lâm Thanh Đức, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc Công ty TNHH thương mại, dịch vụ, sản xuất và chăn nuôi Thanh Đức (huyện Xuân Lộc). Thanh Đức vừa đầu tư thêm 100 tỷ đồng để xây dựng quy trình sản xuất trứng tự động, khép kín từ khâu chăn nuôi, thu hoạch, đóng gói trứng đến xử lý chất thải chăn nuôi thành phân bón hữu cơ.

Theo ông Đức: “DN đã đầu tư dây chuyền chế biến để sản xuất thêm các dòng sản phẩm bột trứng, trứng ăn liền, muối ớt bột trứng... với mục tiêu gia tăng giá trị cho chuỗi sản phẩm chăn nuôi và cũng để chủ động hơn về đầu ra cho sản phẩm”.

Cùng quan điểm, TS.Võ Mai, Phó chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam gợi ý: “Các tỉnh nên có chính sách mời gọi các DN đầu tư công nghệ sau thu hoạch, chế biến nông sản, trái cây để khi thị trường cung vượt cầu có thể đưa vào chế biến mà không phải đổ bỏ như hiện nay”.

Bình Nguyên - Kim Ngân

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop