Tin nông nghiêp ngày 15 tháng 11 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiêp ngày 15 tháng 11 năm 2019

Khai mạc hội chợ công nghệ nuôi trồng, chế biến nông nghiệp

Nguồn tin:  Sài Gòn Giải Phóng

Sáng 13-11, Hội chợ - Triển lãm Công nghệ nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thủy sản TPHCM lần II - năm 2019 và Hội chợ Hàng Khuyến mại quận Tân Bình năm 2019 đã khai mạc từ 13 đến 17-11 tại Trung tâm Văn hóa Thể thao quận Tân Bình (TPHCM).

Cây hoa hồng kiểng thu hút nhiều khách xem

Với 250 gian hàng trưng bày giống cây trồng, vật nuôi, cá cảnh; nông sản, thực phẩm chế biến, sản phẩm chức năng; mô hình trồng rau củ quả VietGAP, rau hữu cơ, thủy canh; mô hình trồng nấm; mô hình ứng dụng công nghệ sinh học trong trồng trọt; mô hình chăn nuôi, mô hình nuôi trồng thủy sản; máy móc phục vụ nuôi trồng nông – lâm – thủy sản; công nghệ sau thu hoạch…

Công nghệ phục vụ nông nghiệp do doanh nghiệp Việt Nam chế tạo

Hội chợ nông nghiệp nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp có cơ hội giới thiệu các sản phẩm nông sản, thực phẩm an toàn, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng; công nghệ bảo quản sau thu hoạch, máy móc, thiết bị phục vụ chế biến nông, lâm, thủy sản; các mặt hàng tiêu dùng với nhiều hình thức khuyến mại hấp dẫn. Đồng thời, hội chợ cũng tạo cầu nối giúp người sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng gặp gỡ, liên kết sản xuất, tiêu thụ hàng hóa trong lĩnh vực nông sản, thực phẩm; qua đó tìm kiếm đối tác hợp tác, kinh doanh, học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận khoa học, công nghệ mới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, làm cầu nối giữa sản xuất và thị trường.

Cá cảnh thu hút nhiều du khách tham quan

Hội chợ Hàng Khuyến mại quận Tân Bình năm 2019 mang đến cơ hội tiếp cận các mặt hàng uy tín với giá cả hợp lý cho khách tham quan mua sắm, đồng thời, cũng khuyến khích các doanh nghiệp trong nước sản xuất kinh doanh, quảng bá thương hiệu, cải tiến mẫu mã và chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, nâng cao năng lực cạnh tranh với sản phẩm ngoại nhập, góp phần củng cố và bồi đắp thêm giá trị, hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.

THANH HẢI

Triển vọng ứng dụng thiết bị bay trong sản xuất nông nghiệp

Nguồn tin:  Báo Cần Thơ

Ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất đang là xu hướng tất yếu để giảm công lao động, tăng năng suất cây trồng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong đó, việc phun thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) bằng thiết bị bay không người lái (drone) bước đầu cho thấy hiệu quả không chỉ trong sản xuất, mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe nông dân.

Giảm 30% lượng thuốc BVTV

Hiện nay, với xu thế ứng dụng các thiết bị công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, việc áp dụng hệ thống phun thuốc BVTV bằng drone có nhiều tiện ích. Sự hỗ trợ của drone trong canh tác cây trồng giúp nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm thời gian, tài nguyên nước và quan trọng nhất là giúp bảo vệ sức khỏe nông dân tốt hơn do không cần trực tiếp phun thuốc. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với chương trình sản xuất lúa gạo bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế SRP.

Bà con nông dân xem trình diễn thiết bị bay không người lái dùng để phun thuốc BVTV.

Mới đây, Tập đoàn Lộc Trời tổ chức trình diễn phun thuốc BVTV trên lúa bằng drone tại xã Hưng Thịnh (huyện Tân Hưng, Long An) bước đầu cho thấy hiệu quả thiết thực và hứa hẹn có khả năng triển khai trên diện rộng trong thời gian tới. Đây cũng là hoạt động nằm trong dự án triển khai ứng dụng công nghệ cao vào canh tác nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất cho bà con nông dân. Trong buổi tổ chức, ngoài tham quan thực nghiệm drone phun thuốc, bà con nông dân còn trực tiếp tham gia tọa đàm về các vấn đề liên quan đến ứng dụng drone vào phun thuốc quản lý dịch hại trên cây lúa nhằm có cái nhìn toàn diện hơn về thiết bị bay nông nghiệp.

Qua quá trình thực nghiệm drone phun thuốc cho thấy hạt thuốc khi ra khỏi đầu phun có kích cỡ rất nhỏ, mịn. Điều này sẽ giúp nông dân giảm lượng nước thực tế cần dùng mà vẫn đảm bảo độ trải đều bề mặt và mang lại hiệu quả cao. Ngoài ra, việc phun thuốc BVTV trên lúa bằng drone còn giúp tăng năng suất lao động từ 15-30 lần, giảm giá thành, rút ngắn thời gian phun thuốc trên 1 đơn vị diện tích; giảm 30% lượng thuốc BVTV so với phun xịt thông thường; công nghệ phun ly tâm giúp giọt nước xoáy tròn nên việc tiếp xúc sâu bệnh mặt dưới lá hiệu quả hơn; khả năng tập trung drone để phun thuốc dập dịch nhanh; chủ động thời gian phun thuốc với khả năng phun thuốc ban đêm; phun thuốc chính xác với việc kiểm soát công nghệ phun trên máy bay, ứng dụng chẩn đoán dịch hại đồng bộ dữ liệu với máy bay phun tự động vào khu vực có dịch hại; giảm tổn thất sản lượng lúa 150-200 kg/héc-ta so với phun xịt thuốc thông thường do lúa không bị giẫm đạp.

Ông Phạm Tấn Hào, ở huyện Tân Hưng, tỉnh Long An, cho biết: Khi phun thuốc thủ công, mỗi héc-ta lúa tốn khoảng 160.000 đồng tiền thuê người, hay dao động 14.000-15.000 đồng mỗi bình thuốc. Vụ vừa rồi, ông phun bằng drone, tuy chi phí cao hơn một chút nhưng lượng thuốc giảm 20%, năng suất tăng 10 - 15%. “Thứ nhất là tiết kiệm công lao động rất lớn. Thứ hai là đạt được sự đồng đều, chứ phun thuốc bằng tay thì cũng có nhiều lỗi. Do đó tôi sẽ dùng drone để phun thuốc trong vụ đông xuân tới”- ông Hào nói.

Ông Nguyễn Văn Cang, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Tân Hưng, cho biết nông dân đánh giá rất cao công nghệ phun thuốc bằng drone và nhiều nơi đã áp dụng trên diện tích hàng trăm héc-ta. Với giá từ 200-300 triệu đồng/thiết bị, một số nông dân, HTX sản xuất lớn có thể đầu tư để sử dụng hoặc phun dịch vụ cho nông dân.

Thúc đẩy ứng dụng vào thực tế

Ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Lộc Trời, cho biết: “Thông qua dự án triển khai thiết bị bay nông nghiệp, chúng tôi mong muốn bảo vệ sức khỏe nông dân và gìn giữ nguồn tài nguyên nước một cách tốt hơn. Những lợi ích đến từ dự án này góp phần gia tăng lợi nhuận sản xuất cho bà con nông dân. Đó cũng chính là nỗ lực của tập đoàn trong việc hiện thực hóa tầm nhìn tiên phong trong việc ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ tiên tiến hướng tới hiệu quả cao hơn”.

Một thiết bị bay không người lái đang phun thuốc trên đồng.

Việc phun thuốc BVTV bằng drone thực tế đã cho thấy nhiều lợi ích mang lại trên đồng ruộng. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện đại trà vẫn còn một quá trình bởi theo bà con nông dân, trở ngại đầu tiên chính là chi phí đầu tư rất lớn. Ông Trần Văn Đơ, ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, cho biết từ lâu cái lo lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp là thiếu công lao động từ sạ, cấy, cắt… mà đặc biệt là phun thuốc. Bởi việc phun thuốc ảnh hưởng đến sức khỏe nên ít người chịu làm. Bây giờ, việc dùng drone để phun thuốc cho thấy nhiều lợi ích, nhất là giúp bà con nông dân không tiếp xúc với thuốc sẽ bảo vệ được sức khỏe.

“Làm lúa thời gian qua không lời nhiều; có drone sẽ đỡ tốn nhân công, chi phí giảm, rút ngắn thời gian. Tuy nhiên, vẫn còn cái khó là chi phí một thiết bị quá cao, chỉ có hợp tác xã, tổ hợp tác mới có thể đầu tư, chứ cá nhân không ai dám mua. Do đó, cần phải chế máy nhỏ, giá giảm hơn nữa thì mới có khả năng triển khai rộng rãi”- ông Đơ nói. Ngoài ra, theo ông Nguyễn Văn Cang vấn đề bà con quan tâm hiện nay là thủ tục xin giấy phép bay và phí sử dụng hằng năm khá cao (khoảng 30 triệu đồng).

Ngoài chi phí đầu tư, do việc dùng drone trong nông nghiệp tại Việt Nam còn tương đối mới nên ông Thòn cho biết sẽ phổ biến kỹ thuật này theo từng bước. Bước một, tập đoàn sẽ làm dịch vụ phun bằng drone cho nông dân. Bước hai, tiến tới tập huấn và triển khai ở các HTX. Sau đó, khi hiệu quả đã được kiểm chứng qua thời gian, một số hộ có điều kiện và nhạy bén sẽ chủ động tự đầu tư.

“Trước hết, vẫn còn khoảng cách giữa việc nghiên cứu với triển khai, áp dụng thực tế vào đồng ruộng vì còn những khác biệt về điều kiện, địa lý, khí hậu... nên cần nghiên cứu thêm để đúc kết. Vụ tới, chúng tôi sẽ tiếp tục thí điểm trên vùng nguyên liệu của tập đoàn để hoàn thiện quy trình”- ông Thòn nói.

Từ thực tế cho thấy, việc triển khai drone phục vụ sản xuất nông nghiệp là một bước chuyển đổi quan trọng trong việc đẩy mạnh số hóa ngành nông nghiệp. Bước đi này nhằm góp phần thúc đẩy hiện thực hóa những ước vọng của nông dân, nâng cao vị thế và chất lượng cuộc sống của bà con, góp phần xây dựng những vùng nông thôn đáng sống.

Bài, ảnh: BÌNH NGUYÊN

Cơ cấu lúa thơm, lúa chất lượng cao chiếm 55% diện tích sản xuất

Nguồn tin: Báo Long An

Những năm gần đây, Long An định hướng nông dân tập trung sản xuất các giống lúa chất lượng cao, lúa đặc sản, lúa thơm nhằm nâng chất lượng và giá trị của sản phẩm lúa gạo.

Lúa chất lượng cao chiếm khoảng 55% trong tổng cơ cấu giống lúa

Theo thống kê, kết quả sản xuất các vụ lúa Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông năm 2019 trên địa bàn tỉnh cho thấy: Các nhóm lúa thơm, đặc sản và nhóm lúa chất lượng cao chiếm ưu thế vượt trội với khoảng 55% trong tổng cơ cấu giống lúa, bao gồm các loại giống như Đài thơm 8, Nàng Hoa 9, RVT, ST 24, OM 5451, OM 4900,...

Năm 2019, tổng sản lượng lúa của tỉnh ước đạt 2,75 triệu tấn. Trong đó, lúa chất lượng cao ước đạt 1,36 triệu tấn.

Việc chuyển đổi sản xuất lúa chất lượng cao và lúa thơm, lúa đặc sản thay cho lúa phẩm cấp thấp vừa nâng chất lượng hạt gạo, vừa tăng giá trị xuất khẩu, từ đó giúp nông dân trồng lúa thu lợi nhuận cao hơn trên cùng 1 diện tích./.

Lê Ngọc

ST24 đạt giải gạo ngon thế giới năm 2019

Nguồn tin: Báo Sóc Trăng

Trong khuôn khổ Hội nghị thương mại gạo thế giới lần thứ 11 tại Manila, Philippines, gạo ST24 đã xuất sắc vượt qua các đối thủ có nhiều giống gạo ngon để giành giải nhất cuộc thi gạo ngon thế giới 2019. Trong top 3 còn có gạo Thái Lan và gạo Philippines.

Đoàn Việt Nam vinh dự nhận giải nhất cho gạo ngon ST24 từ Ban Tổ chức hội thi. Ảnh do HQL cung cấp

Thông tin trên vừa được ông Hồ Quốc Lực - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thủy sản Sao Ta, một thành viên đi theo đoàn gửi về vào chiều ngày 12-11. Như vậy, chỉ với lần thứ hai xuất ngoại dự thi quốc tế, gạo ngon ST24 đã cải thiện thứ hạng từ hạng ba vào năm 2017 lên hạng nhất tại hội thi năm nay. Trước đó, tai Hội thi Gạo ngon Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh vào ngày 4-11, gạo ST24 cũng xuất sắc đạt giải nhất.

Đây là thành quả nhiều năm nghiên cứu của nhóm KS Hồ Quang Cua, TS Trần Tấn Phương và thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hương. Kết quả này làm vinh danh gạo Việt trên thương trường thế giới. Ngay sau có kết quả, nhiều bạn bè quốc tế tới chúc mừng và có nhiều nhà kinh doanh gạo tới gặp gỡ tìm hiểu cho việc đưa gạo ngon nhất thế giới này tới người tiêu dùng thị trường cao cấp.

Xuân Trường

Gia Lai thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu cà phê

Nguồn tin: Báo Gia Lai

Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh Gia Lai. Vì vậy, việc thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu cà phê đã được chính quyền, ngành chức năng và nhiều doanh nghiệp trong tỉnh Gia Lai hết sức quan tâm.

Theo đánh giá của Sở Công thương, hoạt động xuất khẩu của tỉnh trong thời gian qua đạt nhiều kết quả tích cực. Nếu như năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt 343 triệu USD, năm 2017 đạt 450 triệu USD, năm 2018 đạt 470 triệu USD thì năm 2019 ước đạt 500 triệu USD. Trong đó, mặt hàng cà phê đạt kim ngạch xuất khẩu trung bình trên 200 triệu USD/năm. Ngoài xuất khẩu ở các thị trường châu Á với khoảng 30% kim ngạch thì mặt hàng cà phê của tỉnh đã có mặt tại những thị trường khó tính như: Mỹ, EU, Nhật Bản…

Việc liên kết sản xuất cà phê bền vững có chứng nhận giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp. Ảnh: V.T

Năm 2019, giá cà phê thu mua nội địa giảm, giá xuất khẩu giảm hơn 10% (bình quân khoảng 1.600 USD/tấn) so với năm 2018. Bên cạnh đó, khối lượng cà phê xuất khẩu dự kiến cũng giảm hơn 30% đã ảnh hưởng đến tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Dự kiến, năm 2019, toàn tỉnh sẽ xuất khẩu 180.000 tấn cà phê, tương ứng kim ngạch khoảng 294 triệu USD. Mặc dù đóng góp chủ yếu vào kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh song hiện nay, các sản phẩm cà phê xuất khẩu phần lớn là chế biến thô, chưa tạo sức cạnh tranh lớn trên thị trường.

Theo ông Nguyễn Tấn Lực-Trưởng phòng Quản lý xuất nhập khẩu (Sở Công thương), dự báo tình hình xuất khẩu trong thời gian tới sẽ tiếp tục tăng trưởng, song tốc độ tăng sẽ không cao do sự suy giảm của thương mại toàn cầu, đặc biệt là những ảnh hưởng từ căng thẳng thương mại Mỹ-Trung Quốc. Tuy nhiên, với chính sách mở cửa thị trường, tác động của FTA, đặc biệt là Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực từ đầu năm 2019, Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam đã mở ra cơ hội để hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam nói chung, tỉnh ta nói riêng thâm nhập và mở rộng thị trường mới.

Hiện nay, toàn tỉnh mới chỉ có 4 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu mặt hàng cà phê gồm: Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Hoa Trang, Công ty TNHH Trung Hiếu, Công ty TNHH Thương mại và Chế biến Louis Dreyfus Company Việt Nam. Trong số này, Công ty TNHH Vĩnh Hiệp có kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt rất lớn. Theo chia sẻ của ông Thái Như Hiệp-Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, Công ty đã xây dựng mạng lưới sản xuất, chế biến cà phê bền vững, luôn cố gắng tạo ra những sản phẩm cà phê chất lượng cao, đáp ứng các nhu cầu khắt khe của thị trường Mỹ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc… Trung bình mỗi năm, Công ty xuất khẩu khoảng 70.000 tấn cà phê (90% là cà phê nhân xô; 10% là cà phê rang xay và hòa tan), mang về kim ngạch khoảng 150 triệu USD cho tỉnh. “Nếu năm trước, giá cà phê xuất khẩu là 2.200 USD/tấn thì năm nay giá giảm rất mạnh. Cùng với đó, sản lượng cà phê xuất khẩu của doanh nghiệp giảm nên ước lượng năm nay kim ngạch xuất khẩu cũng đạt thấp hơn các năm trước”-ông Hiệp nói.

Để thúc đẩy ngành hàng cà phê phát triển, tỉnh đã xây dựng các cơ chế chính sách hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Cụ thể, tỉnh hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất để tăng năng suất, đổi mới công nghệ sơ chế, bảo quản, chế biến sâu nhằm tăng giá trị sản phẩm hàng hóa. Chương trình tái canh cây cà phê cũng được đẩy mạnh cùng với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu cà phê trong thời gian tới. Bên cạnh đó, việc thu hút đầu tư các dự án sản xuất, chế biến cà phê hòa tan, cà phê bột để nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp được đẩy mạnh; việc tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng hiệu quả công tác thông tin, dự báo về các thị trường xuất khẩu trọng điểm được chú trọng.

Trao đổi thêm về giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu mặt hàng cà phê trong thời gian tới, ông Nguyễn Tấn Lực cho rằng, các doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt thời cơ, tập trung đổi mới công nghệ, tăng cường hợp tác và liên kết để nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh trên thị trường; tổ chức mô hình sản xuất kinh doanh theo hướng chú trọng chất lượng, đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định trong nước và quốc tế để đảm bảo uy tín của doanh nghiệp xuất khẩu và sản phẩm xuất khẩu. Chủ động tìm kiếm, phát triển các thị trường mới để đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tránh lệ thuộc vào các thị trường truyền thống nhằm giảm thiểu rủi ro. Hiện nay, dù tình hình xuất khẩu chưa thuận lợi nhưng giá cả mặt hàng cà phê đang có dấu hiệu hồi phục dần và dự báo sẽ tăng 10% vào năm 2020. Dự kiến, năm 2020, xuất khẩu cà phê sẽ đạt khoảng 200.000 tấn, tương ứng kim ngạch là 360 triệu USD (tăng 11% về lượng và 22% về giá trị so với năm 2019).

VŨ THẢO

Nông dân Tiền Giang phấn khởi bởi sầu riêng vụ nghịch được giá cao

Nguồn tin: Báo Cần Thơ

Sầu riêng là một trong những cây ăn quả đang cho nông dân địa phương thu nhập cao, bình quân đạt mức lãi ròng đến 1,2 tỷ đồng sau một vụ thu hoạch.

Nông dân thu hoạch sầu riêng. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Những ngày qua, nông dân vùng chuyên canh sầu riêng tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang rất phấn khởi bởi loại trái cây đặc sản này đang có giá cao, mang lại thu nhập khá cho bà con.

Theo anh Nguyễn Minh Hiếu, nông dân trồng 2.000m2 đất sầu riêng chuyên canh giống Ri6 ở xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy, thương lái đang thu mua tại vườn giá bình quân 70.000 đồng/kg, gấp đôi tháng trước.

Sầu riêng loại tốt nhất được thu mua mức giá kỷ lục lên đến 80.000 đồng/kg.

Với năng suất khoảng 20 tấn quả/ha, mỗi hecta đạt giá trị thu hoạch 1,4-1,8 tỷ đồng, trừ chi phí lãi ròng không dưới 1 tỷ đồng.

Nông dân Nguyễn Thanh San, trồng 4.000m2 sầu riêng giống Ri6 và Mong Thong tại xã Long Tiên, huyện Cai Lậy chuẩn bị thu hoạch khoảng 8 tấn quả phấn khởi cho biết, thời điểm từ nay đến trước Tết Nguyên đán, các vườn sầu riêng ở huyện Cai Lậy đang vào vụ nghịch thường có giá cao, thu nhập khá. Ông hy vọng với sản lượng trên, vụ này doanh thu đạt 560 triệu đồng, trừ chi phí lãi 400 triệu đồng.

Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang, sầu riêng là một trong những cây ăn quả đang cho nông dân địa phương thu nhập cao, bình quân đạt mức lãi ròng đến 1,2 tỷ đồng sau một vụ thu hoạch. Đó là nhờ trong những năm qua, bà con đã quan tâm tuyển chọn giống tốt, mở rộng diện tích vườn cây ăn quả chuyên canh và ứng dụng đồng bộ các kỹ thuật thâm canh. Đặc biệt là xử lý cho trái rải vụ để tránh tình trạng “trúng mùa, dội chợ.”

Ước tính, tổng diện tích sầu riêng của tỉnh Tiền Giang khoảng 9.000ha, tập trung tại các địa phương vùng ngập lũ phía Tây: huyện Cai Lậy, thị xã Cai Lậy…

Theo Minh Trí (TTXVN/Vietnam+)

Liên kết sản xuất trái cây sạch

Nguồn tin: Báo Khánh Hòa

Thời gian qua, “Nhóm phụ nữ khởi nghiệp từ vườn cây ăn quả” ở xã Diên Thọ, huyện Diên Khánh (Khánh Hòa) đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng thành công theo hướng sản xuất sạch. Nhờ liên kết với nhau trong tiêu thụ sản phẩm nên hiệu quả kinh tế cao hơn, qua đó góp phần tạo thu nhập ổn định cho gia đình.

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng

Diên Thọ là xã có địa hình bán sơn địa, người dân chủ yếu trồng mía và keo. Tuy nhiên, những năm gần đây, 2 loại cây trồng này cho thu nhập không cao nên từ năm 2016, xã có chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Nắm bắt được tình hình đó, Hội Phụ nữ xã Diên Thọ đã vận động hội viên, phụ nữ mạnh dạn chuyển đổi cây trồng sang các loại cây ăn quả như: Bưởi da xanh, mít, chuối, xoài, đu đủ… Ban đầu, chỉ có 5 hội viên tham gia chuyển đổi với 6ha trồng cây ăn quả, các chị gặp không ít khó khăn do thiếu vốn đầu tư để cải tạo đất, mua giống, chưa nắm bắt về kỹ thuật. Do đó, các chị trồng xen các loại cây ăn quả ngắn ngày như: Đu đủ, chuối; các loại rau màu tầng thấp hơn như: Cà chua, bầu, bí, đậu ve, dưa leo... Lấy ngắn nuôi dài, sau 2 năm, các chị thu hẹp diện tích trồng màu và phát triển thêm diện tích trồng cây lâu năm.

Vườn bưởi trồng theo hướng sạch của nhà bà Lệ.

Bà Phan Thị Đẹp - Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Diên Thọ cho biết, năm 2018, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Diên Khánh thực hiện Đề án “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp”, nhiều hội viên, phụ nữ có diện tích đất rộng có nhu cầu khởi nghiệp từ kinh tế vườn. Vì vậy, từ một nhóm nhỏ 5 thành viên, Hội Phụ nữ xã đã liên kết, thành lập “Nhóm phụ nữ khởi nghiệp từ vườn cây ăn quả”, tiếp nhận thêm 7 thành viên mới, nâng tổng số thành viên của nhóm lên 12 người, với tổng diện tích trồng trái cây sạch lên hơn 20ha. Sau khi thành lập, các thành viên trong nhóm được tổ chức hội tạo điều kiện cho vay vốn giải quyết việc làm, đầu tư thêm cho vườn cây ăn quả. Hiện nay, đã có nhiều vườn chuyển đổi sang trồng cây ăn quả cho thu hoạch khá.

Trái ngọt ban đầu

Vốn đầu tư sản xuất sạch của nhóm ban đầu khá lớn, hơn 1 tỷ đồng/20ha, song đến nay, có 12ha đã cho thu hoạch nên bắt đầu thu hồi vốn. Hàng năm, nhóm cung cấp ra thị trường hơn 23 tấn trái cây sạch các loại. Đặc biệt, từ tháng 5-2019, sản phẩm của nhóm được bán ở hệ thống Siêu thị Co.opmart Nha Trang. Đây là một bước phát triển của nhóm, khẳng định hướng đi đúng và giá trị của sản phẩm trái cây sạch được xã hội tin dùng.

Bà Võ Thị Lệ (thôn Phước Lương), thành viên của nhóm cho biết, tham gia chuyển đổi cây trồng, bà trồng được 50 gốc bưởi trên diện tích 2.500m2. Từ khi chuyển sang sản xuất sạch, dùng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học cải tạo đất, bà thấy được nhiều cái lợi. Đó là chất lượng bưởi nâng lên, da bưởi bóng đẹp hơn. Đặc biệt, cây bưởi sinh trưởng tốt, ra trái quanh năm. Đây là điều ít thấy khi bón phân hóa học. Từ đó thu nhập cũng tăng cao, nhưng cái lợi nhất là bảo vệ được môi trường, bảo vệ sức khỏe.

Bà Đẹp cho biết, khi đã tham gia vào nhóm, các hội viên đều phải chuyển sang sản xuất sạch. Các thành viên dùng phân chuồng mua từ các trại gà trên địa bàn xã, sử dụng các chế phẩm sinh học để chăm sóc cây, hạn chế dùng phân hóa học và thuốc trừ sâu để cải tạo đất, bảo vệ môi trường, tạo ra sản phẩm sạch cho cộng đồng. Các thành viên luôn đoàn kết, hỗ trợ nhau về kỹ thuật chăm sóc và tiêu thụ sản phẩm. Từ đó, trái cây bán ra nhiều hơn, được giá hơn, cải thiện thu nhập cho hội viên. Kết quả bước đầu của nhóm đã góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại địa phương, tạo điều kiện cho phụ nữ khởi nghiệp, tạo ra sản phẩm sạch cho người tiêu dùng, chống xói mòn đồi trọc, bảo vệ môi trường, giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi. Qua đợt kiểm tra 6 tháng đầu năm 2019, nhờ hoạt động hiệu quả nên nhóm đã được UBND tỉnh tặng bằng khen. Đây cũng là 1 trong 7 ý tưởng, sản phẩm khởi nghiệp được Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh đánh giá cao và trao chứng nhận, biểu dương tại “Ngày phụ nữ khởi nghiệp năm 2019”.

Thời gian tới, nhóm sẽ tiếp tục kết nạp thành viên mới, phát triển diện tích trồng cây ăn quả sạch, tạo thành vùng trồng cây ăn quả chuyên canh, mở rộng thị trường tiêu thụ trái cây sạch; đồng thời huy động thêm vốn để phát triển kết hợp dịch vụ du lịch sinh thái vùng quê, tham quan vườn cây và sử dụng sản phẩm trái cây sạch tại chỗ.

Minh Thiết

Tây Ninh: Giá gà tăng nhẹ, người nuôi vẫn chưa có lời

Nguồn tin: Báo Tây Ninh

Hiện giá gà công nghiệp đã tăng lên, người chăn nuôi tuy không còn lỗ nhưng vẫn chưa có lời.

Trại gà Phan Thanh Thúy nuôi gà Tam hoàng lạnh đã bị lỗ khoảng 1 tỷ do giá gà xuống thấp.

Người chăn nuôi lao đao

Theo thông tin từ một số trang trại, khoảng hơn một tuần nay, giá gà có dấu hiệu phục hồi. Cụ thể, giá gà công nghiệp tăng lên mức 24.000-25.000 đồng/kg bán tại trại, giá gà lông màu (gà ta, gà tam hoàng) từ 34.000 - 36.000 đồng/kg bán tại trại. Với mức giá này, người chăn nuôi tuy đã không còn lỗ nhưng vẫn chưa có lời. Giá gà phải tăng thêm từ 3.000 - 5.000 đồng/kg mới có lời.

Bà Minh, một hộ nuôi gà tại xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu (tỉnh Tây Ninh) cho biết, giá thịt gà tăng trở lại, có thể do nhu cầu tiêu thụ tăng, sau khi heo của các trang trại bán ra hết, người chăn nuôi không tái đàn vì ảnh hưởng của dịch tả heo châu Phi.

Trước đó, giá gà trên địa bàn tỉnh rớt thê thảm, gà lông trắng được thương lái thu mua với giá chỉ khoảng 14.000 -15.000 đồng/kg, gà lông màu cũng không khấm khá hơn, chỉ từ 21.000 - 26.000 đồng/kg, với mức giá này người chăn nuôi chịu lỗ khoảng 10.000 -11.000 đồng/kg.

Theo đó, trọng lượng tối đa đủ chuẩn của một con gà xuất bán là 2,5kg, tính ra mỗi con gà người chăn nuôi lỗ tới 20.000-22.000 đồng. Thậm chí, đối với loại gà trắng có trọng lượng quá khổ trên 3-4kg/con, giá bán chỉ 11.000 đồng/kg.

Anh Dương Quyền Trần Phú, quản lý 2 trại gà của Phan Thanh Thuý tại huyện Châu Thành cho biết, trung bình một lứa, trang trại nuôi khoảng 40.000 con với mức đầu tư khoảng 5 tỷ đồng. Nhưng trong đợt vừa qua, trang trại chỉ nuôi 22.000 con, đầu tư khoảng 2,5 tỷ đồng, giá gà xuống thấp làm trang trại bị ảnh hưởng nặng do vốn bỏ ra cao, lỗ 1 tỷ đồng.

Anh Phú cho biết thêm, mặc dù giá gà có dấu hiệu phục hồi, nhưng giá bán ngoài thị trường cao, ngoài ra, lượng thịt gà nhập khẩu và gà xuất bán với giá rẻ trước đó vẫn còn, nên cũng chưa “chạy hàng”. Trước đây mỗi ngày, trang trại xuất bán khoảng 7.000 con, hiện nay chỉ khoảng 1.000 con.

Giá thịt gà vẫn giữ mức cao

Gà rớt giá nhưng khi bán lẻ đến tay người tiêu dùng cũng không giảm nên không khuyến khích được sức mua. Tại các chợ trên địa bàn thành phố Tây Ninh, giá gà công nghiệp làm sẵn nhập về các chợ vào khoảng 40 - 45 ngàn đồng/kg, giảm khoảng 5.000 đồng/kg (nguyên con) so với cách đây gần 1 tháng. Tuy nhiên, giá thịt gà các loại như: đùi, cánh, ức gà... vẫn ở mức cao, không có nhiều biến động.

Cụ thể, giá thịt gà các loại như: đùi, cánh, ức gà... vẫn ở mức 40-60.000 đồng/kg. Tại các siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch, giá gà ta loại nguyên con hàng bình ổn thị trường 84.000 đồng/kg, gà ta mái 120.000 đồng/kg. Gà công nghiệp được pha lóc thành má đùi giá trung bình 45.000 đồng/kg; đùi góc tư giá khoảng 59.000 đồng/kg; đùi tỏi khoảng 77.000 đồng/kg, cánh gà khoảng 82.000 đồng/kg…

Giá gà tại các chợ không giảm, theo tiểu thương, do qua nhiều khâu trung gian.

Chị Thanh, một người bán gà làm sẵn tại chợ Tây Ninh cho biết: “Tôi nghe thông tin nói về giá gà hơi giảm một nửa so với trước đây. Nhưng hiện tôi vẫn mua loại gà này với 50.000-60.000 đồng/kg, sau đó về làm sạch thì phải tính công, cộng với chi phí vận chuyển, hao hụt nữa… nên phải bán ra giá 80.000 - 90.000 đồng/kg, tôi mới có lời được”.

Đầu ra khó, vẫn nuôi

Mặc dù giá gà chưa khởi sắc, đầu ra chưa ổn định nhưng một số hộ chăn nuôi đã bắt đầu chuyển sang nuôi gà ta vì cho rằng giá cả ổn định hơn, phù hợp với thói quen khẩu vị của đại đa số người dân. Gà ta được nuôi trong điều kiện chăn thả, thức ăn tự nhiên, thời gian nuôi lâu nên thịt dai, chắc hơn gà công nghiệp. Vì vậy, giá gà ta thường giữ ổn định, khoảng 65.000 - 70.000 đồng/kg bán tại trại.

Anh Đỗ Đăng Chinh - ngụ ấp Hiệp Phước, xã Hoà Thạnh, huyện Châu Thành cho hay, sau một thời gian nuôi gà tam hoàng, gà trắng cho lợi nhuận không cao, giá cả bấp bênh, vừa qua, gia đình anh quyết định nuôi thử nghiệm 5.000 con gà ta. Tuy nhận định giá cả gà ta ổn định, nhưng anh Chinh cũng chưa biết sẽ bán cho ai và giá thành thế nào, mà chỉ đặt niềm tin vào phía công ty cung cấp cám.

“Tôi chưa biết được bán ra thị trường nào nhưng do phía công ty cám bảo đảm bao tiêu đầu ra nên mới đánh liều thử nuôi. Lứa đầu tiên tôi chuyển đổi nên rất lo lắng, nhưng vẫn phải theo, tới lúc nào hay lúc đấy chứ cũng không nắm chắc được điều gì” - anh Chinh nói.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Nam Hùng, Trưởng trạm chăn nuôi thú y huyện Châu Thành khuyến cáo, trước tình hình chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, người dân nên thành lập hoặc tham gia vào các hiệp hội chăn nuôi, tổ hợp tác để chăn nuôi tốt, tìm được đầu mối tiêu thụ tốt hơn. Người dân cũng cần thận trọng khi tăng đàn, không nên chạy theo phong trào mà phải tìm hiểu kỹ thị trường trước khi đầu tư.

Vũ Nguyệt

Huyện Phụng Hiệp (Hậu Giang): Phát triển mô hình nuôi chồn hương

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Phong trào nuôi chồn hương đang phát triển mạnh ở xã Hiệp Hưng, huyện Phụng Hiệp (tỉnh Hậu Giang), do là loài động vật hoang dã cho giá trị kinh tế rất cao. Đây cũng là loài vật nuôi mà huyện Phụng Hiệp đang hướng địa phương phát triển để xây dựng mô hình mỗi xã một sản phẩm.

Ông Dũng đang thành công với mô hình nuôi chồn hương.

Từ một hộ nuôi, hiện nay xã Hiệp Hưng đã có gần 10 hộ nuôi loài động vật này. Chồn hương là loài dễ nuôi, ít bệnh, thức ăn đa phần là chuối chín, rau, củ, quả hay cá tạp… những loại rất dễ tìm, ít chi phí. Chồn con sau 1 năm nuôi sẽ cho sinh sản hoặc bán thịt. Trung bình một con chồn hương sinh sản, mỗi năm đẻ từ 2-4 con. Mỗi con chồn con được bán với giá 2,5 triệu đồng, riêng chồn thịt có giá 1,1 triệu đồng/kg. Ông Lê Quốc Dũng, ở ấp Long Phụng A, xã Hiệp Hưng, huyện Phụng Hiệp, cho biết từ một cặp chồn giống mua ở Sóc Trăng cách đây gần 15 năm, hiện nay gia đình đã có gần 50 cặp chồn bố mẹ. Hàng năm, bán giống và chồn thịt, gia đình ông thu về lợi nhuận gần 200 triệu đồng. Hiện tại, gia đình ông không chỉ bán ở địa phương mà còn bán ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Thành phố Hồ Chí Minh.

Tin, ảnh: DUY KHÁNH

Tái cơ cấu ngành chăn nuôi: Thúc đẩy phát triển bền vững

Nguồn tin: Hà Nội Mới

Ở thời điểm hiện tại, các sản phẩm của ngành chăn nuôi Việt Nam đã cơ bản cung cấp đủ cho thị trường trong nước và từng bước vươn ra thị trường quốc tế. Tuy nhiên, ngành này đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề nội tại như: Phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, sự mất cân đối trong cơ cấu sản xuất, dịch bệnh diễn biến phức tạp... Do vậy, tái cơ cấu ngành chăn nuôi là hết sức cần thiết để phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Chăn nuôi bò theo mô hình Organic của Vinamilk tại Tổ hợp trang trại công nghệ cao (tỉnh Thanh Hóa).

Mất cân đối trong cơ cấu vật nuôi

Sau 10 năm (2008-2018) thực hiện Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, ngành chăn nuôi của Việt Nam đã thực sự trở thành một ngành sản xuất hàng hóa với sản lượng thịt các loại đạt hơn 5,3 triệu tấn (giá trị tương đương 220.000-230.000 tỷ đồng). Mặt khác, ngành chăn nuôi đã chuyển dịch nhanh theo hướng sản xuất trang trại, công nghiệp (chiếm hơn 45% về quy mô và hơn 60% về sản lượng).

Tuy nhiên, ngành chăn nuôi của Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Ông Nguyễn Văn Long - Trưởng phòng Dịch tễ (Cục Thú y - Bộ NN&PTNT) cho biết, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt, bệnh Dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra ở 63 tỉnh, thành phố. Số lợn phải tiêu hủy lên tới 5,8 triệu con với tổng khối lượng 333.153 tấn.

Chính phủ đã phải hỗ trợ hơn 2.370 tỷ đồng cho các địa phương phòng, chống bệnh dịch này…

Khi bệnh Dịch tả lợn châu Phi xảy ra, hàng loạt hộ chăn nuôi nhỏ lẻ phải “treo chuồng”, dẫn tới thiếu nguồn cung thịt lợn, đẩy giá lợn hơi tăng lên hơn 70.000 đồng/kg. Và cũng có một thực tế khác là nhiều năm qua, ngành chăn nuôi luôn phải loay hoay với vòng luẩn quẩn “được mùa mất giá”, chịu tác động lớn của thị trường khi không ổn định được nguồn cung.

Mặt khác, Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 có chính sách hỗ trợ người chăn nuôi về vốn, đất đai, thị trường... Song, không phải ai cũng có thể tiếp cận được những chính sách này. Bà Nguyễn Thị Lan (xã Ba Trại, huyện Ba Vì) - một hộ chăn nuôi lợn cho biết: "Gia đình tôi và một số hộ nuôi lợn bị thiệt hại nặng do bệnh Dịch tả lợn châu Phi. Giờ muốn có vốn để chuyển đổi sang vật nuôi khác nhưng chưa biết vay ở đâu vì không có tài sản thế chấp... Đây là khó khăn rất lớn cho người chăn nuôi khi muốn chuyển đổi cơ cấu vật nuôi”.

Thực tế cho thấy, có rất nhiều vấn đề đang tác động lên ngành chăn nuôi. Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) Nguyễn Xuân Dương thông tin, Việt Nam đang mất cân đối trong cơ cấu vật nuôi khi tỷ lệ đàn lợn chiếm tới 70%, trong khi gia cầm 21%, gia súc ăn cỏ 9%. Ở các nước phát triển, chăn nuôi lợn chỉ từ 20 đến 25%, gia cầm 40% và gia súc ăn cỏ từ 30 đến 35%... Nhìn tổng quan hơn, Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2008-2018 chưa đánh giá đầy đủ vai trò của thị trường đối với sự phát triển của ngành hàng thịt lợn nói riêng và ngành chăn nuôi nói chung, cũng như yếu tố đất đai dành cho không gian chăn thả với chăn nuôi trâu, bò thịt... Đây cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng mất cân đối cung - cầu diễn ra trong thời gian qua.

Sản xuất theo nhu cầu thị trường

Hà Nội sẽ quy hoạch phát triển chăn nuôi theo vùng, xã trọng điểm, tập trung quy mô lớn, chú trọng phát triển giống vật nuôi để cung cấp cho thị trường. Ảnh: Bá Hoạt

Ðể ngành chăn nuôi phát triển bền vững, trước hết cần tháo gỡ những "nút thắt" nội tại. Và, tái cơ cấu ngành chăn nuôi là hết sức cần thiết, đặc biệt, cần hoàn thiện quy hoạch chăn nuôi trên cơ sở bảo đảm phát huy lợi thế của từng địa phương.

Về vấn đề này, Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi Nguyễn Xuân Dương cho biết, Cục Chăn nuôi đang hoàn thiện dự thảo Chiến lược định hướng phát triển chăn nuôi giai đoạn 2020-2030, tầm nhìn năm 2040 trình Bộ NN&PTNT phê duyệt. Theo đó, sẽ cơ cấu lại ngành chăn nuôi theo hướng giảm nuôi lợn, tăng chăn nuôi gia cầm, gia súc ăn cỏ (trâu, bò, dê, hươu, cừu…) với hình thức sản xuất trang trại, công nghiệp. Theo đó, tổng đàn lợn ổn định ở quy mô 30 triệu con, trong đó lợn nuôi trang trại, công nghiệp sẽ chiếm 70%. Đàn gia cầm sẽ tăng bình quân hơn 3%/năm. Thủy cầm ổn định khoảng 100 triệu con và nuôi theo hình thức công nghiệp chiếm 50%. Để đạt mục tiêu này, theo ông Nguyễn Xuân Dương, Bộ NN& PTNT và các địa phương sẽ rà soát lại cơ cấu vật nuôi trên địa bàn, định hướng phát triển những sản phẩm chăn nuôi gắn với tiềm năng, lợi thế, thích ứng với thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Trên cơ sở đó, khuyến khích người dân chăn nuôi theo hướng hữu cơ, xây dựng vùng chăn nuôi an toàn để kiểm soát dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm.

Từ góc độ của người sản xuất, ông Nguyễn Đại Thắng - Giám đốc Công ty cổ phần Trang trại Bảo Châu (huyện Sóc Sơn), cho rằng: Nhà nước cần có những quy định áp dụng về giá trần, giá sàn các sản phẩm chăn nuôi để ổn định thị trường tiêu thụ và hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến dự trữ thịt cấp đông theo chương trình dự trữ quốc gia. Cùng với đó là việc hoàn thiện và ban hành các quy định về tiêu chuẩn sản phẩm hữu cơ, tạo điều kiện cho các trang trại chăn nuôi an toàn sinh học bán được sản phẩm ra thị trường để nhân rộng mô hình này ở các địa phương. Với Hà Nội, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Nguyễn Huy Đăng cho biết, Hà Nội đã quy hoạch phát triển chăn nuôi theo vùng, xã trọng điểm, tập trung quy mô lớn. Bên cạnh đó, thành phố sẽ chú trọng phát triển giống vật nuôi để cung cấp cho thị trường Hà Nội và các tỉnh; đồng thời đẩy mạnh xây dựng chuỗi liên kết, xây dựng thương hiệu cho những sản phẩm có lợi thế của địa phương như: Gà đồi Ba Vì, gà đồi Sóc Sơn; vịt cỏ Vân Đình, gà mía Sơn Tây...

Theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường, thực hiện tái cơ cấu ngành chăn nuôi, Bộ sẽ phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp và người chăn nuôi triển khai có hiệu quả việc xây dựng các vùng an toàn dịch bệnh phục vụ sản xuất chăn nuôi, nhất là ở các vùng chăn nuôi hàng hóa trọng điểm, vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ xuất khẩu. “Bộ đã đề nghị các địa phương tạo thuận lợi cho chủ cơ sở chăn nuôi trang trại, quy mô lớn được ưu tiên giao đất, thuê đất với khung giá thấp và thời gian lâu dài. Đồng thời, xây dựng hạ tầng cho các cơ sở chăn nuôi giống, giết mổ, bảo quản, chế biến công nghiệp sản phẩm chăn nuôi nằm trong khu vực đã được quy hoạch…”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường thông tin.

Những giải pháp của Bộ NN&PTNT cũng như các địa phương đang tạo ra những điều kiện thuận lợi cũng như cơ chế phù hợp để thu hút doanh nghiệp đầu tư khoa học công nghệ, xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm... Đó sẽ cơ hội để thúc đẩy tái cơ cấu ngành chăn nuôi Việt Nam theo hướng tăng trưởng bền vững, đáp ứng được nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

NGỌC QUỲNH

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop