Tin nông nghiệp ngày 16 tháng 09 năm 2020

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 16 tháng 09 năm 2020

Chợ Gạo (Tiền Giang): Nông dân ứng dụng khoa học - kỹ thuật, khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp

Nguồn tin:  Cổng TTĐT tỉnh Tiền Giang

Những năm gần đây, huyện Chợ Gạo (tỉnh Tiền Giang) đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình cơ cấu lại sản xuất ngành nông nghiệp của huyện. Từ đó, đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập của người dân, từng bước đưa sản xuất nông nghiệp của huyện tăng trưởng nhanh, giá trị kinh tế nông nghiệp đạt cao, góp phần giảm nghèo hiệu quả, đời sống nông dân được nâng cao.

Hệ thống tưới nước tự động, tiết kiệm trong vườn thanh long leo giàn của anh Phạm Duy Khoa.

Hàng năm, bám sát vào yêu cầu thực tế phát triển kinh tế, xã hội, ngành chuyên môn huyện tổ chức trên 450 cuộc ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất. Các mô hình ứng dụng thí điểm đã từng bước đi vào sản xuất đại trà như mô hình quản lý bệnh đốm nâu trên thanh long, mô hình trồng thanh long leo giàn; mô hình tưới nước tiết kiệm, tưới nước tiên tiến; trồng khảo nghiệm giống thanh long vỏ vàng; sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn GAP; mô hình nuôi gà sử dụng đệm lót sinh học; mô hình chăn nuôi heo, gà trong trại lạnh, sử dụng máy ép phân,... tạo điều kiện cho người sản xuất tiếp cận những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất. Những thành tựu khoa học và công nghệ cùng với các chính sách đổi mới đã góp phần đưa các sản phẩm nông nghiệp tăng lên cả về năng suất lẫn chất lượng, nâng khả năng cạnh tranh ngày càng cao của hàng hóa nông sản.

Ứng dụng hệ thống tưới nước tự động, tiết kiệm trong vườn thanh long leo giàn của gia đình từ năm 2018 đến nay, anh Phạm Duy Khoa, ấp Bình Phú, xã Bình Phục Nhứt rất tâm đắc với hệ thống này, vì đã giúp gia đình anh giảm nhiều chi phí trong sản xuất thanh long như giảm lượng phân bón, giảm chi phí nhân công, tiết kiệm thời gian và tiết kiệm nước tưới.

Là người thi công hệ thống tưới nước tại các vườn thanh long trong và ngoài huyện, anh Khoa đúc kết nhiều kinh nghiệm và tiến hành lắp đặt hệ thống tưới tự động cho vườn thanh long của mình. Hệ thống tưới tự động, tiết kiệm nước tại vườn thanh long của anh được thiết kế 3 tầng. Tầng trên cùng là hệ thống các péc tạo mưa nhân tạo, phun sương dùng để tưới nước cho vườn thanh long, xả thuốc vuốt que, tưới thuốc. Tầng giữa là hệ thống péc dùng để tưới thuốc vườn thanh long. Tầng cuối cùng là hệ thống các péc dùng để tưới nước, tưới phân cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng. Anh Khoa cho biết, để nâng cao năng suất, chất lượng trái thanh long, gia đình anh đầu tư gần 100 triệu đồng thiết kế hệ thống tưới tự động này. Hệ thống tưới tự động, tiết kiệm đi vào hoạt động giúp gia đình anh giảm gần một nửa lượng phân bón cho cây trồng nhưng năng suất vườn thanh long vẫn không thay đổi. Với vườn thanh long rộng 4.000m2, anh chỉ mất khoảng 15 phút để hoàn thành việc tưới nước trong khi nếu thực hiện hình thức tưới thủ công thì phải mất thời gian gần nửa ngày để thực hiện công việc này. Đặc biệt, thời điểm hạn, mặn diễn biến phức tạp trong thời gian qua, vườn thanh long của gia đình anh vẫn phát triển tốt nhờ hệ thống tưới tự động và tiết kiệm.

Nhận thấy hiệu quả của hệ thống tưới nhỏ giọt khi tham quan các vườn thanh long tại xã Quơn Long và các vườn thanh long tại tỉnh Long An, ông Mai Văn Gàn, ấp Bình Khương II, xã Bình Phục Nhứt đã áp dụng mô hình này cho vườn thanh long rộng 5.500 m2 của gia đình. Ông Gàn cho biết, sau 2 năm trồng thanh long ruột đỏ, ông đầu tư kinh phí trên 40 triệu đồng lắp đặt hệ thống péc, dây theo ống để thực hiện tưới nhỏ giọt cho vườn thanh long. Theo ông Gàn, hệ thống tưới này dùng để tưới phân, thuốc dưỡng rễ cho cây. Với cách làm này, ông tiết kiệm rất nhiều công lao động, thời gian tưới rút ngắn chỉ còn khoảng 45 phút thay vì 4 - 5 tiếng khi thực hiện bằng cách tưới thủ công. Lúc hạn, mặn vừa qua, vườn thanh long của ông chỉ cần khoảng 3.000 lít nước là đã hoàn thành việc tưới tiêu cho vườn thanh long, nước tưới thấm nhanh vào gốc, không lan ra đất trống và bón phân cho thanh long cũng đạt hiệu quả cao. Hơn nữa, với hệ thống tưới nước này, từng gốc thanh long được cung cấp nước đầy đủ, lượng phân dễ dàng hấp thụ vào cây. Qua đó, năng suất đạt khá cao. Bên cạnh ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt trong vườn thanh long, ông Gàn còn thực hành sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn VietGAP và sử dụng phân hữu cơ bón cho cây thanh long. Nhờ vậy, hàng năm, vườn thanh long của gia đình ông thu hoạch 20 tấn trái, đem lại nguồn thu nhập khá cho gia đình.

Với những hiệu quả thiết thực của việc ứng dụng khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, nông dân trên địa bàn huyện Chợ Gạo từng bước nâng dần giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện. Hiện tại, 100% hộ sản xuất nông nghiệp đã sử dụng máy phun thuốc; áp dụng mô hình tưới phun, tưới nhỏ giọt có trên 25% diện tích; sử dụng bóng đèn compact trong xử lý ra hoa trái vụ có trên 80% hộ thực hiện. Về mô hình ứng dụng công nghệ cao trên cây thanh long, trên địa bàn huyện có 50 ha trồng thanh long leo giàn, tưới nước tiết kiệm. Khảo nghiệm giống mới trên thanh long được 5 ha thanh long vỏ vàng, hiệu quả ban đầu cho trái đẹp, sai trái, sinh trưởng, phát triển tốt. Ngoài ra, nông dân trong huyện sử dụng phân hữu cơ chiếm 70% lượng phân bón; thực hiện trồng rau trong nhà lưới, nhà màng thủy canh, dưa lưới được 3,2 ha; ứng dụng hệ thống tưới nước tự động, điều khiển từ xa trong thanh long ngày càng nhiều…

Với kết quả đạt được từ những mô hình áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đã góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân trên cùng một đơn vị diện tích, giảm thiểu ô nhiễm môi trường... Thời gian tới, huyện tiếp tục triển khai thực hiện tốt các cơ chế hỗ trợ áp dụng khoa học - kỹ thuật, khoa học - công nghệ mới để phát triển sản xuất. Cùng với đó, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan tăng cường hoạt động tập huấn, tổ chức hội nghị đầu bờ đưa các giống cây trồng, vật nuôi mới... giúp nông dân ứng dụng hiệu quả khoa học - kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập.

Ngọc Xuyên

Để mở rộng diện tích tưới tiết kiệm

Nguồn tin:  Báo Lâm Đồng

Để nâng cao hiệu quả diện tích các loại cây trồng áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm, các vùng nông nghiệp Lâm Đồng cần được hỗ trợ nhiều hơn nữa những nhóm giải pháp tín dụng, liên kết sản xuất, gia tăng giá trị hàng hóa nông sản, khuyến khích ngày càng nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình mở rộng đầu tư…

Công nghệ tưới tiết kiệm đã giảm đến 30% lượng phân bón cung cấp cho cây trồng công nghệ cao ở Lâm Đồng

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng, đến nay, tổng diện tích tưới tiết kiệm tại các vùng nông nghiệp trên địa bàn khoảng 37.900 ha. So sánh tăng 17.841 ha diện tích tưới tiết kiệm so với năm 2015, tương ứng tăng bình quân mỗi năm khoảng 3.500 ha.

Trong đó phổ biến các loại hình tưới tiết kiệm như: tưới phun mưa (2.070 ha rau, 1.048 ha hoa, 14.600 ha cà phê, 4.600 ha chè, 702 ha cây ăn quả, 100 ha cỏ chăn nuôi, 55 ha dâu tằm); tưới phun sương tiết kiệm trong nhà lưới, nhà kính (rau màu 13.123 ha, hoa 1.043 ha); tưới thủy canh hồi lưu (50 ha); tưới nhỏ giọt (500 ha)…

Tính chung toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có gần 60.000 ha diện tích cây trồng ứng dụng công nghệ cao, trong đó đạt tỷ lệ 20% diện tích áp dụng công nghệ tưới tiên tiến tiết kiệm. Ngoài 2 vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã được UBND tỉnh Lâm Đồng công nhận (Thái Phiên, Vạn Thành, thành phố Đà Lạt), hiện nay Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng đang hỗ trợ hướng dẫn các địa phương lập hồ sơ đề nghị công nhận 3 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, gồm 2 vùng sản xuất rau tại xã Xuân Thọ - Đà Lạt; xã Lạc Xuân - Đơn Dương và 1 vùng sản xuất sầu riêng ứng dụng công nghệ cao tại xã Hà Lâm, huyện Đạ Huoai…

Qua rà soát cho thấy, với các giải pháp chủ động tưới tiêu khác nhau, toàn tỉnh Lâm Đồng hiện đạt diện tích cây trồng được tưới 164.031 ha/258.317 ha, bằng tỷ lệ 63,5% trên tổng diện tích. Bên cạnh những diện tích gieo trồng được chủ động tưới từ hệ thống công trình thủy lợi (chiếm 23,13% so với diện tích cần tưới); số diện tích gieo trồng được tưới còn lại (93.686 ha) do người dân tự khai thác nguồn nước từ các sông suối, khe lạch, ao, hồ nhỏ và các nguồn nước khác để bơm tưới, nên vào những năm thời tiết hạn hán kéo dài, thiếu nước tưới, dẫn đến nhiều loại cây trồng giảm năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế…

“Lâm Đồng là tỉnh đi đầu trong cả nước áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm vào sản xuất nông nghiệp ở các vùng trồng rau, hoa thành phố Đà Lạt và các huyện phụ cận như Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Lạc Dương. Về công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cũng rất đa dạng như: Béc tưới tự động và hệ thống dẫn nước tưới tự động nhập khẩu chủ yếu từ Israel, Úc, Tây Ban Nha, Hà Lan, Hoa Kỳ…”, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng đánh giá. Theo đó, từ năm 2015 đến nay, Lâm Đồng có gần 45 hợp tác xã nông nghiệp áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước với tổng diện tích khoảng 6.977 ha. Bên cạnh đó, có khá nhiều doanh nghiệp như: Lang Biang Farm, Rừng Hoa, Biofresh, Trường Hoàng, Vincom, Công ty TNHH Đà Lạt GAP… đầu tư mở rộng hệ thống tưới phun mưa và tưới nhỏ giọt tự động tiên tiến nhất từ các nước Israel, Úc, Tây Ban Nha, Hà Lan, Hoa Kỳ… để sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Dây chuyền, thiết bị vận hành tự động dẫn nước vào bể chứa thông qua hệ thống lọc rồi bơm vào hệ thống ống dẫn đến các khu vườn. Tùy vào từng giống cây trồng và giai đoạn sinh trưởng cần bao nhiêu lượng nước, phân bón được các chuyên gia lập trình sẵn trong máy tính, khi cây trồng có nhu cầu, máy tự động phun nước và tưới phân bón nhỏ giọt phù hợp. Đặc biệt qua ứng dụng hệ thống cảm biến IoT điều chỉnh ánh sáng, ẩm độ đất, ẩm độ không khí để điều chỉnh quy trình phân bón, tưới nước, hệ thống phun thuốc tự động cho cây trồng, nhiều doanh nghiệp, đơn vị kinh tế tập thể và hộ gia đình ở Lâm Đồng đã giảm được ít nhất tỷ lệ 30% lượng phân bón, 30-50% lượng nước tưới so với biện pháp tưới thông thường…

Theo nhận định của người dân và các doanh nghiệp, hợp tác xã, việc đầu tư hệ thống công nghệ hiện đại, không chỉ đạt hiệu quả tiết kiệm nước và phân bón từ 30-50% nói trên, mà còn giảm đáng kể công chăm sóc, chi phí quản lý vận hành, thuận tiện cho việc cơ giới hóa và tự động hóa trong sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng, tăng chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập của người dân, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước góp phần bảo vệ môi trường, tránh được xói mòn rửa trôi đất trong khu vực canh tác.

Bởi vậy, ngành nông nghiệp Lâm Đồng cần tiếp tục rà soát, đánh giá hiệu quả công nghệ tưới tiết kiệm trên từng vùng sinh thái, phù hợp với từng đối tượng cây trồng khác nhau, từ đó đề xuất triển khai các giải pháp chính sách phát huy nội lực, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình... mở rộng đầu tư chuyên canh sản xuất, ứng dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm, đảm bảo nguồn nước tưới quanh năm cho các loại cây trồng có lợi thế, có giá trị kinh tế cao trên địa bàn.

VĂN VIỆT

Làm giàu từ mô hình trồng cây ăn quả

Nguồn tin: Báo Bắc Kạn

Anh Phùng Văn Đại ở thôn Bản Hon, xã Bành Trạch (Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn) đã thành công với mô hình trồng cây ăn quả, đem lại nguồn thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Anh Đại cho biết: Hiện hồng không hạt bắt đầu bước vào thời gian thu hoạch, quả đã già, sâu hại cũng nhiều hơn cần phải tăng cường các biện pháp phòng trừ. Để đảm bảo chất lượng quả, gia đình anh hoàn toàn không sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, thay vào đó là dùng các loại bẫy để diệt các loại côn trùng như: ruồi vàng, ong châm, sâu, nhện hại quả...

Anh Phùng Văn Đại (đứng phía sau) thành công với mô hình trồng cây ăn quả.

Những cây hồng không hạt được trồng cách đây hơn 10 năm, nhờ được chăm sóc kỹ nên cây phát triển tốt, không mắc bệnh hại và rất sai quả. Nhớ lại ngày đầu mới trồng những cây đầu tiên ở đây, anh cho biết: Năm 2006, sau khi học hỏi tại các nhà vườn, anh chọn đưa giống hồng Đà Lạt về trồng. Tuy nhiên, chỉ sau một năm cây kém phát triển và chết lụi. Rút kinh nghiệm, anh đi tìm giống hồng bản địa ở Ba Bể, đặt hàng chiết cành rồi đưa về vườn. Chỉ sau hơn 2 năm cây bói quả và bắt đầu cho thu hoạch. Đến năm 2011, anh quyết định trồng thêm 300 cây. Do đã học hỏi được kinh nghiệm, cùng với chất đất và khí hậu thuận lợi, anh áp dụng kỹ thuật mới để tích cực chăm sóc.

Khi cây hồng phát triển ổn định, anh trồng xen thêm táo, ổi với số lượng khoảng 200 cây. Xác định gắn bó với nghề trồng cây ăn quả nên gia đình anh Đại lựa chọn phương thức canh tác theo hướng hữu cơ. Không sử dụng thuốc diệt cỏ, hằng tháng anh sử dụng máy phát, gom cỏ ủ làm phân xanh. Tận dụng phân chuồng đã ủ hoại mục để chăm bón cho cây. Đảm bảo cho đất trồng, nguồn nước tưới không bị ô nhiễm, không ảnh hưởng tới sức khỏe.

Với bản tính chịu khó và khát vọng làm giàu, năm 2017, anh Đại mạnh dạn mua thêm 1,3ha đất đồi bãi ở khu kinh tế Pù Đồn để trồng thêm 300 cây mận sớm, 50 cây cam và gần 100 cây mít thái. Hiện, mỗi năm gia đình anh thu hoạch được khoảng 16 tấn quả các loại, trong đó giá bán bình quân của hồng không hạt là 22.000 đồng/kg; mận là 20.000 đồng/kg và ổi là 25.000 đồng/kg... Ngoài trồng cây ăn quả, gia đình anh nuôi thêm gà thả đồi, đầu tư nuôi trâu sinh sản để tăng thu nhập. Từ trồng cây ăn quả và chăn nuôi mỗi năm gia đình anh có thu nhập gần 300 triệu đồng.

Không chỉ làm kinh tế giỏi, anh Đại còn tích cực tham gia các hoạt động, phong trào do xã, thôn phát động. Đồng thời, tích cực chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm sản xuất với mọi người. Hiện anh đang kết nối với các mô hình khác ở địa phương lân cận, hướng đến thành lập một nhóm sở thích về trồng cây ăn quả.

Ông Mã Văn Hoành, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Bành Trạch cho biết: từ một hộ nghèo, ít đất canh tác, anh Phùng Văn Đại đã vươn lên làm giàu, trở thành tấm gương điển hình trong phong trào phát triển kinh tế. Mô hình của anh là hướng đi hiệu quả, các cấp Hội tích cực động viên bà con đến tham quan, học tập, để cùng nhau làm giàu trên chính mảnh đất quê hương./.

Thu Hường

Giá rẻ ê chề, lại bắt đầu 'giải cứu' bơ booth

Nguồn tin: Tuổi Trẻ

Từ giá hơn 150.000 đồng/kg, đến nay bơ booth tại vườn chỉ còn 4.000-10.000 đồng/kg tùy loại - mức thấp kỷ lục trong nhiều năm qua, và đang phải bán dưới dạng "giải cứu" vì sản lượng nhiều nhưng không mấy ai mua.

Những đống bơ booth được anh Thành thu gom để chờ "giải cứu" - Ảnh: A.M.

Thời điểm này, trên Hoàng Hoa Thám (đoạn qua Q.Bình Thạnh, TP.HCM) có nhiều sọt bơ kèm bảng hiệu "giải cứu bơ booth" giá 20.000 đồng/kg.

Trao đổi với Tuổi Trẻ Online ngày 14-9, anh Nguyễn Đức Thành - chủ chuỗi cà phê AM Café (TP.HCM) - cho biết anh lấy bơ tại huyện Di Linh (tỉnh Lâm Đồng) và bán với mục đích hỗ trợ nông dân vì thương lái không mua, đang phải đổ bỏ.

Theo anh Thành, các năm trước bơ booth có thời điểm lên đến 150.000 đồng/kg, năm ngoái xuống còn 50.000 đồng, năm nay chỉ còn bình quân 7.000-10.000 đồng/kg nhưng thương lái chê.

Đến nay sau vài ngày "giải cứu", anh Thành cho biết đã bán được hơn 3 tấn. Tuy vậy, lượng bơ còn rất nhiều, cần cộng đồng chung tay hỗ trợ. Khách hàng nào lấy lượng nhiều, anh sẽ giảm giá bơ còn 12.000-15.000 đồng/kg.

"Mùa bơ còn khoảng hơn 1 tháng nữa nên lượng trái trên cây còn nhiều. Do đó, nếu không kịp thời hỗ trợ bán bơ giải cứu giúp bà con nông dân, nhiều gia đình sẽ khốn khổ", anh Thành nhận định.

Bơ booth được "giải cứu" tại quán cà phê - ẢNH: NGUYỄN TRÍ

Thông tin từ nhiều nhà vườn tại tỉnh Đăk Lăk cũng cho biết mùa bơ booth đã bắt đầu khoảng gần 1 tháng nay và giá rớt liên tục. Hiện giá bơ bán ra tại vườn chỉ dưới 10.000 đồng/kg, thậm chí loại nhỏ chỉ 4.000 - 5.000 đồng/kg - giá rẻ kỷ lục trong nhiều năm qua, khiến nhiều nhà vườn thua lỗ nặng.

Với nguồn nhiều và giá rẻ, nhiều tài khoản rao bán bơ booth trên mạng với giá 20.000-25.000 đồng/kg, và khẳng định khẳng "không đâu rẻ hơn".

Bơ booth đã được nông dân huyện Di Linh thu hoạch nhiều nhưng đang khó bán - ẢNH: A.M.

Trao đổi với báo Tuổi Trẻ Online ngày 14-9, đại diện Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đăk Lăk xác nhận giá bơ booth bán ra trên địa bàn đang ở mức thấp kỷ lục.

Theo vị này, ngoài ảnh hưởng của dịch COVID-19, xuất khẩu không được, việc phát triển vùng trồng ào ạt tại khu vực Tây Nguyên khi thấy giá bơ booth neo cao vài năm gần đây cũng góp phần kéo giá giảm nhanh.

NGUYỄN TRÍ

Lão nông mở hướng trồng rau VietGAP trong nhà kính

Nguồn tin: Báo Lâm Đồng

Vườn rau công nghệ cao 5.000 m2 được trồng theo tiêu chuẩn VietGAP của gia đình ông Phạm Xuân Khoa (thôn Sê Đăng, N’Thôl Hạ, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng), có liên kết với công ty mỗi tháng cung ứng 9 tấn hàng được bán với giá cao.

Diện tích 5.000 m2 rau công nghệ cao đem lại lợi nhuận 400 triệu đồng/năm cho gia đình ông Phạm Xuân Khoa

Sự năng động và tư duy đổi mới không hẳn là “độc quyền” của giới trẻ. Lão nông Phạm Xuân Khoa đã chứng minh điều đó khi bắt đầu ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp để nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm, khi đã ở tuổi 60.

Ông cho biết, ở xã N’thôl Hạ người dân chủ yếu trồng cà phê, vào những năm 2008, khi giá cà phê xuống thấp, diện tích thì già cỗi, tôi bàn bạc với gia đình phá bỏ vườn cà phê này để chuyển sang trồng rau màu. Trồng được một khoảng thời gian, nhận thấy rau màu trồng ngoài trời phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, đến năm 2012, tôi đầu tư nhà kính để trồng rau theo hướng công nghệ cao. Ban đầu diện tích nhà kính này còn rất sơ sài, chỉ có tác dụng che mưa gió. Sau nhiều năm làm ăn có lợi nhuận, vào năm 2014, tôi quyết định đầu tư bài bản hơn, toàn bộ vườn rau của tôi được bao bọc kĩ bằng màng nhà kính do hãng Ginegar (Israel) sản xuất, vừa ngăn cản côn trùng vào gây hại vườn rau, vừa đảm bảo những điều kiện cần thiết về độ ẩm, ánh sáng, bên cạnh đó hệ thống tưới nước nhỏ giọt và trồng cây trên giá thể giúp rau sinh trưởng, phát triển tốt. Tổng mức đầu tư ban đầu khoảng 2,5 tỷ đồng.

Mô hình rau VietGAP của ông Khoa được Dự án Xây dựng và Kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm (FAPQDC) do Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) tài trợ. Qua đó, đã góp phần cải thiện đáng kể chất lượng, an toàn và khả năng tiếp cận thị trường của nông sản thực phẩm tại Việt Nam; lợi nhuận của người nông dân tăng thêm từ 5-10%.

Ông Khoa chia sẻ: “Với nền tảng trồng nhà kính lâu năm và được tập huấn quy trình kỹ thuật sản xuất rau an toàn, tôi phải tuân thủ quy trình ghi nhật ký cho rau, ngày trồng, ngày bón phân hay bơm thuốc đều phải được ghi lại tỉ mỉ để có thể truy xuất nguồn gốc rau quả. Tuy cực nhưng theo ông Khoa, hiệu quả làm rau theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp rất cao. Lúc đầu ông còn phân vân và nghĩ rằng sản xuất rau VietGAP hạn chế sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu nên năng suất thấp. Nhưng khi sản xuất vụ đầu tiên thì rau VietGAP cho năng suất tương đương rau thông thường. Những vụ sau có kinh nghiệm, năng suất còn cao hơn rất nhiều. Không những thế, làm rau VietGAP còn giảm chi phí sản xuất. Thời gian cách ly sau khi bón phân, phun thuốc từ 10-15 ngày mới thu hoạch nên chất lượng rau đảm bảo an toàn. Tôi đã tạo nên những luống rau xanh tươi, đảm bảo chất lượng đặc biệt”.

Thông qua ghi chép thường xuyên, dưới sự hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, đánh giá, kiểm tra chất lượng từ Công ty Phong Thúy, người nông dân luôn có những điều chỉnh kịp thời, để cung cấp cho thị trường sản phẩm an toàn nhất. Theo lịch vụ, tùy nhu cầu của thị trường, các diện tích trồng trọt sẽ luân canh, mùa nào thức nấy. Ông Khoa cho biết, kể cả những lúc nông sản rớt giá thì nông dân tham gia hệ thống với công ty cũng được đảm bảo không bị lỗ vốn, bởi có sự đảm bảo đầu ra do liên kết tiêu thụ sản phẩm. Thêm vào đó, Công ty Phong Thúy cũng trực tiếp thu mua tại vườn, không qua trung gian, do đó vừa đỡ kinh phí, vừa tạo cho người nông dân có đầu ra ổn định.

Do trồng kiểu cuốn chiếu nên sản lượng và thu nhập của gia đình ổn định khi không tốn nhiều công chăm sóc, với diện tích 5.000 m2, ông Khoa xuất bán bình quân mỗi ngày 3 tạ rau, lợi nhuận thu về khoảng 400 triệu đồng/năm.

Hiện nay việc áp dụng VietGAP giúp nông dân không những tăng năng suất nhờ vào các kỹ thuật canh tác mà còn giúp đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Ông Lê Bá Dương, Phó Chủ tịch UBND xã N’thôl Hạ, ghi nhận, thực tế, từ nhiều năm nay, trồng rau trong nhà kính đã được nhiều hộ dân ở các địa phương lựa chọn để phát triển kinh tế. Hộ ông Phạm Xuân Khoa là người tiên phong trồng rau VietGAP trong nhà kính.

Chính quyền xã N’thôl Hạ đánh giá rất cao mô hình này, qua đó cũng đã mở ra hướng làm ăn cho nhiều hộ dân nơi đây chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đầu tư nhà kính trồng rau, hoa với quy mô lớn hơn để có thu nhập, nâng cao đời sống gia đình. Xã tiếp tục vận động Nhân dân chuyển đổi cây trồng, đồng thời giúp người dân tìm kiếm, mở rộng thị trường, đảm bảo tiêu thụ rau, củ, quả một cách tốt nhất. Để từ đó, góp phần tạo thế đa cây trồng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

HOÀNG YÊN

Tuyên Quang: Thâm canh tăng năng suất mía ở Sơn Dương

Nguồn tin: Báo Tuyên Quang

Vùng mía nguyên liệu của huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) hiện còn 1.483 ha mía, giảm 628 ha so với năm 2019, gây khó khăn cho việc cung ứng nguyên liệu cho Công ty cổ phần Mía đường Sơn Dương. Khắc phục tình trạng này, Công ty đã phối hợp với các địa phương đẩy mạnh đầu tư thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng mía.

Trong số 1.483 ha mía toàn huyện có 34 ha mía trồng mới, trồng lại 155 ha, còn lại là mía lưu gốc. Nguyên nhân làm cho diện tích, năng suất, chất lượng mía nguyên liệu giảm là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 tiêu thụ đường kính gặp khó khăn nên giá mía nguyên liệu giảm, người dân không mặn mà với việc mở rộng diện tích cũng như thâm canh tăng năng suất. Giá mía niên vụ 2019 - 2020 giảm từ 900 xuống còn 800 đ/kg. Một số hộ có diện tích trồng mía lớn do thiếu lao động sản xuất nên đã thay đổi cơ cấu cây trồng. Bên cạnh đó, tình hình thời tiết khắc nghiệt cũng làm cho chất lượng mía giảm sút, trữ lượng đường bình quân toàn vùng đạt khoảng 11 CCS. Do vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập của người trồng mía và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.

Cán bộ nông vụ Công ty cổ phần Mía đường Sơn Dương (bên phải) kiểm tra chất lượng giống mía KK3 tại thôn Trại Mít, xã Hào Phú.

Trước thực trạng trên, Công ty cổ phần Mía đường Sơn Dương đã phối hợp với chính quyền huyện Sơn Dương thực hiện nhiều giải pháp để ổn định diện tích, áp dụng các biện pháp sử dụng cơ giới hóa đồng bộ và giảm giá thành trong sản xuất. Niên vụ mía năm 2019 - 2020, Công ty đã tích cực đưa các giống mía mới có chất lượng cao như KK3, LK9211, QT1 thay thế cho các giống mía cũ. Đến nay, toàn huyện đã trồng được 300 ha mía KK3, 250 ha mía LK9211, 50 ha QT tập trung ở các xã Trung Yên, Đại Phú, Tam Đa, Đội sản xuất 13, 12 của Công ty... Ngoài ra, để nâng cao năng suất mía, Công ty đã áp dụng mô hình 15 ha mía trồng bằng phương pháp cuốc hố ở các xã Bình Yên, Thượng ấm... Theo đánh giá ban đầu, đây là mô hình tốt, cây mía sinh trưởng phát triển tốt, giữ độ ẩm cao, hạn chế xói mòn đất và chất dinh dưỡng của mía, có thể nhân rộng trong niên vụ tới.

Vụ trồng mía năm 2020, gia đình bà Bùi Thị Mãn, thôn Trại Mít, xã Hào Phú được Công ty cổ phần Mía đường Sơn Dương hỗ trợ 0,5 ha giống mía KK3. Bà Mãn cho biết, niên vụ 2018 - 2019 gia đình đã trồng 1 ha mía MI nhưng năng suất chỉ đạt 70 tấn/ha. Năm nay, gia đình bà phá bỏ 0,5 ha mía cũ trồng giống KK3 theo mô hình mía hố. Cây mía hiện phát triển tốt hơn, ít sâu bệnh, cây khỏe đều, chi phí đầu tư mía giống lại giảm được 30%, vụ mía năm nay ước đạt 85 tấn/1ha.

Để nâng cao năng suất, chất lượng mía nguyên liệu, UBND huyện đã có các văn bản đề nghị Công ty cổ phần mía đường Sơn Dương, UBND các xã vùng nguyên liệu mía thực hiện các biện pháp thâm canh, chăm sóc mía. Gia đình ông Ngô Lương Sự, thôn Cây Thông, xã Đại Phú, từ niên vụ năm 2019 - 2020 đã áp dụng thâm canh 2 ha mía. Thực tế sản xuất cho thấy, diện tích mía thực hiện các biện pháp thâm canh cho năng suất, chất lượng mía cao hơn hẳn, bình quân đạt 85 tấn/ha, cao hơn từ 15 đến 20 tấn/ha. Ông Sự cho biết, từ việc thử nghiệm thâm canh niên vụ trước, năm nay gia đình tập trung thâm canh 2 ha mía lưu gốc ngay từ đầu vụ, sử dụng cơ giới hóa khâu làm đất, chăm sóc. Ước tính năng suất mía của gia đình ông năm nay đạt 90 tấn/ha.

Ông Nguyễn Văn Nguyên, Phó trưởng Phòng nguyên liệu, Công ty cổ phần Mía đường Sơn Dương cho biết, cùng với chính sách hỗ trợ phát triển vùng mía thâm canh của huyện, Công ty sẽ tiếp tục đẩy mạnh cơ giới hóa vào sản xuất, đưa máy bốc mía vào sử dụng, phun thuốc bằng máy bay giảm sức lao động cho người dân. Hiện nay, công ty đã thử nghiệm thành công mô hình tưới nước bằng pép quay, tuy nhiên do chi phí đầu tư quá lớn và phụ thuộc vào địa hình nên chưa thể mở rộng được quy mô. Công ty sẽ thực hiện tốt các chính sách đầu tư về giống, vật tư phân bón và kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây mía, chú trọng việc đưa các giống mía mới có năng suất cao vào trồng đại trà, tăng giá thu mua mía nguyên liệu năm 2020 lên 850 đ/kg tạo sự yên tâm cho người trồng mía.

Bài, ảnh: Lý Thu

Lúa chất lượng cao, hữu cơ khó đầu ra

Nguồn tin: Báo Thừa Thiên Huế

Hình thành vùng chuyên canh cây lúa chất lượng cao, hữu cơ, liên kết sản xuất là hướng đi bền vững cho người nông dân. Tuy nhiên, thị trường đầu ra còn bấp bênh, thiếu ổn định là một trong những khó khăn cho nhiều đơn vị sản xuất hiện nay.

Sản xuất gạo hữu cơ tại HTX kinh doanh, dịch vụ NN An Lỗ

Khó tìm thị trường

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có khoảng 4.000 ha lúa sản xuất theo mô hình hữu cơ, chất lượng cao, tập trung nhiều ở các huyện Phú Vang, Quảng Điền, Phong Điền. Tuy nhiên, sản phẩm đang gặp khó khăn khi đưa ra thị trường.

HTX NN Thủy Thanh (xã Thủy Thanh, huyện Hương Thủy) là đơn vị tập trung sản xuất lúa giống, lúa chất lượng với diện tích chiếm khoảng 80% diện tích ruộng lúa canh tác. Hàng năm, đơn vị liên kết với Công ty Giống cây trồng và vật nuôi tỉnh đưa nhiều giống lúa mới vào khảo nghiệm, sản xuất, nhằm nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm.

Sau nhiều năm đưa vào sản xuất các giống mới, lựa chọn, hiện chỉ có giống lúa chất lượng cao J02 (Nhật Bản) sản xuất 120 ha tại HTX Thủy Thanh là đã có chỗ đứng trên thị trường với tên gọi Gạo Thơm Thủy Thanh.

Theo ông Phùng Hữu Thạnh, Giám đốc HTX NN Thủy Thanh, các giống KH1, HN6, TBR45 từ năm 2015 HTX NN Thủy Thanh đã đưa vào sản xuất khoảng hơn 50 ha. Tuy nhiên, sau một thời gian sản xuất, các giống lúa này bộc lộ nhiều nhược điểm như chỉ thích ứng với từng mùa vụ, xuất hiện sâu bệnh, đổ ngã, năng suất chỉ bằng 70% giống lúa chủ lực (Khang Dân 18). Khi đưa ra thị trường, các thương lái đều áp giá như các loại thóc khác nên các HTX, đơn vị sản xuất đều thua lỗ, dần không đưa vào cơ cấu nữa.

Không chỉ các giống lúa mới, lúa sản xuất theo mô hình hữu cơ cũng khó tiêu thụ do sản xuất theo mô hình hữu cơ đòi hỏi quy trình nghiêm ngặt, giá lúa cao nên khó cạnh tranh trên thị trường.

Năm 2016, mô hình sản xuất lúa hữu cơ bắt đầu được triển khai trên diện tích trồng lúa truyền thống tại xã Phong Hiền (Phong Điền) và giao cho HTX kinh doanh, dịch vụ NN An Lỗ thực hiện.

Từ diện tích ban đầu 8 ha/vụ, đến nay, HTX đã phát triển lên 16 ha/vụ, mỗi năm cung ứng ra thị trường gần 40 tấn gạo hữu cơ. Nhiều năm nay, việc sản xuất gạo hữu cơ tại HTX này không thể mở rộng diện tích hơn được do sản phẩm đưa ra thị trường vẫn chưa được đón nhận rộng rãi. Hiện tại, ngoài quầy bày bán tại cửa hàng HTX, đơn vị này có đưa vào TP. Huế bán một số điểm nhưng số lượng không lớn.

Ông Nguyễn Ba, Giám đốc HTX kinh doanh, dịch vụ NN An Lỗ khẳng định, đơn vị đang sản xuất giống J02 theo quy trình hữu cơ và HTX cũng đã có chứng nhận sản xuất lúa hữu cơ do cơ quan chức năng cấp.

Tuy nhiên, nhiều năm nay, gạo hữu cơ của đơn vị khi đưa ra thị trường gặp khó là do giá gạo cao gấp đôi so với gạo sản xuất theo phương thức truyền thống. Sản xuất theo mô hình hữu cơ gặp khó do chi phí đầu vào cao, tốn công nhiều, năng suất, sản lượng thấp nên hạt lúa khi đưa ra thị trường khó cạnh tranh.

Chú trọng khâu quảng bá

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có rất nhiều tổ chức, cá nhân, HTX chú trọng sản xuất nông nghiệp hữu cơ, chất lượng cao, đặc biệt là các giống lúa mới như BT7, HG6, J01, J02 được các đơn vị liên kết, trồng theo quy trình hữu cơ.

Ông Hồ Đăng Khoa, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản tỉnh cho rằng, cái khó của các sản phẩm nông sản hữu cơ, chất lượng cao hiện nay là thị trường đầu ra mà một trong những nguyên nhân là do các HTX, các đơn vị liên kết kinh doanh thiếu các điểm bày bán các sản phẩm hữu cơ để giới thiệu đến người tiêu dùng. Người tiêu dùng khó tìm kiếm các địa điểm bán sản phẩm hữu cơ cũng như người sản xuất khó tiếp cận được thị trường.

Các sản phẩm hữu cơ hiện nay rất thiếu các kênh quảng bá. Dù nhiều sản phẩm có mẫu mã bao bì nhãn hiệu đẹp, chất lượng tốt, nhưng không được HTX, DN chú trọng đến kênh quảng bá. Vì vậy, chất lượng, nguồn gốc, thông tin của sản phẩm, chứng chỉ xuất xứ…người tiêu dùng không có thông tin, liên kết giữa người tiêu dùng, người sản xuất và nơi bày bán không chặt chẽ dẫn đến sản phẩm khó tiếp cận thị trường.

Một nguyên nhân nữa là hiện nay, các HTX, DN, người sản xuất xây dựng theo một quy trình hữu cơ riêng và từ đó sản xuất ra sản phẩm nông sản hữu cơ khác nhau. Mỗi quy trình đều có những giá thành khác nhau ở đầu vào nên đầu ra cũng có giá thành khác nhau.

Ông Khoa đưa ra ví dụ, Công ty TNHH MTV Hữu cơ Huế Việt thu mua của người dân ở các HTX Phong Điền 13-15 nghìn/kg gạo; trong khi Tập đoàn Quế Lâm lại thu mua ở Hương Thủy chỉ 6-7 nghìn/kg. Do vậy, giá thành các sản phẩm gạo hữu cơ vô hình trung khó tiếp cận với người tiêu dùng bởi sản phẩm hữu cơ hầu hết là những sản phẩm có giá thành cao và rất ít lượng người tiêu dùng đón nhận và sử dụng thường xuyên.

Thực trạng chung của sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh là bị động trong khâu tìm đầu ra, phụ thuộc thương lái. Việc tổ chức hình thành mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị được xem là bước đi tất yếu nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo ổn định đầu ra cho sản phẩm lúa gạo.

“Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 9 chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn với 14 sản phẩm nông sản, trong đó có gạo hữu của công ty TNHH MTV Nông sản hữu cơ Quế Lâm, Công ty TNHH MTV hữu cơ Huế Việt. Do vậy, sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị là hướng đi bền vững giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân”, ông Khoa nói.

Bài, ảnh: HÀ NGUYÊN

Tuy An (Phú Yên): Mô hình tạo phân bón hữu cơ vi sinh đem lại hiệu quả kinh tế cao

Nguồn tin: Báo Phú Yên

Ngày 11/9, huyện Tuy An (Phú Yên) tổng kết mô hình tận dụng phế phẩm hữu cơ nông nghiệp và sử dụng chế phẩm sinh học Trichoderma tạo phân bón hữu cơ vi sinh.

Mô hình này được triển khai tại 3 xã An Dân, An Hiệp và An Hòa Hải (huyện Tuy An) với 12 hộ tham gia. Mô hình hướng tới mục tiêu tận dụng nguồn phân chuồng, phụ phẩm nông nghiệp sẵn có để tạo ra nguồn phân hữu cơ vi sinh phục vụ sản xuất, hạn chế sử dụng các loại phân hóa học. Mỗi hộ tham gia mô hình được huyện Tuy An hỗ trợ 50% kinh phí đầu tư mua chế phẩm sinh học Trichoderma, dụng cụ ủ, phân super lân, phân ure và được hướng dẫn quy trình sản xuất. Qua gần 2 tháng thực hiện, bình quân mỗi mô hình tạo được từ 1-1,2 tấn phân bón hữu cơ vi sinh, với chất lượng đảm bảo để sử dụng bón cho cây trồng.

Sau khi hạch toán, mỗi mô hình đã đem lại cho hộ sản xuất lợi nhuận từ 12 triệu đồng trở lên và tiết kiệm được 30% chi phí so với mua phân hóa học để bón lót. Bên cạnh đó, mô hình giải quyết được nhu cầu về nguồn phân hữu cơ vi sinh cho hộ sản xuất và cải tạo tính chất lý, hóa, thoái hóa đất sau thời gian dài sử dụng, tận dụng triệt để nguồn phế phẩm hữu cơ nông nghiệp tại hộ gia đình, làm giảm chi phí sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, hạn chế cỏ dại, giảm ảnh hưởng ô nhiễm môi trường và góp phần làm tăng năng suất của cây trồng.

KHẮC NHO

Đồng Tháp: Mùa nước nổi, người trồng hoa màu thu lãi cao

Nguồn tin: Báo Đồng Tháp

Thời điểm này, nước lũ ngập ở nhiều nơi, diện tích sản xuất bị thu hẹp thì ở những vùng chuyên canh rau màu, nhất là vùng rau an toàn tại Đồng Tháp lại tất bật thu hoạch với niềm vui trúng mùa được giá.

Hoa màu chủ yếu được nông dân canh tác ở khu vực cù lao, đất bãi bồi. Diện tích mỗi vụ khoảng 15 ngàn ha, vụ thu đông này, nước lũ về, nông dân chỉ tập trung ở những khu vực gò cao, đê bao kiên cố, với khoảng 6.000ha. Diện tích thu hẹp, sức tiêu thụ ổn định nên hiện tại hầu hết giá các loại hoa màu đều tăng ở mức cao, nông dân phấn khởi. Cụ thể, một số mặt hàng thế mạnh như: hành lá giá 25.000 đồng/kg, ớt 31.000 đồng/kg, củ cải 5.000 đồng/kg... Mức giá này, người trồng có lãi vài chục triệu đồng/ha, riêng hành lá thu lãi trên 100 triệu đồng/ha.

Minh Thi

Hiệu quả mô hình nông hội nuôi dê, bò ở Ia Dreng

Nguồn tin: Báo Gia Lai

Cuối năm 2019, xã Ia Dreng (huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai) ra mắt mô hình nông hội nuôi dê, bò. Sau 1 năm hoạt động, bước đầu, mô hình này đã phát huy hiệu quả giúp hội viên phát triển chăn nuôi, tăng thêm thu nhập.

Gia đình ông Rơ Lan Thố (thôn Tung Neng) đang nuôi 10 con bò, 10 con dê. Trước đây, do chưa có kinh nghiệm chăm sóc cũng như cách phòng trừ dịch bệnh nên đàn dê, bò của gia đình ông chậm lớn, vào thời điểm chuyển mùa thường bị bệnh. Từ khi tham gia mô hình nông hội nuôi dê, bò, ông được học hỏi thêm nhiều kiến thức về chăm sóc vật nuôi.

“Qua các buổi sinh hoạt hội, tôi được các hộ có kinh nghiệm chỉ cách đỡ đẻ, chăm sóc dê con, cách sử dụng thức ăn giúp đàn dê lớn nhanh, sinh sản tốt. Ngoài ra, chúng tôi chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm phòng bệnh cho đàn vật nuôi. Tôi hy vọng mô hình này ngày càng lớn mạnh, có nhiều người tham gia hơn để cùng trao đổi nhiều kinh nghiệm áp dụng vào chăn nuôi, giúp phát triển kinh tế gia đình”-ông Thố chia sẻ.

Chị Đỗ Thị Thanh Tuyền (thôn Tung Pai, xã Ia Dreng, huyện Chư Pưh) chăm sóc đàn dê của gia đình. Ảnh: Lê Nam

Nông hội nuôi dê, bò xã Ia Dreng khi mới thành lập có 55 hội viên, đến nay đã tăng lên 70 hội viên. Trên tinh thần tự nguyện, các hội viên cùng nghĩ, cùng làm, cùng trao đổi kinh nghiệm, cùng học hỏi và hỗ trợ nhau cách nuôi dê, bò để cải thiện thu nhập…

Chị Đỗ Thị Thanh Tuyền (thôn Tung Pai) cho biết: “Gia đình tôi luôn duy trì đàn dê 30-40 con. Tham gia nông hội giúp chúng tôi học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau về cách chăm sóc, phát triển đàn dê của gia đình. Đặc biệt, chúng tôi thường xuyên thông tin với nhau về thị trường tiêu thụ; cập nhật giá cả con giống hoặc dê, bò thịt bán ra đúng với giá thị trường cũng như giới thiệu với nhau những địa chỉ cung cấp con giống chất lượng, những thương lái thu mua uy tín...”.

Toàn xã Ia Dreng hiện có hơn 1.900 con bò, 2.120 con dê. Ông Trương Văn Hạnh-Chủ nhiệm Nông hội nuôi dê, bò xã-cho biết: Khi hội viên có nhu cầu về cách chăm sóc dê, bò, hỗ trợ kỹ thuật thì Nông hội đứng ra mời các ngành chuyên môn của huyện về tập huấn, hướng dẫn. Bên cạnh đó, các hội viên đều tích cực chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm chăm sóc dê, bò. Điều đáng mừng là một số bà con dân tộc thiểu số cũng tích cực tham gia Nông hội, qua đó tiếp cận thêm được nhiều kiến thức bổ ích giúp chăm sóc đàn dê, bò đúng kỹ thuật, phát triển tốt. Hiện phần lớn người dân trong xã đã biết trồng cỏ để chủ động nguồn thức ăn cho đàn dê, bò và làm chuồng trại đảm bảo vệ sinh môi trường. Đồng thời, đưa vào nuôi một số giống dê lai sinh sản, đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.

“Thời gian tới, ngoài việc tiếp tục phát triển thêm hội viên, chúng tôi sẽ chủ động phối hợp với cơ quan chuyên môn của huyện và một số doanh nghiệp trên địa bàn tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm, giúp hội viên có nguồn thu nhập cao hơn”-ông Hạnh cho biết thêm.

Nhận xét về mô hình này, ông Lê Văn Cửu-Chủ tịch UBND xã Ia Dreng-cho biết: “Từ khi mô hình Nông hội đi vào hoạt động, bước đầu, việc chăn nuôi gia súc của người dân đã có hiệu quả cao hơn. Đây là một trong những chủ trương giúp cho các hộ chăn nuôi có dịp học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong chăn nuôi với nhau, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc cũng như tìm kiếm đầu ra ổn định cho sản phẩm. Đồng thời, Nông hội cũng là hướng đi mới trong việc thay đổi nếp nghĩ, cách làm, áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số. Qua đó, giúp người dân tự tin chuyển đổi cây trồng, vật nuôi để nâng cao thu nhập và vươn lên thoát nghèo bền vững”.

LÊ NAM

Hiệu quả kinh tế từ nuôi trăn, rắn

Nguồn tin: Báo Ấp Bắc

Nuôi trăn, rắn là công việc mới nghe đã khiến không ít người phải rùng mình. Thế nhưng, anh Nguyễn Như Khương (ấp Hòa Thân, xã Bình Đông, TX. Gò Công, tỉnh Tiền Giang) đã phát triển mô hình nuôi trăn, rắn mang lại hiệu quả kinh tế.

Anh Khương, hiện là hội viên Hội Liên hiệp Thanh niên xã Bình Đông, vốn là người có thâm niên trong chăn nuôi nên khi nhận thấy nhu cầu thị trường khan hiếm các loại đặc sản trăn, rắn. Anh đã nghiên cứu, tìm tòi trên các trang mạng xã hội, internet; sau đó liên hệ với các chủ nuôi trăn, rắn ở tỉnh Bến Tre để mua 400 con rắn giống và 200 con trăn gồm các loại như rắn hổ hành, trăn đất, trăn gấm... về nuôi.

Để đảm bảo an toàn cho gia đình và những hộ xung quanh, anh Khương xây dựng 6 ô chuồng, chia thành 4 khu gồm khu nuôi trăn, rắn sinh sản và thương phẩm. Mỗi ô chuồng rộng từ 3 - 5 m2 được xây bằng gạch, bao quanh lưới sắt, lót đất khô... và thả nuôi từ 50 con rắn hoặc 20 con trăn trở lên, đủ không gian cho trăn, rắn sinh trưởng và phát triển.

Những con rắn có trọng lượng khoảng 1 kg/con do chính anh Khương nuôi.

Anh Khương cho biết, anh sử dụng gà con để làm thức ăn chủ yếu cho trăn, rắn. Trăn, rắn là các loại vật dễ nuôi hơn những con vật khác, bởi ít bệnh tật và dễ chăm sóc. Loài rắn có thể ngủ đông tới 5 tháng, vào mùa hè rắn mới hoạt động và ăn trở lại, có thể 3 ngày mới cho ăn 1 lần.

Do đó, dù mới nuôi từ năm 2017, nhưng đến nay, rắn do anh Khương nuôi có trọng lượng trên 1 kg/con, thậm chí có con nặng gần 2 kg; còn trăn thì ước đạt từ 45 đến 50 kg/con loại thương phẩm. Theo giá bán thị trường hiện nay, rắn khoảng từ 200 - 220 ngàn đồng/kg và trăn từ 280 - 300 ngàn đồng/kg.

Ngoài nuôi trăn, rắn thương phẩm, anh Khương còn tự mày mò, nghiên cứu kỹ thuật phối giống và ấp trứng rắn nhằm giảm bớt chi phí đầu vào và tăng thu nhập cho gia đình bằng việc xuất bán con giống. Theo anh Khương, nuôi trăn, rắn mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp 4 - 5 lần nuôi con vật khác.

Anh Khương chia sẻ, để không bị trăn, rắn cắn thì người nuôi cần lưu ý rửa tay sạch sẽ không còn dính hơi thức ăn mỗi khi đưa tay vào chuồng bắt trăn, rắn. Để không gặp nguy hiểm khi vào chuồng thì mọi hoạt động của người nuôi cần phải nhẹ nhàng, không làm vật nuôi hoảng sợ, đặc biệt là không được uống rượu vì các loài trăn, rắn rất kỵ mùi rượu.

Rắn được anh Khương nuôi trong chuồng.

Với những hiệu quả kinh tế từ nuôi trăn, rắn mang lại, anh Khương sẽ tiếp tục phát triển mô hình này trong thời gian tới. Anh Khương còn mạnh dạn liên hệ với Ban Chấp hành Xã đoàn Bình Đông để nhân rộng mô hình trong đoàn viên, thanh niên cũng như các hộ gia đình khác trên địa bàn cùng nuôi.

Ban đầu, các hộ còn e dè vì sự nguy hiểm từ nuôi trăn, rắn nhưng nhờ sự thuyết phục cũng như thực tế hiệu quả kinh tế từ việc nuôi các con vật này mang lại đã khiến nhiều hộ đăng ký và nhờ anh Khương chia sẻ kinh nghiệm, các kỹ thuật nuôi trăn, rắn.

Tính đến nay, đã có hơn 25 hộ dân trên địa bàn xã Bình Đông nuôi và phát triển kinh tế từ mô hình nuôi trăn, rắn. Ước tính trung bình mỗi hộ đang nuôi khoảng 500 con trăn và 1.500 con rắn các loại từ để giống, đang đẻ đến thương phẩm.

Anh Khương cho biết, giống trăn đất lớn con, dễ nuôi và đẻ sai; còn trăn gấm thì có giá trị hơn trăn đất vì dễ xuất khẩu. Nhiều chuồng nuôi trăn được xây chồng lên nhau để tiết kiệm diện tích. Người nuôi trăn cần lưu ý là trăn đực và trăn cái phải nhốt riêng; trăn nuôi chung phải cùng lứa để không cắn nhau; trăn cái đã phối giống phải nhốt riêng để trăn ấp trứng; tuyệt đối không được thiếu nước uống cho trăn; thường xuyên tắm trăn hằng ngày; mỗi tháng cho trăn ăn từ 2 đến 3 lần. Lượng thức ăn cho trăn phải tương xứng với trọng lượng từng con (thức ăn bằng 2/10 trọng lượng trăn).

Anh Khương không chỉ nuôi trăn, rắn cung cấp cho thị trường mà còn là nơi bao tiêu sản phẩm cho bà con nuôi trăn, rắn tại địa phương. Hiện tại, mô hình nuôi trăn, rắn của anh Khương là một trong những mô hình điển hình mà Ban Chấp hành Xã đoàn Bình Đông đang hướng tới nhằm giúp đoàn viên, thanh niên tại địa phương vươn lên thoát nghèo và làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.

LÝ OANH

Thái Nguyên: Phát triển chăn nuôi đại gia súc theo hướng bền vững

Nguồn tin: Báo Thái Nguyên

Hợp tác xã Chăn nuôi động vật bản địa ở xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh (Phú Lương) hiện đang nuôi 60 con ngựa bạch.

Những năm qua, phát triển chăn nuôi đại gia súc được nhiều người dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên lựa chọn. Qua đó không chỉ đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường mà còn góp phần nâng cao giá trị của ngành Chăn nuôi trên địa bàn tỉnh.

Hợp tác xã (HTX) Chăn nuôi động vật bản địa ở xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh (Phú Lương) được thành lập năm 2016, hiện đang nuôi 60 con ngựa bạch, 300 con lợn rừng, 100 con hươu sao và trên 100 con dê. Trao đổi với chúng tôi, anh Trần Đình Quang, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX cho biết: Chăn nuôi đại gia súc có lợi thế là chúng chủ yếu ăn cỏ, tốn ít chi phí, dễ chăm sóc mà vẫn cho hiệu quả kinh tế cao. Vừa cung cấp con giống vừa nuôi thương phẩm, mỗi năm HTX cũng có doanh thu trên 600 triệu đồng.

Tìm hiểu thực tế, Thái Nguyên có nhiều tiềm năng phát triển chăn nuôi đại gia súc như: địa hình chủ yếu là đồi núi có thể tận dụng để chăn thả, nguồn thức ăn tự nhiên và phụ phẩm nông nghiệp dồi dào. Bên cạnh đó, tỉnh tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng và các nhà máy, xí nghiệp, nhu cầu về thực phẩm lớn. Thời gian qua, tỉnh đã khuyến khích phát triển chăn nuôi đại gia súc theo hướng hàng hóa, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Vì vậy, chăn nuôi đại gia súc trên địa bàn tỉnh đã có sự dịch chuyển theo hướng sản xuất hàng hóa.

Nếu như trước đây, bà con chăn nuôi chủ yếu làm sức kéo thì nay đa phần để bán thịt và là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ dân. Trung bình 1 con bê, sau 2 năm nuôi thương phẩm, bà con bán được với giá trên 30 triệu đồng. Nếu mỗi hộ nuôi trung bình 5 con, sau 2 năm cũng có thu nhập 150 triệu đồng, góp phần cải thiện đời sống. Vì thế, đàn trâu cũng đã giảm dần về số lượng, còn đàn bò không ngừng tăng.

Tính đến thời điểm này, toàn tỉnh có 43.700 con bò, tăng 3,1%; gần 47.000 con trâu, giảm 9% so với cùng kỳ năm 2019. Đặc biệt, giống bò lai hiện đạt tỷ lệ 60% tổng đàn, tăng 25% so với năm 2015. Bên cạnh đó, tập quán sản xuất của người dân cũng bắt đầu thay đổi. Tại những vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Võ Nhai, Định Hóa, trước đây chủ yếu chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, khó kiểm soát dịch bệnh thì nay bà con đã áp dụng kỹ thuật nuôi nhốt, xây dựng chuồng trại đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn dịch bệnh. Cùng với đó, bà con đã sử dụng thức ăn công nghiệp, áp dụng biện pháp kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho đàn trâu, bò nhằm cải tạo, nâng cao tầm vóc, năng suất, chất lượng đàn vật nuôi.

Tuy nhiên, phát triển chăn nuôi đại gia súc trên địa bàn tỉnh hiện vẫn gặp không ít khó khăn, như: Chưa có thị trường đầu ra ổn định; giá cả lên xuống bấp bênh; việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa đồng bộ...

Khắc phục những khó khăn này, tỉnh đã đưa ra nhiều chủ trương, giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy chăn nuôi đại gia súc phát triển. Hằng năm, tỉnh đều có cơ chế khuyến khích bà con sử dụng giống vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Cụ thể như năm nay, ngân sách tỉnh hỗ trợ thụ tinh nhân tạo 5.000 liều tinh bò lai Zebu sản xuất trong nước, 2.000 liều tinh bò giống nhập khẩu và hỗ trợ đào tạo, tập huấn mạng lưới cung ứng tinh, thụ tinh nhân tạo cho trâu, bò. Đồng thời, hỗ trợ tiêm vắc-xin phòng các bệnh lở mồm long móng, tụ tuyết trùng cho đàn trâu, bò…

Trao đổi với chúng tôi, ông Lê Đắc Vinh, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi - Thú y và Thủy sản cho biết: Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tăng cường phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp và người chăn nuôi làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh; khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, trang trại phát triển chăn nuôi bò thịt theo hướng công nghiệp.

Trong chuyến công tác tại Thái Nguyên vào tháng 8-2020, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp - PTNT Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh, Thái Nguyên còn nhiều dư địa để phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc. Tuy nhiên, tỉnh cần đẩy mạnh phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng liên kết với các công ty, doanh nghiệp lớn nhằm ổn định đầu ra cho sản phẩm, có truy xuất nguồn gốc và đảm bảo an toàn thực phẩm để hướng tới xuất khẩu.

Lương Hạnh

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-28) 37445447-(84-28) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop