Tin nông nghiệp ngày 15 tháng 09 năm 2020

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 15 tháng 09 năm 2020

Hiệu quả từ mô hình sản xuất lúa ứng dụng công nghệ cao

Nguồn tin: Báo Long An

Thời gian qua, xã Tân Hòa, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, chú trọng chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

Sản xuất lúa ứng dụng công nghệ cao giúp giảm chi phí, tăng năng suất

Toàn xã hiện có 150,8ha lúa ứng dụng công nghệ cao (ƯDCNC) với 90 hộ tham gia. Trong đó, vụ Đông Xuân năm 2020 triển khai tại ấp Kênh Văn Phòng với 80,4ha, có 44 hộ tham gia. Vụ Thu Đông triển khai tại ấp Trung với 70,4ha, có 46 hộ tham gia. Khi tham gia mô hình, nông dân phải thực hiện quy trình “1 phải, 6 giảm”, trong đó, lượng lúa giống được sử dụng giảm bình quân từ 30-50kg/ha. Trong giai đoạn đầu của cây lúa, hạn chế phun thuốc hóa học. Riêng đối với phân bón, nông dân sử dụng phân hữu cơ, giảm lượng hóa học từ 20-30%. Chi phí sản xuất giảm từ 1-2,5 triệu đồng/ha. Năm nay là năm đầu tiên ông Nguyễn Văn Đức (ấp Trung) sản xuất lúa theo mô hình. Ông cho biết, khi tham gia mô hình, gia đình ông tiết kiệm được nhiều chi phí trong sản xuất, nhất là phân bón, thuốc trừ sâu, giống,…

Ngoài được hỗ trợ về giống, phân bón,… nông dân còn được cán bộ khuyến nông hướng dẫn cách phòng trừ sâu, bệnh. Diện tích lúa trong mô hình phát triển tốt, ít sâu, bệnh, năng suất cao hơn sản xuất theo phương thức cũ, bình quân đạt từ 7-8 tấn/ha.

Phó Chủ tịch UBND xã Tân Hòa - Nguyễn Thanh Phương cho biết: “Thời gian tới, xã Tân Hòa tiếp tục phối hợp ngành chức năng khảo sát, đánh giá hiệu quả của mô hình, qua đó khuyến khích nông dân duy trì thực hiện và nhân rộng mô hình”.

Đến nay, huyện Tân Thạnh có 27 mô hình sản xuất lúa ƯDCNC với 1.672ha, trên 660 hộ tham gia./.

Chí Tâm

Thái Nguyên: Về Đồng Liên xem nông dân làm giàu

Nguồn tin:  Báo Thái Nguyên

Mô hình trồng nấm rơm của anh Nguyễn Văn Tuyến, xóm Đồng Tâm, xã Đồng Liên mỗi năm cho thu nhập trên 600 triệu đồng.

Là xã thuần nông mới chia tách từ huyện Phú Bình sáp nhập về T.P Thái Nguyên, những năm gần đây, xã Đồng Liên có sự đổi thay nhanh chóng. Những ngôi nhà cao tầng xuất hiện ngày một nhiều, các công trình phúc lợi được xây dựng. Đặc biệt trong phát triển kinh tế, có hàng trăm mô hình hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác (THT), trang trại, gia trại… cho thu nhập cao.

Chủ tịch Hội Nông dân xã Đồng Liên Nguyễn Văn Hữu dẫn chúng tôi đến thăm mô hình trồng cây ăn quả của gia đình ông Vũ Ngọc Nhân, xóm Toàn Thắng 1. Trước mắt chúng tôi là ngôi nhà hai tầng khang trang nằm giữa vườn cây trái xanh tươi rộng trên 3ha.

Trò chuyện cùng ông Nhân, chúng tôi được biết trước kia, cuộc sống của gia đình ông khá khó khăn. Cuối năm 1993, Hội làm vườn huyện Phú Bình được thành lập, ông đăng ký tham gia. Vào Hội, ông Nhân có cơ hội được đi tham quan các mô hình trồng cây ăn quả, tập huấn kiến thức trồng cây và mở mang tầm nhìn về phát triển nông nghiệp, từ đó đã thôi thúc ông làm giàu từ mô hình trồng cây ăn quả. Ông kể, thời đó, vốn ít, ông phải vay mượn thêm bạn bè để đầu tư san đất, cải tạo vườn. Ban đầu ông trồng 100 cây vải, nhãn, táo, ổi trên diện tích gần 3.000m2 rồi mở rộng dần, giờ gia đình ông có hàng nghìn cây ăn quả các loại trồng trên diện tích đất vườn 3,6ha. Ngoài trồng cây, ông Nhân còn chiết, ghép cành các loại cây ăn quả tạo giống để bán, mỗi năm thu nhập từ vườn cây đạt từ 500 - 600 triệu đồng.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, việc xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Đồng Liên phát triển khá mạnh. Hiện nay trên địa bàn xã có 1 HTX trồng rau an toàn; 4 THT gồm: 1 THT trồng hoa chất lượng cao; 1 THT cây ăn quả và táo xuân 21; 2 THT nuôi gà thả đồi. Riêng trong chăn nuôi, hiện toàn xã có trên 200 hộ nuôi từ 20-100 con lợn/lứa và từ 3.000 đến 8.000 con gia cầm mỗi lứa, 22 hộ tham gia vào nhóm sở thích chăn nuôi bò nái sinh sản.

Nhằm giúp các hộ dân thực hiện các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả, hàng năm, các đoàn thể trong xã đã chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi; tổ chức các hoạt động dịch vụ tư vấn, hỗ trợ vốn, giống vật nuôi, cây trồng cho hội viên đầu tư, sản xuất… Đặc biệt, Hội Nông dân giữ vai trò chủ đạo trong vận động hội viên đăng ký hộ sản xuất kinh doanh (SXKD) giỏi, nhờ đó đã tạo ra phong trào SXKD sâu rộng trên toàn địa bàn xã. Nếu như, năm 2015 xã Đồng Liên chỉ có 315 hộ SXKD giỏi thì đến năm 2020 đã có 777 hộ SXKD giỏi. Cũng theo tổng hợp của xã, trên địa bàn hiện có gần 1.000 hộ dân có thu nhập từ 200 triệu đồng/năm trở lên.

Ông Tạ Văn Phin, Chủ tịch UBND xã Đồng Liên khẳng định: Từ phong trào SXKD giỏi phát triển mạnh mẽ đã giúp nhiều hộ dân nơi đây nỗ lực vươn lên trở lên trở thành hộ khá giả. Kinh tế phát triển, đời sống của người dân không ngừng cải thiện từ đó các hộ luôn hưởng ứng, tham gia tích cực vào việc đóng góp kinh phí xây dựng nông thôn mới như: Xây nhà văn hóa, đường giao thông nông thôn… kết cấu hạ tầng trên địa bàn ngày càng hoàn thiện, bộ mặt nông thôn thêm tươi mới.

Sông Hương

Người ‘đi tắt đón đầu’

Nguồn tin:  Cổng TTĐT tỉnh Quảng Ninh

Ở xã Yên Than (huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh) anh Bùi Văn Tuấn là một điển hình nông dân năng động, sản xuất, kinh doanh giỏi.

Mô hình nuôi gà thả vườn của hộ anh Bùi Văn Tuấn.

Có lợi thế về diện tích vườn, đồi, có sức khỏe và quen với công việc đồng áng, anh Tuấn tham gia nhiều mô hình kinh tế nông nghiệp. Mô hình nào anh cũng có sự đầu tư, tính toán cẩn thận, dành tâm huyết, nên đều mang lại kết quả tốt. Trong đó, nhiều mô hình anh làm mang tính “đi trước đón đầu”, làm điểm..

Thời điểm hiện nay, “cơ ngơi” của anh Tuấn là 4.000 con gà Tiên Yên, vườn dược liệu với sản lượng gần 1 tấn khô/năm, vườn ươm cây keo giống với năng suất trên 70.000 cây/năm và 3 ha rừng keo đang vào giai đoạn phát triển mạnh. Tổng thu nhập từ các mô hình trên mang lại thu nhập cho gia đình anh khoảng 1 tỷ đồng/năm, trừ chi phí còn lãi 60%. Năm 2020, theo tính toán của anh Tuấn, tổng thu của gia đình khoảng 1,2 tỷ đồng, lợi nhuận là khoảng 700 triệu đồng.

Hiện ngoài 40 tuổi, chưa ra khỏi "lũy tre làng", nhưng tư duy làm kinh tế của anh Tuấn khá hiện đại. Các mô hình kinh tế anh triển khai đều bắt đầu bằng việc chủ động tính toán, nắm bắt diễn biến, nhu cầu thị trường cũng như chương trình khuyến khích phát triển kinh tế của địa phương. Như mô hình trồng cây dược liệu, anh theo định hướng đề án “2 con, 1 cây” của huyện, trong đó cây là cây dược liệu; mô hình nuôi gà là giống gà quý bản địa cũng là vật nuôi chủ lực của huyện.

Anh Tuấn chia sẻ: Mô hình kinh tế nào cũng vậy, khi đã được chính quyền khuyến khích, xây dựng thành đề án, có lộ trình, mục tiêu phát triển… tức là đã được nghiên cứu tính khả thi cao. Khi nông dân tham gia mô hình luôn có sự đồng hành của chính quyền, chắc chắn vững vàng hơn.

Không đơn thuần làm kinh tế theo phong trào, cái hay của anh Tuấn chính là sự tính toán rất cẩn trọng và sáng tạo trong triển khai thực tế, tạo ra nét khác biệt cũng là ưu thế cạnh tranh của anh. Như với mô hình nuôi gà Tiên Yên, trong khi đại đa số các hộ nuôi chọn phương án số lượng, thì anh chú trọng chất lượng. Đàn gà của anh, thay vì nuôi 7 tháng như thông thường, anh nuôi trong 9 tháng; thay vì tăng thời gian nuôi vỗ bằng thức ăn công nghiệp, anh tăng thời gian nuôi thả; thay vì chấp nhận bán bằng hoặc dưới giá sàn cho các thương lái để sớm tái đàn, anh nhất quyết bán với giá cao hơn… Tất nhiên, để làm được như vậy, anh Tuấn phải có vốn, luôn có một khoản gọi là vốn dự phòng, không để mình trong tình trạng ăn đong vốn, dẫn đến khi phát sinh khó khăn trở thành bị động, phụ thuộc.

Nhờ đó, sản phẩm của anh luôn được đánh giá cao, được khách hàng tin dùng, duy trì và phát triển được những khách “ruột” sẵn sàng chia sẻ với anh những khi thị trường bấp bênh. Thời điểm thị trường bị ảnh hưởng bởi dịch covid-19, trong khi đàn gà Tiên Yên khó tiêu thụ, thì đàn gà của anh Tuấn vẫn được các khách hàng đặt mua, hiện anh không còn sản phẩm để bán.

Vườn keo giống của anh Tuấn mỗi năm cung ứng cho bà con khoảng 70 vạn cây.

Anh Tuấn phân tích: Làm theo hướng đại trà, dễ ăn nhưng cũng dễ mất. Bởi một khi thị trường có biến động, số người tiêu dùng ít đi, sản phẩm đại trà chắc chắn không trong danh sách lựa chọn. Bởi vậy, sản phẩm đại trà có thể thừa, ế, thậm chỉ đổ bỏ, thì sản phẩm sản xuất với số lượng có hạn vẫn sẽ bán được, không lãi thì cũng giữ vốn hoặc tỷ lệ lỗ thấp.

Việt Hoa

Quảng Ninh: Nâng cao giá trị cam Vạn Yên

Nguồn tin: Cổng TTĐT tỉnh Quảng Ninh

Ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước, thời gian qua, xã Vạn Yên (Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) đã có cách làm riêng để phát triển thương hiệu sản phẩm OCOP cam Vạn Yên. Từ cây đặc sản có nguy cơ suy giảm, nay cam Vạn Yên đã trở thành một sản phẩm OCOP có thương hiệu, có vùng trồng quy mô, ổn định.

Thu hoạch cam sáp đặc sản ở hộ gia đình chị Lê Thị Bảy, thôn 10/10, xã Vạn Yên (Vân Đồn).

Theo ông Nguyễn Hồng Minh, Chủ tịch UBND xã Vạn Yên thì cam Vạn Yên vốn là giống bản địa, quý, có từ lâu đời. Ngoài hợp thổ nhưỡng, Vạn Yên còn có nguồn nước tưới rất sạch và dồi dào từ các khe suối, cộng với khí hậu ôn hoà nên cây cam rất hợp với đất này. Cam Vạn Yên vỏ mỏng, mùi thơm, vị ngọt. Phát huy giống quý này, người dân Vạn Yên ngày càng ý thức gìn giữ và phát huy giá trị cây trồng này.

Những năm gần đây, người trồng cam Vạn Yên ngày càng có ý thức phát triển sản phẩm này theo hướng sạch, canh tác không sử dụng hoá chất, rất được ưa chuộng trên thị trường. Cam Vạn Yên trước chủ yếu được trồng ở các thôn 10/10, Cái Bầu và một phần nhỏ ở thôn Đài Mỏ sau bị thu hẹp lại do diện tích canh tác lúa và các cây trồng khác hiệu quả hơn.

Thế nhưng, ít ai biết rằng đặc sản này có thời điểm đứng trước nguy cơ suy giảm mạnh. Cam Vạn Yên cũng có một giai đoạn khó khăn do kém hiệu quả, thoái hoá giống mà nhiều người lựa chọn cây keo hoặc các cây công nghiệp khác thay thế.

Ngoài các dự án bảo tồn, phục tráng giống cam quý, hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao chất lượng cây cam của Nhà nước, không ít hộ trồng cam ở vùng đất này vẫn gắn bó, tìm cách giữ, cải tạo giống, chất lượng cây cam quý này. Tiêu biểu như các hộ gia đình chị Lê Thị Bảy, anh Trần Văn Hậu... Nhờ đó mà diện tích cam được phục hồi và ngày càng được nhân rộng.

Để phục hồi giống cam này, các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương tích cực tổ chức các chương trình tập huấn, "cầm tay chỉ việc”. Các chuyên gia từ Viện Nghiên cứu rau quả Trung ương được mời về chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ sản xuất cây giống bằng công nghệ ghép để có hệ số nhân giống cao hơn. Sở KHCN nghiên cứu trị bệnh vàng lá, trồng cây mới, loại bỏ cây cam bệnh, kém chất lượng…

Thường niên, xã Vạn Yên cũng phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật trồng, thu hoạch cam; tham quan học tập kinh nghiệm chăm bón ở vùng trồng Cao Phong và các vùng trồng cam lớn. Nhờ vậy mà từ năm 2015, số hộ trồng cam liên tục tăng trung bình 20-30 hộ/năm. Vùng trồng cam đặc sản vì thế cũng nhanh chóng được phục hồi.

Trong xu thế phát triển của kinh tế hàng hoá, của thị trường, người dân trồng cam Vạn Yên đã biết thành lập các HTX cam nhằm cùng nhau nâng cao chất lượng, giữ vững thương hiệu. Theo đó, đầu tiên là sự ra đời của HTX Nông trang Vạn Yên tháng 7/2014 sau đó là HTX Cam 10/10, tập hợp phần lớn các hộ trồng cam tham gia. Các hộ quy ước chăm sóc cam, thu hái theo định hướng sản phẩm sạch, tiêu chuẩn VietGAP.

Năm 2015, cam Vạn Yên tham gia và được công nhận là sản phẩm OCOP. Cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động của các HTX nhờ đó cũng quy củ, khoa học hơn. Các HTX là đầu mối kết nối với các thương lái, thống nhất giá thành sản phẩm, tránh tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh, ảnh hưởng tới giá tiêu thụ sản phẩm.

Đồng thời, HTX cũng là đầu mối triển khai, đổi mới các mẫu mã bao bì sản phẩm; tem nhãn, xuất xứ hàng hoá... Điều này đảm bảo thương hiệu cam Vạn Yên, "đánh bật" được cam Trung Quốc và các sản phẩm nhái thương hiệu trên thị trường; bước đầu hình thành chuỗi tiêu thụ. Qua đó, từng bước tạo dựng thương hiệu cam Vân Đồn thành nông sản an toàn, được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP.

Nhờ được quan tâm, cách làm riêng, cam Vạn Yên ngày càng khẳng định thương hiệu trên thị trường.

Nhờ đó, những năm qua, sản phẩm cam Vạn Yên được nhiều người tiêu dùng đánh giá cao, đạt giá trị trung bình trên 30.000 đồng/kg-40.000 đ/kg. Vùng trồng cam được mở rộng, thu nhập của người trồng cam ngày càng tăng cao. Tới nay, xã đã có 186 hộ trồng cam, tổng diện tích trồng lên tới 184 ha. Thu nhập cho các hộ trồng cam khá cao, trung bình đạt 150-200 triệu đồng/ha/năm. Dự kiến sản lượng cam năm 2020 đạt trên 150 tấn.

Ông Nguyễn Hồng Minh cho biết: Trong thời gian tới, cùng với cơ chế chính sách của Nhà nước, xã sẽ tiếp tục tích cực phối hợp với cơ quan chức năng hỗ trợ kỹ thuật, giống vốn để các hộ yên tâm sản xuất. Đồng thời khuyến khích các mô hình tổ hợp, HTX nhằm giúp các hộ có ý thức hơn trong việc chăm bón, sản xuât sạch; khuyến khích hình thành các chuỗi tiêu thụ, đảm bảo tốt đầu ra.

Hà Phong

Phát triển kinh tế với bưởi da xanh ruột hồng

Nguồn tin: Báo Đắk Lắk

Nhận thấy cây bưởi có nhiều ưu điểm như ra trái quanh năm, giá cả và đầu ra ổn định, năm 2015, trong một lần tham gia hội chợ cây trồng tại TX. Buôn Hồ, ông Trần Xuân Ba ở thôn Tân Hòa, xã Ea Blang (TX. Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk) đã quyết định mua 30 cây bưởi da xanh về trồng thử nghiệm.

Để có kiến thức, kinh nghiệm chăm sóc cây bưởi da xanh, ông Ba tích cực tham gia các buổi hội thảo, tham quan, học hỏi các mô hình thành công trong và ngoài địa phương. Ông Ba học cách chiết cây và nhân rộng mô hình lên hơn 100 cây bưởi da xanh, ruột hồng, trong đó có 70 cây năm thứ hai. Theo tính toán của ông, hiện nay chỉ với 30 cây, bình quân mỗi cây cho 70 quả/năm, mỗi quả nặng trung bình 1,5 kg, với giá bán từ 30.000 - 40.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí gia đình ông thu lợi trên 60 triệu đồng.

Ông Ba chăm sóc vườn bưởi của gia đình.

Ông Ba chia sẻ, bưởi da xanh ruột hồng là loại cây dễ trồng, đặc biệt cây chuộng đất đen, phân chuồng, phân lân; không thích hợp với đất sình đọng nước làm cây dễ bị thối rễ, vàng lá. Bưởi da xanh, ruột hồng thường năm thứ ba là cho quả bói, sau 7 - 8 tháng là có thu hoạch. Để tạo sức cho cây phát triển lâu dài, cây đến năm thứ tư mới bắt đầu thu rộ.

Để trừ bệnh rệp sáp, nhện đỏ gây xoăn lá, sâu đục thân, người trồng cần phải thường xuyên thăm vườn, sử dụng túi ni lông bọc khi trái bằng trái chanh để đảm bảo trái ngon ngọt, lớp vỏ ngoài không bị thâm đen, ảnh hưởng đến giá cả khi xuất bán. Ông Ba không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mà áp dụng biện pháp treo long não trên cây bưởi; mỗi cây ông treo từ 3 - 4 túi, mỗi túi từ 4 - 6 viên long não giúp xua đuổi các loại côn trùng gây hại cho cây.

Để bảo đảm tỷ lệ hoa đậu trái cao đòi hỏi người trồng phải chăm bón rất kỹ từ lúc cây mới ra hoa, thường xuyên vun gốc bón phân, tỉa cành, tỉa trái giúp cây mang lượng trái vừa đủ, đảm bảo sức cho cây phát triển vào vụ sau. Một yếu tố quan trọng là vào giai đoạn ra hoa và đậu trái, cây bưởi cần nhiều nước nên vào mùa nắng, phải thường xuyên tưới, mùa mưa nên tạo rãnh thoát nước, tránh ngập úng cây dễ bị thối rễ chết.

Hiện nay, một số thương lái đã đến tận nhà ông Ba đặt mua bưởi. Tuy nhiên, với sản lượng không lớn nên ông chỉ bán cho người dân trong vùng. Ông Ba cho biết, thời gian tới gia đình sẽ tiếp tục mở rộng mô hình đồng thời trồng xen canh thêm các loại cây ăn trái khác để tăng thu nhập.

Ninh Trang

Phát huy giá trị thương hiệu cho các loại cây ăn quả

Nguồn tin: Báo Lào Cai

Những năm gần đây, các loại cây ăn quả của Lào Cai được quan tâm đầu tư, mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân. Nhiều loại cây ăn quả đã được xây dựng thương hiệu với các nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, có những loại quả trở thành sản phẩm OCOP (Chương trình mỗi xã một sản phẩm) của địa phương. Thế nhưng, việc sử dụng những nhãn hiệu này có hiệu quả vẫn là “bài toán” khó.

Người dân huyện Mường Khương thu hoạch, dán nhãn cho quả chuối xuất khẩu chính ngạch.

Cây ăn quả được quan tâm đầu tư

Trải dọc Quốc lộ 70, giao thông phát triển thuận lợi cho việc giao thương nên nhiều hộ ở xã Xuân Quang (huyện Bảo Thắng) đã đầu tư vào các loại cây ăn quả. Một số loại cây chủ lực như na, nhãn, bưởi được mở rộng diện tích qua các năm. Đến nay, xã Xuân Quang có hơn 700 ha cây ăn quả các loại, tập trung chủ yếu tại 8 thôn dọc Quốc lộ 70. Không còn là cây ăn quả vườn tạp để người dân thu hái theo mùa, các loại cây ăn quả được trồng tập trung thành từng vườn rộng, mỗi khu vườn dành cho một hoặc một nhóm cây nhất định để tăng hiệu quả kinh tế.

Dẫn chúng tôi tham quan khu vườn, chị Lương Thị Liên (thôn Bắc Ngầm) giới thiệu những gốc nhãn ghép lúc lỉu những chùm quả to tròn, bên cạnh là vườn na đến độ thu hoạch. Chị Liên cho biết, trước đây chỉ có vài gốc na, nhãn rất ít khi được chăm sóc và đến mùa thu hoạch gia đình ăn không hết thì đem bán. Từ 5 năm trước, gia đình chị bắt đầu đốn tỉa những cây cũ, ghép mắt giống nhãn cùi và đầu tư thêm vườn na mới. Do nhãn, na được chăm sóc tốt nên quả to, mẫu mã đẹp, rất dễ tiêu thụ và giá cao.

Tương tự như cây nhãn, những năm gần đây, các loại cây ăn quả được người dân ở nhiều địa phương quan tâm đầu tư. Có thể kể đến một số cây ăn quả “thương hiệu” được phát triển thành vùng như quýt Mường Khương, mận Bắc Hà, hồng không hạt, lê Tai nung, bưởi Múc, chuối, dứa… Từ các địa phương vùng thấp phù hợp với các loại cây ăn quả nhiệt đới đến vùng cao với nhóm cây ăn quả đặc hữu ưa mát, các loại cây ăn quả dần trở thành sản phẩm nông nghiệp chủ lực bên cạnh những cây lương thực truyền thống. Để nâng cao giá trị kinh tế, các vườn cây ăn quả được cải tạo, chăm bón, áp dụng kỹ thuật chăm sóc như tỉa cành, tạo tán, một số hộ có kỹ thuật canh tác cao ứng dụng tưới tự động, thụ phấn bằng tay, ghép mắt… Các cơ quan chuyên môn và các địa phương đã phối hợp xây dựng thương hiệu cho các loại cây ăn quả của tỉnh với hơn 10 loại cây ăn quả được xây dựng nhãn hiệu (nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận), trở thành sản phẩm OCOP, sản phẩm nông nghiệp chủ lực, thế mạnh với giá trị hàng hóa cao.

Quan tâm đến sử dụng thương hiệu

Trước đây, sau khi các loại cây ăn quả thế mạnh được xây dựng nhãn hiệu thành công, việc quản lý và sử dụng nhãn hiệu được giao cho hội nông dân cấp huyện. Tại huyện Bảo Thắng, hiện nay có 2 nhãn hiệu đối với các sản phẩm từ cây ăn quả gồm bưởi Múc và quả Bảo Thắng (cấp cho 3 loại quả là na, nhãn và chanh). Theo ông Đỗ Hồng Quân, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bảo Thắng, trên địa bàn huyện có khoảng 2.600 ha cây ăn quả các loại, chủ yếu là dứa, chuối, na, nhãn và bưởi. Cây ăn quả mang lại giá trị thu nhập tương đối cao và ổn định cho người dân trong huyện. Tuy nhiên, dù một số loại quả đã được xây dựng nhãn hiệu thành công nhưng việc quản lý và sử dụng nhãn hiệu vẫn chưa đạt hiệu quả như mong đợi. Nhận thức của người dân nói chung và các tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh nói riêng về vai trò, giá trị của nhãn hiệu đối với sản phẩm quả vẫn còn hạn chế. Giá trị thương mại của nhãn hiệu cây ăn quả chưa phát huy được hết tiềm năng.

Hầu hết nhãn hiệu đối với sản phẩm cây ăn quả sau khi được chứng nhận trên địa bàn tỉnh chưa phát huy được giá trị thương mại. Tuy nhiên, không thể phủ nhận việc xây dựng nhãn hiệu thành công đã góp phần nâng tầm giá trị cho nông sản nói chung, các loại cây ăn quả nói riêng và đưa các sản phẩm cây ăn quả “danh chính ngôn thuận” bước chân vào các chuỗi cửa hàng, siêu thị hoặc các thị trường nước ngoài theo hình thức xuất khẩu chính ngạch.

Theo ông Vương Tiến Sỹ, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý chất lượng nông - lâm sản và thủy sản tỉnh, các loại quả thế mạnh tại Lào Cai hầu hết đã được xây dựng thương hiệu với sự tham gia của người dân, doanh nghiệp. Trong thời gian tới, ngành sẽ tập trung vào nhóm cây ăn quả có tính phổ biến và đối tượng hưởng lợi lớn, áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến (GlobalGAP, Organic), quan tâm đầu tư vào chế biến để nâng cao giá trị sản phẩm cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng nhãn hiệu sản phẩm đã được cấp.

Ông Sỹ nhấn mạnh: Tăng cường quảng bá, xúc tiến thương mại, tổ chức lễ hội, hội chợ để đưa các loại quả đến những thị trường rộng hơn, cao cấp hơn. Bên cạnh đó, việc nâng cao giá trị thương hiệu, sử dụng thương hiệu cũng cần được sự quan tâm từ địa phương và chính các hợp tác xã, tổ hợp tác và người dân trong vùng sản xuất để việc sử dụng nhãn hiệu được nhân rộng. Khi được cấp nhãn hiệu, người dân cần sản xuất theo quy trình kỹ thuật đã được quy định để đảm bảo chất lượng, mẫu mã, nâng cao hiệu quả sản xuất.

THÚY PHƯỢNG

Hiệu quả từ mô hình trồng rau màu ứng dụng hệ thống tưới phun tự động

Nguồn tin: Báo Bạc Liêu

Những năm gần đây, được sự hỗ trợ kỹ thuật và một phần kinh phí của Nhà nước, người dân 2 xã Hưng Hội và Hưng Thành (huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu) đã mạnh dạn đầu tư kinh phí, đưa công nghệ tưới phun mưa tự động vào sản xuất rau màu nhằm tiết kiệm sức lao động và hạn chế chi phí phát sinh. Đồng thời, nâng cao năng suất, tạo sản phẩm đạt chất lượng, góp phần tăng lợi nhuận cho nông hộ.

Chăm sóc rau màu bằng hệ thống tưới phun tự động. Ảnh: M.Đ

Đối với các loại rau ăn lá như: cải xanh, rau muống, rau ngót..., khi ứng dụng hệ thống tưới phun tự động, cây phát triển tốt, cho năng suất cao hơn bên ngoài khoảng 10 - 15%; thời gian cho thu hoạch ngắn hơn quy trình sản xuất thông thường từ 3 - 5 ngày.

Đối với các loại màu ăn trái như: khổ qua, dưa leo…, việc ứng dụng hệ thống tưới phun đã giúp cây phát triển tốt, do luôn tạo được độ ẩm trong đất, giúp cây hấp thụ nhanh chất dinh dưỡng, từ đó sớm ra hoa và cho trái nhiều hơn.

Việc ứng dụng hệ thống tưới phun tự động vào sản xuất rau màu đang là biện pháp hữu hiệu, nhất là vào những tháng mùa khô, thời tiết nắng nóng. Vì vậy, việc tưới phun tự động sẽ giúp nông dân tiết kiệm được nguồn nước và chủ động đảm bảo lượng nước tưới chống hạn cho rau màu. Đồng thời, việc tưới tưới phun theo cách trên sẽ làm giảm tình trạng xói mòn đất, giảm đáng kể bệnh thối rễ, giúp cây không bị cháy lá, mọc chồi khỏe trong thời tiết khắc nghiệt. Đặc biệt là tiết kiệm hơn 70% công lao động, trên 50% chi phí điện, nước và từ 20 - 30% lượng phân bón, góp phần bảo vệ môi trường, tăng năng suất và chất lượng rau màu.

NHẬT MINH

Bình Thuận: Tân Thắng mất mùa bí đỏ

Nguồn tin: Báo Bình Thuận

Những năm qua, bí đỏ được xem là cây trồng ngắn ngày mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận). Vụ hè - thu năm nay, toàn xã Tân Thắng xuống 445 ha bí đỏ, thế nhưng do thời tiết bất lợi nên nhiều diện tích của nông dân bị thiệt hại nặng nề.

Nông dân ngao ngán trên cánh đồng bí mất mùa.

Thời điểm này hàng năm, nông dân xã Tân Thắng đang tất bật, hối hả thu hoạch bí đỏ để kịp cho thương lái thu mua, nhưng năm nay lại “nhàn hạ” vì những chân ruộng bí chỉ toàn thân với lá, cả 1 hàng chỉ lác đác từ 1 - 2 trái. Ông Hoàng Minh Toàn (thôn Cô Kiều, xã Tân Thắng) trồng 8 ha bí đỏ hồ lô cho biết: Những năm trước, thời tiết thuận lợi, ít sâu bệnh nên năng suất đạt bình quân từ 12 - 14 tấn/ha, giá bán 3.500 - 4.200 đồng/kg, nhờ đó đời sống người dân ổn định. Thế nhưng năm nay, giá bí đỏ đang nằm ở mức cao, từ 6.000 - 7.000 đồng/kg, nhưng chỉ cho thu hoạch 500 kg/ha. “Đầu tháng 6, trên địa bàn xã có mưa, nhận thấy đất đủ độ ẩm nên tôi tiến hành làm đất, xuống giống bí đỏ hồ lô. Khi cây bí được 30 - 35 ngày tuổi thì gặp nắng kéo dài 1 tháng; thời điểm này bí đỏ cần nhiều nước để cung cấp độ ẩm cho cây ra hoa, thụ phấn nhưng thiếu nước dẫn đến thiệt hại trên 80% năng suất,” ông Toàn chia sẻ thêm.

Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Năm (thôn Cô Kiều, xã Tân Thắng) chua xót cho biết: Gia đình ông thuê 10 ha đất của Công ty Lâm nghiệp với giá 6 triệu đồng/ha để trồng bí. Sau thời gian chăm sóc, bón phân đợi ngày thu hoạch, thì nắng hạn liên tục trong thời gian qua, đã khiến cây bí đến thời kỳ ra hoa kết trái thì bị rụng bông, ngừng sinh trưởng. “Cứ nghĩ trồng bí có lời, ai ngờ lỗ nặng. Chi phí đầu tư mỗi ha bí là 20-25 triệu đồng, ước tính thiệt hại do nắng hạn vừa qua làm tôi mất trắng hơn 200 triệu đồng”, ông Năm than thở.

Ông Ngô Đình Chiến, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Thắng cho biết, Tân Thắng là xã có diện tích trồng bí đỏ lớn nhất huyện Hàm Tân. Hiện toàn xã có trên 330/445 ha bí đỏ bị ảnh hưởng do nắng hạn, nhiều rẫy bị thiệt hại từ 80 - 100% diện tích, ước tính thiệt hại trên 6,6 tỷ đồng. “Sản xuất bí đỏ ở Tân Thắng phụ thuộc chủ yếu vào nước trời, vào mùa mưa người dân mới xuống giống loại cây này. Thế nhưng năm nay, mưa ít, nắng nhiều đã khiến cho nhiều diện tích bí bị thiệt hại. Bên cạnh đó, người dân trên địa bàn xã đều thuê đất của Công ty Lâm nghiệp, có người đã thuê đến 15-20 ha để đầu tư trồng bí. Vì vậy, chi phí đầu tư đội lên cao, nhiều gia đình lâm vào cảnh nợ nần vì hạn”.

Cũng theo ông Chiến, sau xuống giống vụ đầu thất bại, nhiều bà con tiến hành phá bỏ để trồng lại nhưng cũng gặp nắng kéo dài hơn 10 ngày qua, khiến 90 ha nữa tiếp tục bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, nhiều bà con thường tận dụng quỹ đất để trồng xen canh cây keo lá tràm và bí đỏ nhằm lấy ngắn nuôi dài. Xuống giống cùng một lúc nhưng do mưa gián đoạn, bên cạnh cây bí đỏ bị thiệt hại thì keo lá tràm sau trồng do thiếu nước cũng chết, bà con phải nhổ bỏ trồng lại.

Thiệt hại do hạn của người dân trồng bí đỏ ở xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân đã hiển hiện trước mắt. Hơn lúc nào hết, người nông dân nơi đây mong nhận được sự quan tâm hỗ trợ của địa phương để bù đắp phần nào thiệt hại do nắng hạn gây ra.

THANH NHÀN

Hệ thống trang trại của Vinamilk tăng trưởng ấn tượng

Nguồn tin: Báo Chính Phủ

Được đầu tư không ngừng để mở rộng quy mô và ứng dụng công nghệ 4.0 nhằm nâng cao hiệu quả, hệ thống các trang trại bò sữa (TTBS) trong và ngoài nước của Vinamilk đang cho thấy sự tăng trưởng ấn tượng.

Phát triển vùng nguyên liệu sẽ là chiến lược quan trọng để đưa Vinamilk tăng trưởng trong những năm tiếp theo. Ảnh: VGP/Minh Thi

Nâng cao năng suất và chất lượng sữa tươi nguyên liệu

Hơn 30 năm tính từ khi bắt tay vào phát triển chăn nuôi bò sữa, đến nay, Vinamilk đã sở hữu 12 trang trại quy mô, tổng đàn bò quản lý và khai thác sữa đạt xấp xỉ 150.000 con, giúp cung ứng cho thị trường trên 1.000 tấn sữa tươi nguyên liệu/ngày. Tuy điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của Việt Nam không thuận lợi cho chăn nuôi bò sữa, nhưng nhờ ứng dụng công nghệ và đầu tư bài bản, hiện năng suất và chất lượng sữa của đàn bò sữa Vinamilk đều tăng trưởng tốt, công nghệ chăn nuôi đã tiệm cận với các nước phát triển trên thế giới.

TTBS Tây Ninh là một điển hình cho thấy sự đầu tư đúng hướng của Vinamilk đã giúp hình thành nên mô hình TTBS công nghệ cao, chuẩn quốc tế ngay tại địa phương có điều kiện khí hậu nóng ẩm không thuận lợi.

Được Vinamilk đầu tư hơn 1.200 tỷ đồng (tương đương 50 triệu USD) để xây dựng, TTBS Tây Ninh nay là “resort” lý tưởng của hơn 8.000 bò, bê sữa với diện tích đồng cỏ lên đến hơn 500 ha. Đây cũng là trang trại tiên phong ứng dụng công nghệ 4.0 trong tất cả các khâu quản lý và chăn nuôi bò sữa. Với mô hình chăn nuôi bò sữa hiệu quả và đạt chuẩn quốc tế, TTBS Tây Ninh cũng được chọn là hạt nhân để xây dựng vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh (theo chuẩn của Tổ chức Thú y thế giới) trong dự án do Vinamilk và Bộ NN&PTNT hợp tác triển khai.

Một mô hình nổi bật khác là TTBS Vinamilk organic Đà Lạt, đây cũng là TTBS organic chuẩn châu Âu đầu tiên của Việt Nam tại thời điểm khánh thành vào năm 2017. Đầu tư lớn để xây dựng một TTBS theo chuẩn organic châu Âu khắt khe, sau hơn 3 năm đi vào hoạt động, trang trại này đang gặt hái những kết quả rất tích cực. Với quy mô đàn ban đầu là 500 con, đến nay đàn bò organic của Vinamilk hiện đạt 1.000 con, cung cấp nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm sữa tươi, sữa chua organic của Vinamilk. Tại Lâm Đồng, Vinamilk hiện đang vận hành 2 trang trại chuẩn organic châu Âu với diện tích gần 140 ha.

Các TTBS này nằm trong hệ thống 12 trang trại của Vinamilk tại Việt Nam, được chứng nhận là hệ thống TTBS chuẩn quốc tế lớn nhất châu Á về số lượng trang trại. Có thể thấy đây là sự tăng trưởng mạnh mẽ của Vinamilk về vùng nguyên liệu sữa tươi chuẩn quốc tế cung cấp cho thị trường trong nước lẫn xuất khẩu.

Tiếp tục phát triển nhiều dự án

Vừa qua, Công ty TNHH MTV Bò sữa Việt Nam - công ty con hiện đang quản lý 10 trang trại của Vinamilk được đánh giá là doanh nghiệp duy nhất trong lĩnh vực nông nghiệp thuộc top 50 Công ty tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam (Vietnam Report). Đây cũng là năm thứ 2 Công ty Bò sữa Việt Nam được tôn vinh trong Bảng xếp hạng FAST500 của tổ chức này.

Xác định phát triển vùng nguyên liệu sẽ là chiến lược quan trọng để đưa Vinamilk tăng trưởng trong những năm tiếp theo, công ty đã và đang triển khai nhiều kế hoạch nhằm mở rộng quy mô của hệ thống TTBS trong và ngoài nước.

Một số dự án sắp đi vào hoạt động trong thời gian tới như TTBS Quảng Ngãi với tổng diện tích rộng hơn 90 ha, quy mô 4.000 con. Dự án này có đầu tư ban đầu lên đến 700 tỷ đồng, được ứng dụng công nghệ cao vào chăn nuôi và quản lý, dự kiến sẽ cung ứng khoảng 20 triệu lít sữa tươi nguyên liệu mỗi năm cho thị trường. Cũng theo lộ trình đã vạch ra, Vinamilk sẽ tiếp tục hoàn thành giai đoạn 1 của tổ hợp “resort” bò sữa organic trên cao nguyên Xiêng Khoảng (Lào), với tổng số đàn bò là 24.000 con. Dự kiến sang giai đoạn 2, Vinamilk sẽ nâng quy mô đàn bò lên 100.000 con.

Một dự án đáng chú ý khác của Vinamilk sắp đi vào vận hành là Trung tâm Cấy truyền phôi nhằm phục vụ nhu cầu chọn lọc nguồn gene ưu tú, vượt trội để gây dựng đàn bò sữa trong nước. Hiện trung tâm này đang áp dụng những tiến bộ mới nhất từ Nhật Bản, Mỹ trong công nghệ gene, cấy truyền phôi.

Với những kế hoạch này, dự kiến đến năm 2022-2023, đàn bò tại các trang trại của Vinamilk sẽ tăng thêm 20.000 con, gia tăng nguồn cung cấp sữa tươi nguyên liệu đáp ứng cho nhu cầu sản xuất sản phẩm phục vụ người tiêu dùng trong và ngoài nước. Bên cạnh gia tăng về quy mô, hệ thống trang trại của Vinamilk tiếp tục được đầu tư về công nghệ, kỹ thuật chăn nuôi theo chuẩn quốc tế, đóng góp tích cực đưa ngành chăn nuôi bò sữa công nghệ cao của Việt Nam tiệm cận với sự phát triển của thế giới.

Ông Trịnh Quốc Dũng, Giám đốc Điều hành phát triển vùng nguyên liệu của Vinamilk cho biết: “Định hướng của Vinamilk là xây dựng các TTBS trở thành “hạt nhân” cho sự phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Ngoài ra, Vinamilk sẽ tiếp tục thực hiện tam nông, tạo sinh kế cho người dân vùng lân cận trang trại và phát triển nông nghiệp, chăn nuôi theo hướng bền vững để hình thành chuỗi liên kết giá trị. Những kế hoạch sắp tới sẽ giúp vùng nguyên liệu sữa của công ty tăng trưởng mạnh mẽ và góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung là đưa Vinamilk vào top 30 công ty sữa lớn nhất thế giới”.

Minh Thi

Phát triển chăn nuôi hiện đại, bền vững

Nguồn tin: Cổng TTĐT tỉnh Đồng Nai

Chương trình phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2020-2025, mặt hàng heo, gà vẫn nằm trong danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh. Đồng Nai vẫn là “thủ phủ” chăn nuôi của cả nước khi thuộc tốp đầu về tổng đàn gia súc, gia cầm.

Trại gà công nghiệp theo chuẩn xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản tại huyện Long Thành. Ảnh: Nam Vũ

Giai đoạn hội nhập, tỉnh tiếp tục tập trung phát triển bền vững ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao để cạnh tranh tốt khi bước vào sân chơi thế giới.

Chăn nuôi hiện đại

Năm 2019, ngành chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là chăn nuôi heo thiệt hại lớn do ảnh hưởng của dịch tả heo châu Phi. Nhưng giá trị sản phẩm chăn nuôi vẫn đạt hơn 21,3 ngàn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn ngành nông nghiệp với giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt gần 41,8 ngàn tỷ đồng. Trong đó, ngành chăn nuôi heo đang dần hồi phục với tổng đàn hiện đạt gần 2,1 triệu con, giảm hơn 8,3% so với cùng kỳ năm ngoái nhưng đã tăng hàng trăm ngàn con so với thời điểm tổng đàn heo giảm mạnh do thiệt hại bởi dịch tả heo châu Phi. Lợi thế lớn nhất của Đồng Nai là vẫn còn tổng đàn nái, trong đó có đàn giống cụ kỵ cao hơn so với nhiều tỉnh thành trong cả nước. Nguồn giống này chủ yếu do các doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi lớn đầu tư theo hướng chuyên nghiệp, bài bản.

Ông Trần Tiến, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam (Khu công nghiệp Biên Hòa 2, TP.Biên Hòa) cho biết, hiện doanh nghiệp đang có nhiều trang trại nuôi heo nái tại miền Nam hoạt động ổn định. C.P cũng đang cơ cấu lại hoạt động chăn nuôi, ưu tiên phát triển mô hình trang trại cách xa khu dân cư, kiểm soát dịch bệnh tốt. Doanh nghiệp rất chú trọng xây dựng đội ngũ kỹ thuật, bác sĩ thú y đến tận trang trại hỗ trợ cho các trại nuôi gia công cho C.P về quy trình phòng, chống dịch tả heo châu Phi khi có nhu cầu tái đàn heo. Đánh giá về xu hướng phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm, ông Lê Văn Quyết, Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Đông Nam bộ cho rằng, chăn nuôi gà công nghiệp lúc này đã qua giai đoạn chạy theo phong trào. Hiện chăn nuôi trang trại chiếm hơn 90% tổng đàn, đa số các trại nuôi đều được đầu tư theo chuẩn công nghiệp hiện đại, tham gia chuỗi liên kết hoặc nuôi gia công cho các doanh nghiệp lớn.

Hướng đến sự bền vững

Đồng Nai khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô lớn. Ảnh: Trang trại Hoa Phượng tại xã Tân An, (H.Vĩnh Cửu). Ảnh: Nam Vũ

Định hướng trong thời gian tới, ngành chăn nuôi vẫn tiếp tục phát triển theo hướng công nghiệp với quy mô lớn, đạt chuẩn an toàn. Theo đó, người chăn nuôi phải tính đến bài toán cạnh tranh dài hạn khi bước vào sân chơi quốc tế bằng cải thiện năng suất, xây dựng chuỗi sản phẩm không chỉ đáp ứng tốt thị trường nội địa mà còn hướng đến xuất khẩu. Hoàn thiện chuỗi sản phẩm chăn nuôi từ sản xuất đến bàn ăn theo hệ thống khép kín từ sản xuất, giết mổ, chế biến đến khâu tiêu thụ…

Trong đó, việc xây dựng thương hiệu cho chuỗi sản phẩm chăn nuôi cũng cần được đầu tư đúng mức, đặc biệt đối với các sản phẩm được chứng nhận VietGAHP để có đầu ra thật sự bền vững bằng uy tín, chất lượng.

Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp – Phát triển nông thôn Huỳnh Thành Vinh, lợi thế của Đồng Nai là có nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong ngành chăn nuôi theo chuỗi liên kết từ khâu sản xuất đến tiêu thụ. Định hướng phát triển chăn nuôi trong giai đoạn hội nhập, tỉnh tiếp tục khuyến khích các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với hộ chăn nuôi nhỏ lẻ để cung cấp con giống, chuyển giao kỹ thuật nuôi đảm bảo an toàn cho nông dân.

Trong dịp về làm việc tại Đồng Nai, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến đánh giá cao kết quả Đồng Nai đạt được trong công tác tái đàn, đặc biệt là trong khôi phục đàn heo giống. Giá heo hơi tăng cao trong thời gian qua là cơ hội để địa phương nhân rộng mô hình chăn nuôi sạch, chăn nuôi an toàn sinh học, đảm bảo sản lượng thịt heo cung cấp cho thị trường cuối năm.

Nam Vũ

Ninh Hòa (Khánh Hòa): Nhiều tiềm năng chăn nuôi quy mô trang trại

Nguồn tin: Báo Khánh Hòa

Thời gian gần đây, hoạt động chăn nuôi quy mô trang trại dần chuyển hướng ra địa bàn thị xã Ninh Hòa (Khánh Hòa). Tuy thị xã khuyến khích phát triển chăn nuôi, nhưng cũng hết sức thận trọng trong việc đảm bảo yếu tố môi trường, bền vững.

Chăn nuôi vẫn còn nhỏ lẻ

Ninh Hòa từ lâu vốn nổi tiếng là vùng đất nuôi gà. Giống gà ri Ninh Hòa đã được đưa vào Bộ giống quốc gia, được người tiêu dùng đặc biệt ưa thích nhờ độ dai, ngọt đặc trưng. Tuy vậy, hoạt động chăn nuôi gà tại Ninh Hòa chủ yếu là nông hộ, nhỏ lẻ. Hiện nay, đàn gia cầm của Ninh Hòa có khoảng 960.000 con, chiếm 1/3 tổng đàn của cả tỉnh. Tuy nhiên, hình thức nuôi gà trang trại, trại lạnh quy mô hàng chục nghìn con mỗi trại ở Ninh Hòa lại không phổ biến như tại huyện Cam Lâm và TP. Cam Ranh.

Một trang trại chăn nuôi heo khép kín ở xã Ninh Tân, thị xã Ninh Hòa.

Theo ông Võ Ngọc Lâm - Giám đốc Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, Chi nhánh Khánh Hòa, hệ thống chăn nuôi gà gia công trên địa bàn Khánh Hòa có tổng đàn khoảng 300.000 con. Quy mô mỗi trại từ 10.000 đến 15.000 con. Các trại gà gia công CP chủ yếu nằm ở huyện Cam Lâm, Diên Khánh và Khánh Vĩnh; tại Ninh Hòa chưa có trang trại nào. Không chỉ hệ thống chăn nuôi gia công, mà nhìn chung, hoạt động chăn nuôi gia cầm ở Ninh Hòa cũng có phần nhỏ lẻ hơn so với các địa phương khác. Thống kê đến cuối năm 2019, tại Ninh Hòa có 4 cơ sở chăn nuôi gia cầm lớn, quy mô từ 4.000 đến 6.000 con. Ngoài ra, trên địa bàn có một số tổ liên kết như Tổ hợp tác nuôi gà nòi thương phẩm Ninh An quy mô hàng chục nghìn con. Nhưng nhìn chung, cơ sở chăn nuôi gà vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng của địa phương.

Hoạt động chăn nuôi heo nơi đây cũng chưa lớn mạnh. Tính đến tháng 6-2020, thị xã có tổng đàn heo chưa đầy 28.000 con, chỉ chiếm khoảng 1/10 cả tỉnh. Trong số này, đàn heo chăn nuôi trong doanh nghiệp chỉ có tổng đàn khoảng 8.000 con, còn lại chủ yếu là nông hộ nuôi nhỏ lẻ và chưa bền vững.

Nhiều dự án chăn nuôi lớn

Từ đầu năm 2020 đến nay, thị xã Ninh Hòa đã nhận được khá nhiều đơn đề nghị triển khai dự án chăn nuôi heo quy mô lớn. Đặc điểm chung của các dự án này là mỗi trại có tới hàng nghìn con heo, số vốn đầu tư ban đầu hàng chục tỷ đồng với hình thức chăn nuôi khép kín, hiện đại. Chẳng hạn như tại xã Ninh Tây, một công ty chăn nuôi đang thực hiện các thủ tục để đầu tư xây dựng trại 2.400 con heo nái sinh sản tại thôn Buôn Đung. Trang trại xây dựng trên diện tích hơn 8,4ha theo hướng quy mô công nghiệp, hiện đại, có số vốn đầu tư lên tới 60 tỷ đồng. Hay như tại thôn 1, xã Ninh Thượng, một doanh nghiệp cũng đang thực hiện các bước để đầu tư trang trại chăn nuôi heo thịt quy mô 12.000 con trên diện tích hơn 9ha, tổng mức đầu tư 55 tỷ đồng. Cũng tại Ninh Thượng, một doanh nghiệp khác đang thực hiện các thủ tục đầu tư gần 38 tỷ đồng để xây dựng trại 600 con heo nái ngoại sinh sản khép kín.

Theo ông Võ Ngọc Lâm, qua tìm hiểu, một số xã cánh tây của Ninh Hòa như: Ninh Tây, Ninh Thượng, Ninh Sơn… tỏ ra phù hợp để phát triển chăn nuôi gà quy mô trang trại. Đơn vị sẽ tập trung tìm hiểu kỹ hơn về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu khu vực này để tính toán đầu tư chăn nuôi gà tại đây.

Ông Lê Bá Thuận - Phó Chủ tịch UBND thị xã Ninh Hòa cho biết, địa phương định hướng phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, gắn với an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường. Trong đó, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào chăn nuôi được chú trọng. Bên cạnh đó, các yêu cầu, đòi hỏi về việc đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn chăn nuôi cũng được quan tâm. Trước mắt, trong năm 2020, Ninh Hòa ổn định đàn heo 30.000 con, đàn gà 1 triệu con, từng bước dịch chuyển chăn nuôi ra khỏi khu dân cư, giảm dần số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, không đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh thú y, an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường.

Hồng Đăng

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-28) 37445447-(84-28) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop