Tin nông nghiệp ngày 16 tháng 8 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 16 tháng 8 năm 2019

Nuôi vịt - nghề đang 'hot'

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Từ đầu năm đến nay xã Tân Tiến đã xuất bán ra thị trường được gần 500 tấn vịt thịt, doanh thu 15-17 tỷ đồng, trừ mọi chi phí đầu tư, người chăn nuôi vẫn lãi được công lao động 2,7-3,3 tỷ đồng, tùy thời điểm.

Nhiều hộ nuôi vịt bài bản, an toàn dịch bệnh.

Xã Tân Tiến, huyện Văn Giang, Hưng Yên là địa phương rất năng động trong sản xuất nông nghiệp. Nhà nông trên địa bàn luôn biết tận dụng mọi tiềm năng lợi thế sẵn có, để phát triển các loại cây trồng, vật nuôi theo hướng hiệu quả, bền vững, giá trị gia tăng cao.

Phong trào nuôi vịt thịt ở 2 thôn Vĩnh Lộc và Hòa Bình Hạ là một minh chứng đáng kể. Tổng đàn vịt nuôi thường xuyên ở các thôn nói trên đạt gần 40.000 con, hầu hết được chăn thả trên các ao hồ ven các kênh thủy nông Bắc Hưng Hải.

Theo đó mỗi tháng các gia đình chăn nuôi ở đây đã xuất bán ra thị trường được hơn 70 tấn vịt thịt, doanh thu 2,5 - 2,8 tỷ đồng, trừ mọi chi phí vật tư, người chăn nuôi vẫn còn lãi được công lao động 450-550 triệu đồng/tháng, tùy thời điểm.

Ông Đàm Văn Chỉ (thôn Hòa Bình Hạ) đã ngoài 60 tuổi vẫn thường xuyên nuôi 4.000 con vịt thịt. Do chăm sóc tốt và cho ăn cám viên công nghiệp mua từ các cơ sở sản xuất có uy tín, nên vịt của ông Chỉ nuôi 42-45 ngày đã cho xuất bán, trọng lượng quân bình đạt 2,7-3,2kg/con.

Để có vịt thịt cung ứng ra thị trường thường xuyên hơn và quay vòng đồng vốn đầu tư nhanh hơn, ông Chỉ đã thực hiện chăn nuôi gối đàn, mỗi đàn nuôi 2.000 con cách nhau 21-23 ngày. Nhờ vậy tháng nào ông Chỉ cũng có 5-6 tấn vịt được bán, có 20-30 triệu đồng “bỏ ống”.

Ông Chỉ hồ hởi khoe với chúng tôi: “Năm nay vịt thịt được giá rất cao, riêng 6 tháng đầu năm tôi đã bán được 6 lứa (12.000 con vịt), khối lượng thịt hơi ước đạt 33.000kg, trừ tiền mua con giống, thức ăn chăn nuôi và vacxin phòng dịch, vẫn còn dư ra được trên 300 triệu đồng.”

Đáng chú ý, mặc dù nuôi vịt thường xuyên liên tục với số lượng lớn, trên cùng diện tích ao hồ mặt nước, nhưng từ hàng chục năm nay, đàn vịt nuôi của ông Chỉ không hề xảy ra dịch bệnh lớn.

Nguyên nhân chủ yếu do ông Chỉ biết tận dụng nguồn nước thủy nông Bắc Hưng Hải, để thường xuyên thay mới phần nước ao đã bị ô nhiễm trong quá trình chăn nuôi, kết hợp với phòng ngừa dịch bệnh từ xa như, chọn mua con giống khỏe, vệ sinh tiêu độc chuồng trại định kỳ, vacxin phòng bệnh cho vịt đúng lịch...

Ông Chỉ cho biết: “Không muốn nghỉ nuôi vịt, vì tiếc vị trí chăn nuôi đắc địa (ao hồ rộng, dễ lấy nước từ các trục thủy nông), cứ thả vài nghìn con vịt xuống, nuôi vài chục ngày là có vài chục triệu đồng tiền lãi, tiêu pha đỡ phải dè xẻn”. Đây cũng chính là lý do, vợ chồng ông Chỉ đã đồng lòng, khép lại nhà cửa trong làng, để ra cuối đồng dựng lều tạm ở trông nuôi vịt.

Vợ chồng anh Úy-Lệ (hộ nuôi vịt thôn Hòa Bình Hạ) cũng hào hứng cho rằng: Chưa có năm nào người nuôi vịt gặp nhiều thuận lợi như năm nay. Giá vịt lúc nào cũng cao, giá thức ăn chăn nuôi lại khá ổn định, dịch vụ chăm sóc khách hàng từ các công ty rất kịp thời, chỉ cần nhấc máy là có ngay mọi thứ cho nhu cầu phát triển chăn nuôi, bao gồm tập huấn kỹ thuật, tham quan học tập mô hình và hỗ trợ thăm khám, trị bệnh gia cầm khi cần. “Nuôi một lứa vịt năm nay giá trị bằng nuôi 2-3 lứa vịt năm trước”, anh Úy nhấn mạnh.

Cùng chung niềm vui với các hộ nói trên, từ đầu năm đến nay chị Nguyễn Thị Dinh (thôn Vĩnh Lộc) cũng có lợi nhuận hơn 250 triệu đồng từ 3.000 vịt thịt nuôi thường xuyên. Chị Dinh cho biết: “Nhờ chăn nuôi vịt gia đình em đã bù lỗ được đàn lợn nhiễm dịch tả Châu Phi. Để phát triển nuôi vịt lâu dài, em đã mở thêm giếng khoan tại chỗ, nhằm chủ động nguồn nước bổ sung cho ao vào thời điểm thủy nông tạm dừng bơm trên các kênh Bắc Hưng Hải".

Theo chị Dinh, vịt nuôi cần thời tiết mát mẻ, nên định kỳ 2-3 ngày/lần bổ sung nước mới cho ao, chẳng những nuôi cá nhanh lớn, mà nuôi vịt cũng tăng trọng tốt hơn, tuy nhiên vẫn phải đặc biệt coi trọng công tác phòng dịch từ xa cho đàn vịt.

“Giá vịt sẽ còn cao trong nhiều tháng nữa, vì nguồn lợn thịt không còn nhiều, khả năng tái đàn cũng rất chậm, do kinh tế của người nuôi lợn đã cạn kiệt” – nhận định của ông Đàm Văn Chỉ, thôn Hòa Bình Hạ.

NGUYỄN HẢI TIẾN

Xe chở quả thanh long xếp hàng dài tại cửa khẩu chờ Hải quan Trung Quốc giải quyết thủ tục

Nguồn tin: Báo Lào Cai

Ngày 13/8 là ngày thứ 3 xe container chở quả thanh long xuất khẩu phải xếp hàng dài chờ Hải quan Trung Quốc giải quyết thủ tục nhập khẩu.

Xe chở quả thanh long tại bãi tập kết hàng xuất khẩu.

Hiện, tại bãi tập kết hàng xuất khẩu và xung quanh khu vực Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành có từ 500 - 700 xe container chở quả thanh long xếp hàng nối nhau (ảnh dưới).

Nguyên nhân được xác định là do đang vào chính vụ thu hoạch quả thanh long của Việt Nam, lượng quả thanh long xuất khẩu sang Trung Quốc lớn, trung bình mỗi ngày Hải quan Trung Quốc chỉ giải quyết thủ tục nhập khẩu tối đa cho hơn 200 xe container chở thanh long, trong khi lượng xe container chở thanh long về Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành ngày càng nhiều.

Theo ông Trần Anh Tú, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan Cửa khẩu Lào Cai thì tình trạng này kéo dài khoảng 4 ngày nữa. Thông thường, mỗi năm có 3 - 4 đợt xe container chở quả thanh long phải xếp hàng dài tại cửa khẩu để chờ phía Trung Quốc giải quyết thủ tục nhập khẩu.

Cũng theo ông Tú, đối với mặt hàng nông sản, trong đó có quả thanh long, tất cả các lô hàng xuất khẩu đều được giải quyết thủ tục hải quan điện tử và được tạo điều kiện thông quan nhanh nhất.

Được biết, từ đầu năm đến nay, sản lượng quả thanh long xuất sang Trung Quốc qua Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành là 481.000 tấn, trị giá 313,7 triệu USD.

THANH NAM

Nông dân ‘tỷ phú’ trong sản xuất, kinh doanh

Nguồn tin:  Báo Đồng Khởi

Câu lạc bộ (CLB) Nông dân tỷ phú tỉnh Bến Tre được thành lập vào ngày 18-7-2018, với số lượng ban đầu có 20 thành viên. Đến nay, CLB được đánh giá hiệu quả hoạt động khá thành công, bước đầu khẳng định vai trò nòng cốt góp sức cho phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Bí thư Tỉnh ủy Phan Văn Mãi tham quan mô hình sản xuất, kinh doanh của “Vua kiểng” Nguyễn Thị Nga, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách.

Lan tỏa tinh thần vươn lên làm giàu

Thành viên CLB Nông dân tỷ phú là những nông dân được tuyên dương là “vua” nông nghiệp của tỉnh, đối với 8 mặt hàng nông sản chủ lực, theo Nghị quyết số 03 của Tỉnh ủy về xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực của tỉnh. Những ông “vua” nông nghiệp được đánh giá theo bộ tiêu chí cụ thể do Hội Nông dân tỉnh tham mưu ban hành. Theo đó, “vua” đối với từng sản phẩm của tỉnh phải đạt theo tiêu chí về diện tích, sản lượng, doanh thu đạt 1 tỷ đồng/năm, mô hình sản xuất hiệu quả, kỹ thuật sản xuất tốt…

Ông Huỳnh Văn Quận, xã Giao Long, huyện Châu Thành là “vua bưởi” Bến Tre, đồng thời là Chủ nhiệm CLB cho biết: Tôi rất vinh dự được tham gia CLB và đóng vai trò dẫn dắt các thành viên. Định kỳ 2 tháng 1 lần, động viên các thành viên trong CLB chia sẻ cùng nhau trong các sản phẩm khác nhau. Bàn bạc làm gì để hiệu quả, giúp nông dân tỉnh nhà có mô hình học tập, làm theo. Sau hơn 1 năm hoạt động, các thành viên được giao lưu học tập, nâng cao chất lượng sản phẩm về mọi mặt.

“Bản thân tôi được tham quan, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm với nhiều nông dân giỏi khác, cập nhật kiến thức mới. Tôi nhận định, đối với sản phẩm bưởi da xanh nói riêng và các sản phẩm chủ lực nói chung, muốn xuất khẩu được nông dân phải liên kết hợp tác sản xuất theo tiêu chuẩn GAP. Tiêu chuẩn sạch thì mới xuất khẩu được. Nếu người dân không thay đổi được thói quen sản xuất truyền thống thì chính người nông dân thiệt thòi. Muốn nông dân làm theo thì bản thân tôi phải tiên phong đi đầu. Tôi đang theo mô hình VietGAP, vận động bà con xây dựng Hợp tác xã bưởi da xanh Giao Long. Kết quả, Hợp tác xã được chứng nhận tiêu chuẩn GAP vào cuối năm 2018”, “vua bưởi” kể.

Ông Lê Nhựt Chiêu - Phó trưởng ban Kinh tế - Xã hội Hội Nông dân tỉnh cho hay, trong từng cuộc họp CLB, các thành viên đã chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, từ cây trồng đến vật nuôi, góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả của mô hình. Về thị trường, qua kênh sinh hoạt, các thành viên thông tin với nhau về thị trường, để làm sao cho sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Các nông dân nhận biết được rằng thị trường cần gì để điều chỉnh sản xuất. Các doanh nghiệp tham gia sinh hoạt CLB cũng thông tin, định hướng CLB sản xuất, giải quyết được thị trường cho CLB. Ngoài ra, những thành viên luôn cố gắng làm cho mô hình của mình ngày càng hiệu quả. Mô hình của họ đã làm lan tỏa đến những hộ xung quanh rất cao. Mỗi thành viên trong CLB là một điển hình về mô hình sản xuất có sự phát triển khá tốt.

Phát huy vai trò nòng cốt

“Tôi mong rằng, thời gian tới, chính quyền các cấp hỗ trợ thêm cho CLB để nhân rộng mô hình ra nông dân. Hướng tới, CLB sẽ sinh hoạt mở rộng, mời thêm nhiều bà con tham gia, vận động họ tham gia, phát triển kinh tế dần dần, giúp những người dân chưa là tỷ phú có thể trở thành tỷ phú”.

(Chủ nhiệm CLB Nông dân tỷ phú tỉnh Huỳnh Văn Quận)

Đến nay, CLB đã phát triển lên 32 thành viên và thành lập được các tổ chuyên về các sản phẩm như: tổ bưởi, tổ dừa, tổ sầu riêng, tổ chôm chôm, tổ nuôi bò. Có thể khẳng định, CLB Nông dân tỷ phú là một mô hình rất phù hợp với việc phát triển kinh tế nông nghiệp hiện nay, được nông dân đồng tình hưởng ứng tham gia, được các sở, ngành trong tỉnh hỗ trợ trong hoạt động. CLB đã góp phần “truyền lửa”, thôi thúc tinh thần hăng say lao động, sáng tạo, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào trong sản xuất của nông dân ngày càng mạnh mẽ.

Bà Nguyễn Thị Nga, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách - “vua kiểng” hiện đã phát triển cơ sở sản xuất, kinh doanh hoa kiểng Lâm Nga, xây dựng nhà lưới, định hướng kết hợp làm du lịch, tạo bước khởi đầu mới so với trước đây. Mô hình của bà hứa hẹn sẽ đột phá cho ngành sản xuất hoa kiểng Cái Mơn gắn với phát triển du lịch. Hay với “vua dừa” Ngô Văn Hội, xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, mặc dù giá dừa xuống giá nhưng ông trồng xen, nuôi xen những sản phẩm khác trong vườn dừa, giúp giữ vững thu nhập. “Vua bò” Lưu Văn Cõi cũng đã thay đổi cách thức cho bò ăn, tạo chất dinh dưỡng, nâng cao chất lượng thịt bò, tạo sự lan tỏa, học cách làm theo cho người dân trong khu vực.

Phó chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Lao Văn Trường cho hay, Hội Nông dân tỉnh sẽ đồng hành chia sẻ với CLB, với mong muốn giúp CLB duy trì, phát triển mạnh hơn. Việc phát triển thêm hội viên sẽ nhằm tôn vinh, ghi nhận những nông dân sản xuất giỏi, làm giàu ngay chính trên mảnh đất của mình.

Phó bí thư Thường trực Huyện ủy Châu Thành Lê Quang Vịnh lưu ý về phương hướng hoạt động: “Các thành viên trong CLB phải là người nông dân tiên phong đi đầu trong sản xuất theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ, tái chứng nhận các tiêu chuẩn đó để người dân làm theo. Duy trì sinh hoạt CLB để trao đổi, học hỏi cái mới, theo chuyên đề; từng cuộc họp có doanh nghiệp, lãnh đạo, các đơn vị liên kết theo hướng chuỗi…”.

Bài, ảnh: Nhiên Luận

Hà Nội chưa đáp ứng được nhu cầu giống cây trồng chất lượng cao

Nguồn tin:  Báo Hà Nội Mới

Theo Sở NN&PTNT Hà Nội, giống cây trồng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, song thực tế, nguồn cung của Hà Nội còn hạn chế.

Hiện, thành phố có 110 cơ sở kinh doanh giống cây trồng, nhưng lượng giống sản xuất đạt quy chuẩn kỹ thuật chỉ đáp ứng một phần nhu cầu trên địa bàn.

Cụ thể, mỗi năm, các đơn vị của ngành Nông nghiệp Hà Nội cung ứng cho thị trường khoảng 1,3 triệu cây giống ăn quả, 60.000 cây giống hoa nuôi cấy mô, 50 tấn khoai tây giống, 100.000 cây giống hoa cúc, hoa hồng và 100.000 cây giống cà chua, rau các loại.

Trong cơ cấu giống của thành phố, mới lựa chọn được 2-3 giống cây trồng chất lượng cao; duy trì, bảo tồn 8-10 giống cây ăn quả đặc sản. Theo tính toán, giống lúa đáp ứng được 70%, cây ăn quả 30-40% (bưởi, cam Canh 30-35%; chuối 40%)…

Sơn Tùng

ĐBSCL lo chống hạn mặn

Nguồn tin:  Sài Gòn Giải Phóng

Đã bước sang trung tuần tháng 8-2019, nước lũ vẫn chưa về ĐBSCL. Trong khi đó, nước mặn lại len lỏi vào vùng Tứ giác Long Xuyên, uy hiếp diện tích đất trồng lúa. Đây là điều cực hiếm trong mùa mưa lũ ở vùng này trong gần 20 năm qua.

Ngành nông nghiệp tỉnh Hậu Giang phải đóng cống đề phòng nước mặn xâm nhập. Ảnh: CAO PHONG

Lo tích trữ nước ngọt

“Đã vào mùa mưa mà phía thượng nguồn sông Mê Công chưa thấy dấu hiệu nước lũ đổ về như mọi năm. Số liệu đo đạc mực nước ở các trạm dọc sông cho thấy tất cả mực nước đều nằm rất thấp so với cùng thời kỳ. Có hai nguyên nhân: Thứ nhất, năm nay hiện tượng El Nino trở lại khu vực, lượng nước mưa khá thấp. Thứ hai, chuỗi 8 đập thủy điện ở Trung Quốc đều đồng loạt tích nước vào các hồ chứa, lượng nước xả về hạ lưu rất ít.

Ngoài ra, ở Lào, đập thủy điện Xayabury cũng đóng các cửa van để tích nước chạy thử các tổ máy. Điều này khiến nước về hạ lưu cực kỳ thấp”, PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (Trường ĐH Cần Thơ), nhận định.

Nước lũ gần như không về, nước mặn bắt đầu xâm nhập vào vùng Tứ giác Long Xuyên. UBND tỉnh Kiên Giang đã quyết định cho tạm dừng lưu thông qua kênh Rạch Giá - Hà Tiên, trên địa bàn xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương để đắp đập ngăn mặn kéo dài đến hết mùa khô 2019-2020 (khoảng tháng 7-2020).

Đây được xem là giải pháp “tình thế đột xuất” trong gần 20 năm qua mà UBND tỉnh Kiên Giang phải ban hành để giữ nước ngọt, ngăn mặn phục vụ sản xuất lúc vụ hè thu 2019 cho vùng Tứ giác Long Xuyên.

Hiện huyện Kiên Lương và Sở NN-PTNT Kiên Giang đang theo dõi chặt tình hình xâm nhập mặn để chủ động triển khai các giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả. Cùng lúc này, tại tỉnh Hậu Giang địa phương giáp ranh với tỉnh Kiên Giang cũng đang khẩn trương triển khai các biện pháp để lo tích nước ngọt ngay từ lúc này.

“Trước mắt chúng tôi đã đề xuất với tỉnh sớm cung cấp kinh phí để ngành nông nghiệp triển khai nạo vét các tuyến kinh xung yếu để tạo nguồn trữ nước ngọt, chủ động ứng phó với mùa hạn - mặn khốc liệt tới đây. Ngành nông nghiệp theo dõi diễn biến chặt mặn xâm nhập từ biển Tây để chủ động thông báo kịp thời cho người dân”, ông Trần Chí Hùng, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Hậu Giang, cho biết.

Theo ông Hùng, hiện nay tỉnh đang khẩn trương triển khai xây dựng hồ chứa nước ngọt tại huyện Vị Thủy với kinh phí khoảng 165 tỷ đồng. Dự kiến sẽ hoàn thành trong mùa khô 2019-2020. Tại Bến Tre cũng vừa khánh thành đưa vào sử dụng dự án hồ chứa nước ngọt huyện Ba Tri với 60ha.

Công trình hồ chứa gần 1 triệu mét khối nước ngọt thô, phục vụ sinh hoạt cho hơn 200.000 người, hàng trăm cơ sở sản xuất và hơn 150 trụ sở văn phòng, trường học… tại 24 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Ba Tri và các vùng phụ cận của tỉnh Bến Tre sử dụng trong mùa khô.

Cần dự báo sớm và kịp thời

“Chúng tôi quan sát thấy mực nước sông Mê Công tại Vientiane, Lào đang thấp kỷ lục so với tất cả các năm trước. Mực nước này có nghĩa là tình hình mùa lũ năm nay ở ĐBSCL sẽ rất thấp và về rất muộn. Sang mùa khô đầu năm 2020, xâm nhập mặn ven biển ĐBSCL sẽ vào sâu trong đất liền, cần cảnh báo sớm để tránh thiệt hại”, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái Mê Công nhận định.

Trong khi đó PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (Trường ĐH Cần Thơ), bức xúc: “Đúng ra, ngày từ đầu năm, các cơ quan quản lý tài nguyên và liên quan đến sản xuất nông nghiệp, dân sinh từ trung ương đến các tỉnh phải có những dự báo sớm dựa vào các mô hình phỏng đoán trên thế giới và khu vực để có những chỉ đạo và khuyến cáo cho người dân”.

Chắc chắn việc kiệt nước sẽ ảnh hưởng đến canh tác nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, lượng thủy sản giảm sút, phù sa ít đi và các tác động lớn đến hệ sinh thái khu vực.

“Về ngắn hạn, như tình hình hiện nay, cần giảm các diện tích canh tác lúa ở những vùng gò cao, các vùng ven biển, chuyển một phần diện tích trồng lúa sang những cây trồng cạn ít tiêu thụ nước hoặc chuyển sang nuôi trồng thủy sản. Khuyến khích và hỗ trợ nông dân tìm mọi cách trữ nước ở các vùng trũng như lung đìa, ao hồ, các kênh mương… và các lu chứa, bể chứa nước mưa. Người dân cần sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả. Chính quyền nên xem khô hạn là dạng thiên tai cần trợ giúp. Có thể đề xuất ngân hàng cho nông dân vay mua vật dụng trữ nước với lãi suất thấp hoặc không lãi, ngoài ra vận động các tổ chức, nhà hảo tâm, doanh nghiệp tham gia cung cấp phương tiện trữ nước cho cộng đồng”, PGS-TS Lê Anh Tuấn đề xuất.

Về dài hạn, cần vận dụng các biện pháp ngoại gian, luật pháp và kinh tế để yêu cầu các quốc gia thượng nguồn phải xem Mê Công là dòng sông chung cho khu vực. Các nước phải có trách nhiệm chia sẻ nguồn tài nguyên chung này. Ngược lại các nước hạ nguồn có thể tạo những điều kiện phát triển kinh tế giao thương cho các nước nói trên.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái Mê Công, đề xuất: Về lâu dài, cần khôi phục không gian của dòng Mê Công, để nước có thể vào lại ruộng đồng, bắt đầu bằng việc giảm bớt một vụ lúa trong mùa lũ ở Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười.

Lũ vào được hai vùng này thì sang mùa khô đồng bằng sẽ bớt khô hạn và xâm nhập mặn sâu. Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu đã chỉ rõ, sản lượng lúa không còn là ưu tiên mà chất lượng mới quan trọng.

CAO PHONG

Khuyến cáo cho vụ lúa – tôm

Nguồn tin: CTV Cà Mau

Để chuẩn bị cho một vụ lúa trên đất nuôi tôm đạt hiệu quả trong điều kiện thời tiết như hiện nay, ngoài khâu rửa mặn, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cà Mau khuyến cáo nông dân lưu ý gieo cấy ở những nơi có đủ điều kiện.

Khâu rửa mặn cần thực hiện ngay từ đầu mùa mưa, đảm bảo độ mặn trong ruộng ổn định ở mức dưới 2‰ trong thời gian ít nhất 30 ngày trước khi gieo cấy. Tập trung ở huyện Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước và thành phố Cà Mau.

Nếu bà con sạ thẳng cần áp dụng trên những chân ruộng tương đối cao, bằng phẳng, có điều kiện tiêu nước cải tạo mặn tốt, tập trung ở huyện Trần Văn Thời, Cái Nước, thành phố Cà Mau và một phần huyện Thới Bình. Gieo sạ trong tháng 9 dương lịch, thu hoạch vào tháng 12, tháng 1 dương lịch năm sau; Chọn giống lúa nhóm “A” có thời gian sinh trưởng ngắn, thích ứng tốt với điều kiện đất nhiễm mặn

Nếu bà con chọn phương pháp cấy, nên áp dụng ở những chân ruộng thấp trũng, điều kiện cải tạo mặn chậm, do thoát nước bị hạn chế, tập trung chủ yếu ở huyện U Minh, Thới Bình; tập trung cấy, ném lúa tháng 9, 10 dương lịch, thu hoạch vào cuối tháng 12 đến tháng 1, 2 dương lịch năm sau./.

PV: Kiên Giang

An Giang: Trồng rau trong nhà lưới, hiệu quả kinh tế cao

Nguồn tin: Báo An Giang

Mô hình trồng rau trong nhà lưới đang được nông dân ở nhiều địa phương thực hiện và đạt được kết quả khả quan. Với nhiều ưu điểm như: hạn chế ảnh hưởng từ các yếu tố môi trường, thời tiết hoặc sự gây hại của sâu bệnh… nên năng suất cao hơn so với trồng theo phương thức truyền thống. Từ đó, giúp nông dân nâng cao thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích, đồng thời tạo ra sản phẩm sạch, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

Nâng cao thu nhập

Gia đình anh Lê Văn Hoàng Tâm (ấp Mỹ Hòa, xã Mỹ Hội Đông, Chợ Mới, tỉnh An Giang) với nhiều thế hệ xuất thân từ nông dân nên cuộc sống gia đình gắn liền với ruộng đồng, trong đó anh trồng chủ yếu là các loại hoa màu. Tuy nhiên, nguồn thu nhập từ sản xuất và buôn bán hoa màu mang lại hàng năm cho anh Tâm không cao, chỉ đủ ăn và trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày. Do đó, anh Tâm luôn trăn trở, suy nghĩ nhằm tìm lối đi mới, với quyết tâm phải thay đổi cơ cấu cây trồng trên 4.000m2 diện tích đất của gia đình, qua đó nâng cao nguồn thu nhập, có điều kiện cải thiện kinh tế gia đình.

Trồng rau trong nhà lưới có nhiều ưu điểm so với trồng rau truyền thống

Được sự vận động và giới thiệu của Hội Nông dân xã, anh Tâm đã tham gia các lớp tập huấn nông nghiệp cũng như tìm tòi học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình trồng rau an toàn ở địa phương khác từ các phương tiện truyền thông đại chúng. Năm 2018, anh Tâm đầu tư xây dựng nhà lưới với diện tích 500m2, kinh phí 50 triệu đồng. Nhờ những kiến thức từ các lớp tập huấn, kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình sản xuất thực tế, đồng thời áp dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật nên chi phí sản xuất giảm đáng kể, lợi nhuận từ đó tăng lên.

“Bước đầu cho thấy, trồng rau màu theo phương pháp truyền thống sẽ có chi phí cao nhưng lợi nhuận thấp, đầu ra thường không ổn định, phụ thuộc rất nhiều vào thương lái. Còn trồng rau an toàn chi phí thấp nhưng phải bỏ công chăm sóc nhiều hơn so với cách trồng truyền thống, giá bán thu được cao hơn, đầu ra tương đối ổn định, góp phần tăng thu nhập cho bản thân và lợi ích của việc an toàn thực phẩm. Với việc canh tác các loại rau ăn lá như: xà lách, rau thơm, cải ngọt… mỗi năm, trừ chi phí tôi còn lời khoảng 100 triệu đồng. Với mức lợi nhuận tương đối cao, tôi có điều kiện để sửa lại nhà cửa, mua sắm phương tiện đi lại, chăm lo việc học hành của các con… Thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục mở rộng thêm diện tích trồng rau màu trong nhà lưới” - anh Tâm chia sẻ.

Không những nâng cao thu nhập cho bản thân, mô hình trồng rau trong nhà lưới của gia đình anh Tâm còn góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở địa phương.

Hướng đi bền vững cho nông dân

Theo ông Nguyễn Quốc Khanh (xã Bình Thủy, Châu Phú), mặc dù số tiền ban đầu bỏ ra để xây dựng nhà lưới tương đối lớn so với kinh tế của người nông dân, nhưng chỉ sau thời gian ngắn đưa vào sử dụng, mô hình này đã cho thấy những ưu điểm vượt trội so với cách trồng truyền thống. Việc trồng rau, cải trong nhà lưới ngăn không cho côn trùng vào sinh sản, nhờ đó hạn chế tối đa tình trạng sâu bệnh gây hại. Sâu bệnh giảm, đương nhiên sẽ hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Ngoài việc giảm sâu bệnh, mô hình nhà lưới còn hạn chế được mưa, gió, nắng, tránh cho rau, cải bị hư hỏng không thể bán được.

“Trước hết là rau màu sẽ không bị ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết. Ngoài ra, trồng trong nhà lưới giảm nguy cơ bị các loại sâu bệnh gây hại hơn so với cách trồng truyền thống. Chính điều này đã làm chi phí phân bón, thuốc trừ sâu giảm rất nhiều và công chăm sóc nhẹ hơn. Ước tính, chi phí sản xuất cho mỗi vụ giảm từ 60-70% so trước đây. Ngoài ra, các loại rau phát triển tốt, rút ngắn thời gian sinh trưởng nhưng cho năng suất cao hơn. Mỗi năm, số vụ rau sản xuất trong nhà lưới có thể tăng gấp đôi so với sản xuất ngoài trời” - ông Khanh thông tin. Có thể thấy, mô hình trồng rau trong nhà lưới đã mở ra hướng đi mới cho nông dân, hướng đến việc sản xuất và cung cấp nguồn thực phẩm sạch, an toàn, chất lượng, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.

Toàn tỉnh hiện có 13 vùng đủ điều kiện sản xuất rau an toàn được ngành chức năng chứng nhận, với tổng diện tích 2.687ha tại các huyện: Chợ Mới, Châu Thành, An Phú và TP. Long Xuyên; tỉnh đã xây dựng mạng lưới kinh doanh và tiêu thụ rau màu khá đa dạng, phong phú. Ngoài 2 chợ đầu mối lớn là TP. Long Xuyên và TP. Châu Đốc, sản phẩm rau màu sạch còn được tiêu thụ mạnh tại TP. Hồ Chí Minh, TP. Cần Thơ, tỉnh Kiên Giang. Ngoài ra, rau màu của nông dân còn được ký hợp đồng tiêu thụ tại các hệ thống siêu thị, một số hệ thống bếp ăn trong trường học, công ty trên địa bàn tỉnh.

Bài, ảnh: ĐỨC TOÀN

HTX Hoàng Nguyên sản xuất hồ tiêu hữu cơ

Nguồn tin: Báo Đắk Nông

Nắm bắt xu hướng phát triển và yêu cầu ngày càng cao của thị trường, HTX Nông nghiệp thương mại dịch vụ hữu cơ Hoàng Nguyên, (HTX Hoàng Nguyên), thôn 8, xã Thuận Hà (huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông) đã áp dụng quy trình sản xuất hồ tiêu theo hướng hữu cơ.

HTX Hoàng Nguyên được thành lập vào tháng 5/2018, với 35 thành viên hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hồ tiêu theo hướng hữu cơ (không dùng chế phẩm hóa học). Vùng nguyên liệu của HTX hiện nay khoảng 200 ha.

Vườn tiêu đạt tiêu chuẩn Organic xen canh trong rẫy cà phê của gia đình chị Trần Thị Thu là thành viên của HTX

Bà Trần Thị Thu, Giám đốc HTX Hoàng Nguyên cho hay, mục tiêu của HTX đặt ra là hướng tới sản xuất hồ tiêu theo hướng bền vững, hữu cơ, bảo đảm an toàn cho người sản xuất và tạo ra sản phẩm an toàn với người tiêu dùng, từng bước tạo ra sản phẩm đạt các tiêu chuẩn quốc tế để kết nối đầu ra trong nước và xuất khẩu.

Để thực hiện mục tiêu này, HTX đã thành lập bộ phận hướng dẫn kỹ thuật và ban kiểm soát môi trường để hướng dẫn các hộ thành viên sản xuất đúng quy trình. Cùng với đó, để thay đổi lối canh tác truyền thống, Ban Quản trị HTX đã thường xuyên vận động, tuyên truyền mọi người thay đổi phương thức sản xuất, sử dụng các sản phẩm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật thân thiện với môi trường.

Bà Thu chia sẻ: "Lúc đầu các thành viên không mặn mà với sản xuất nông nghiệp sạch, vẫn theo quan điểm mạnh ai nấy làm. Phải trải qua một thời gian dài vận động, tuyên truyền và các thành viên ban quản trị phải tiên phong làm trước, thấy kết quả tốt thì các thành viên HTX mới nghe theo".

Hiện nay đã có 7 thành viên của HTX, với tổng diện tích hồ tiêu 11 ha được chứng nhận đạt chuẩn Organic. HTX cũng đã đi chào hàng tiêu Organic nhiều nơi và đang kết nối với một số thị trường đầu ra với giá 110 ngàn đồng/kg, cao hơn giá tiêu trên thị trường hiện nay khá nhiều. Số diện tích sản xuất hồ tiêu còn lại của HTX đã đạt tiêu chuẩn an toàn và đang hướng tới đạt tiêu chuẩn Organic, mỗi năm thu hoạch được khoảng 270 tấn (giá bán 52 ngàn đồng/kg).

Hiện nay, các thành viên trồng tiêu phải sử dụng trụ sống, bón 100% phân chuồng đã ủ hoai mục với nấm trichoderma. Hàng năm, các thành viên phải rải vôi bột 2 lần trên bề mặt vườn cây để chống nấm xâm nhập, hạn chế mầm bệnh. Hiệu quả của việc thay đổi quy trình chăm sóc, bón phân cho cây là đất trồng tiêu được cải tạo, tơi xốp hơn, tăng khả năng giữ nước và thoát nước. Canh tác theo hướng hữu cơ còn giúp tăng các chủng loại vi sinh vật có ích trong đất, nâng cao sức sống rễ cây, hạn chế mầm bệnh gây hại có trong đất.

Tuy nhiên, quá trình chăm sóc tiêu hữu cơ cũng có những công đoạn khiến các thành viên HTX vất vả và tốn chi phí hơn như khâu làm cỏ. Tính trung bình, tiền công cắt cỏ trên 1 ha sẽ cao hơn tiền sử dụng thuốc diệt cỏ 4 - 5 lần. Thế nhưng, cách canh tác này lại rất thân thiện với môi trường. Đặc biệt, các loài sâu hại, nấm bệnh, rệp sáp ít tấn công, nên chi phí đầu tư lại giảm nhiều lần.

Không chỉ khâu chăm sóc, khâu sau thu hoạch cũng được thành viên HTX quan tâm.

Để tiêu bảo đảm chất lượng không bị lẫn tạp chất, các thành viên trong HTX đã đầu tư xây dựng hệ thống nhà kính để làm sân phơi hồ tiêu với diện tích 100 – 800m2. Ngoài việc tuân thủ nghiêm ngặt quy trình từ sản xuất cho đến thu hoạch, chế biến, HTX còn mang sản phẩm tiêu đi chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ (Organic). Qua test mẫu với 804 chất khác nhau, sản phẩm tiêu của HTX đều đạt kết quả tốt.

Bài, ảnh: Hưng Nguyên

Hậu Giang: Gần 700ha lúa Hè thu bị đổ ngã do mưa, bão

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Thông tin từ ngành nông nghiệp tỉnh, tính đến ngày 12-8, do ảnh hưởng của tình hình mưa dầm kèm theo giông lốc trong những ngày gần đây đã làm cho gần 700ha lúa Hè thu cuối vụ trong giai đoạn chín và sắp thu hoạch trên địa bàn tỉnh bị đổ ngã với tỷ lệ từ 10-70%, ước thiệt hại từ 5-20% năng suất. Tuy nhiên, điều nông dân có lúa bị đổ ngã đang cảm thấy bớt lo lắng là hiện đã nắng trở lại nên bà con đang tranh thủ thu hoạch lúa nhằm giảm bớt thiệt hại và hạn chế hạt lúa bị tiếp xúc với nước quá lâu làm giảm chất lượng.

Tranh thủ trời nắng, nông dân huyện Long Mỹ gấp rút thu hoạch lúa Hè thu.

Đến thời điểm này, diện tích lúa Hè thu chưa thu hoạch còn lại là gần 10.000ha, tập trung ở huyện Long Mỹ, thị xã Long Mỹ và huyện Phụng Hiệp. Cũng qua theo dõi của ngành nông nghiệp tỉnh, hiện lúa Hè thu chưa thu hoạch đang bị chuột cắn phá rất nhiều (gần 200ha), nhất là ở những mảnh ruộng nằm cặp vườn. Do đó, bà con cần có những giải pháp thủ công như giăng màng phủ xung quanh, đào hang bắt chuột… nhằm hạn chế thiệt hại.

Tin, ảnh: HỮU PHƯỚC

Mô hình nhỏ, hiệu quả lớn

Nguồn tin: Báo Hà Nội Mới

Mô hình trồng rau mầm, rau baby của Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Thanh Hà (xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội) là một trong những điển hình phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị. Nhờ chọn hướng đi đúng và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, mô hình này có quy mô nhỏ, nhưng mang lại hiệu quả lớn...

Thu hoạch rau mầm ở Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Thanh Hà. Ảnh: Mạnh Dũng

Khu trồng rau của Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Thanh Hà đang duy trì trồng hai dòng sản phẩm chính là rau mầm và rau baby (loại rau có kích thước ngắn, thân bé, được trồng bằng kỹ thuật canh tác như trồng những loại rau thông thường nhưng phải thu hoạch sớm hơn một nửa thời gian).

Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Thanh Hà Bùi Thị Thanh Hà giới thiệu: Đây là các loại rau mới trên thị trường. Rau mầm được trồng từ các hạt: Cải, muống, hành tây, đậu xanh, đậu đỏ..., sau 4-10 ngày trồng là thu hoạch; rau baby là các loại rau ăn lá phát triển đạt khoảng 40-50% khả năng sinh trưởng của rau thông thường. Do là các loại rau được thu hoạch sớm nên nhiều dinh dưỡng, gần như không có xơ, bã, chỉ rửa sạch là chế biến được món ăn luôn.

Chị Nguyễn Thị Sơn, công nhân Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Thanh Hà cho biết: Các loại rau mầm của hợp tác xã được trồng trên giá thể là than bùn, còn rau baby được trồng trực tiếp xuống đất. Hợp tác xã đã đầu tư nhà lưới, nhà màng, kho lạnh và khu sơ chế, bảo quản rau... theo quy trình khép kín; có hệ thống tưới tiêu tự động, hệ thống cảm biến mưa giúp điều chỉnh lượng nước tưới cần thiết. Điều này giúp hạn chế tối đa sức lao động, tăng hiệu quả sản xuất.

Nói về mô hình, chị Bùi Thị Thanh Hà, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Thanh Hà chia sẻ: Nắm bắt nhu cầu của thị trường đòi hỏi những thực phẩm sạch, ngon nên hợp tác xã đã mạnh dạn đầu tư mô hình trồng rau mầm, rau baby từ năm 2013. Ban đầu mô hình có quy mô nhỏ nhưng cho hiệu quả cao nên đã từng bước được mở rộng và đến năm 2018 hợp tác xã được thành lập. Hiện nay, hợp tác xã có 1,2ha trồng rau ứng dụng công nghệ cao. Trong trồng rau, hợp tác xã không sử dụng phân hóa học mà chỉ sử dụng phân chuồng ủ hoai mục; sử dụng biện pháp bảo vệ thực vật bằng cách cho đất nghỉ giữa các vụ rau để loại bỏ các mầm bệnh trong đất...

Nhờ biện pháp canh tác khoa học nên năng suất cây trồng luôn bảo đảm, ước tính mỗi năm, Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Thanh Hà thu hoạch khoảng 55 tấn rau (mỗi ngày cung cấp ra thị trường khoảng 150kg). Rau của hợp tác xã đã có mặt tại các siêu thị và cửa hàng rau sạch trên địa bàn Hà Nội...

Theo Trưởng phòng Kinh tế huyện Thường Tín Uông Thị Phượng, Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Thanh Hà đã được Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản xuất, sơ chế rau và được Trung tâm Phân tích và Chứng nhận chất lượng sản phẩm nông nghiệp (Sở NN& PTNT Hà Nội) cấp chứng nhận VietGAP. Theo tính toán, với diện tích 1,2ha, trung bình mỗi năm, hợp tác xã thu về gần 4 tỷ đồng. Đây là mức doanh thu rất cao đối với các mô hình sản xuất nông nghiệp hiện nay. Mặt khác, mô hình này phù hợp với sản xuất nông nghiệp ven đô như: Diện tích canh tác nhỏ, lợi thế thị trường tiêu thụ tốt...

Do vậy, huyện Thường Tín đã hỗ trợ làm đường giao thông đến vùng sản xuất của Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Thanh Hà. Đồng thời, tạo điều kiện cho đơn vị tham gia các mô hình khảo nghiệm giống, phân bón… Từ mô hình này, huyện Thường Tín sẽ tiếp tục giới thiệu để người dân trên địa bàn đến học tập kinh nghiệm và khuyến khích các hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, liên kết sản xuất theo chuỗi để nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp...

Nguyễn Mai

Gia Lai: Sơ Pai xây dựng thương hiệu sâm đương quy

Nguồn tin: Báo Gia Lai

Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp Dược liệu Quang Vinh (xã Sơ Pai) là đơn vị tiên phong trồng sâm đương quy ở huyện Kbang (tỉnh Gia Lai) và bước đầu đã thu được thành công. Hiện HTX này đang nỗ lực để xây dựng sâm đương quy thành sản phẩm OCOP của xã Sơ Pai.

Anh Hậu (bìa phải) giới thiệu vườn ương cây dược liệu đương quy. Ảnh: Lê nam

Năm 2017, HTX Nông nghiệp Dược liệu Quang Vinh đưa vào trồng thử nghiệm 1,7 ha sâm đương quy. Nhận thấy loại cây này phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu địa phương, năm 2019, HTX đã mở rộng diện tích trồng thêm 8 ha và làm vườn ươm cây giống rộng 2,5 ha. Anh Phạm Văn Hậu-Giám đốc HTX-cho biết: Đến nay có thể khẳng định, cây đương quy rất thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở Kbang. Đầu tháng 3 vừa qua, tôi đưa sản phẩm sâm đương quy đi kiểm tra tại Viện Dược liệu Trung ương. Kết quả cho thấy, sâm đương quy trồng ở Kbang có hàm lượng tinh dầu cao hơn nơi khác. “Hiện nay, chúng tôi đã sản xuất những sản phẩm gồm: sâm đương quy ngâm rượu, sâm đương quy ngâm mật ong, sâm đương quy sấy khô và trà thảo mộc đương quy. Những sản phẩm này đã được giới thiệu, quảng bá tại Hội chợ nông sản an toàn huyện Kbang, Ngày hội Du lịch Kbang và đang được bày bán tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh. Thời gian tới, HTX sẽ đầu tư thêm nhà máy chế biến và đăng ký bản quyền thương hiệu sâm đương quy Quang Vinh. Sản phẩm này cũng được HTX đăng ký trở thành sản phẩm OCOP của xã Sơ Pai”-anh Hậu nói.

Cũng theo anh Hậu, Kbang có khí hậu nhiệt đới ẩm, đất có độ mùn cao, tơi xốp rất phù hợp với các loại cây dược liệu nói chung và cây đương quy nói riêng. Ngoài ra, cây đương quy còn phù hợp với khí hậu ẩm mát, có cây che bóng. Do đó, với 8 ha đương quy vừa trồng, HTX đã cho trồng xen các loại cây ăn quả để vừa làm cây che bóng, vừa tăng thêm thu nhập. Để có đầu ra ổn định, HTX đang ký kết với Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh thu mua sản phẩm cho bà con với giá 25.000 đồng/kg. Với điều kiện khí hậu thuận lợi, mỗi héc ta đương quy sẽ cho thu hoạch 20-25 tấn sản phẩm, sau khi trừ chi phí người dân có thể thu lãi 150-200 triệu đồng. “Chi phí đầu tư trồng đương quy khoảng 350-400 triệu đồng/ha. Việc trồng loại cây này cũng đòi hỏi kỹ thuật rất kỹ từ khâu xử lý đất, làm đất đến khâu chăm sóc để phòng ngừa bệnh và đảm bảo năng suất. Nếu xử lý đất không tốt sẽ làm cho cây dễ bị bệnh thối nhũn, nhiễm khuẩn làm giảm năng suất, thậm chí mất trắng. Do đó, cây được trồng theo hướng hữu cơ, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học”-anh Hậu chia sẻ.

Vườn sâm đương quy của HTX Nông nghiệp Dược liệu Quang Vinh phát triển rất tốt. Ảnh: L.N

Ông Mã Văn Tình-Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Kbang: Năm 2019, huyện Kbang được UBND tỉnh phân bổ hơn 3,4 tỷ đồng để triển khai chương trình OCOP. Trước mắt, huyện tập trung đầu tư khoảng 3 tỷ đồng vào việc phát triển những sản phẩm sẵn có của địa phương là cây dược liệu gồm mật nhân, đương quy, sâm đá; đồng thời hỗ trợ các cá nhân, HTX, doanh nghiệp đã đăng ký sản phẩm về việc quảng bá sản phẩm và tiến hành chứng nhận quy trình sản xuất an toàn gắn với truy xuất nguồn gốc.

Ông Nguyễn Mạnh Tuyển-Chủ tịch UBND xã Sơ Pai-cho biết: Nhằm góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân, xã đã đăng ký xây dựng sản phẩm sâm đương quy thành sản phẩm OCOP năm 2019 và giao cho HTX Nông nghiệp Dược liệu Quang Vinh triển khai. Thời gian tới, UBND xã sẽ phối hợp với cơ quan chức năng của huyện hỗ trợ HTX trong việc xây dựng, triển khai phương án kinh doanh và xây dựng nhãn hiệu hàng hóa; hỗ trợ về mặt quản lý, xác định nguồn gốc và thương mại hóa sản phẩm thông qua các hoạt động quảng bá sản phẩm, thương mại điện tử, trưng bày tại các hội chợ do huyện, tỉnh tổ chức…

LÊ NAM

Ăn nên làm ra nhờ na VietGAP

Nguồn tin: Nông Nghiệp VN

Nếu như trước đây, người dân huyện Mai Sơn (Sơn La) trồng na theo kiểu mạnh ai nấy trồng, được mùa rớt giá… thì nay, khi tham gia các HTX, được hướng dẫn SX theo quy trình VietGAP, quả na bán được giá gấp đôi, đời sống bà con đổi thay rõ rệt.

Người dân bản Mé Lếch thu hoạch na.

Huyện Mai Sơn có diện tích tự nhiên trên 142 nghìn ha. Trước đây, người dân nơi đây chủ yếu trồng cây ngô, cây sắn. Đây đều là những loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp. Nhận thấy yếu điểm này, từ năm 2016 tới nay, Mai Sơn đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết vận động nhân dân chuyển đổi mô hình sang trồng cây ăn quả giá trị kinh tế cao.

Ông Cầm Văn Thắng, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Mai Sơn cho biết, sau hơn 3 năm triển khai chủ trương chuyển đổi, bộ mặt kinh tế của địa phương có nhiều biến chuyển. Hiện nay, trên địa bàn huyện Mai Sơn có tổng 108 HTX, trong đó có 88 HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Mỗi khu vực HTX được quy hoạch thành vùng trồng riêng, sao cho phù hợp với điều kiện về thời tiết và thổ nhưỡng của loại cây đó.

Để hỗ trợ cho các hộ dân, huyện đã cung ứng phân bón, mở các lớp tư vấn và nâng cao kĩ thuật cho các hội viên HTX. Khi cây na đã cho sản lượng lớn, vấn đề đầu ra của sản phẩm cũng là nỗi lo của toàn huyện. Trước khó khăn này, Mai Sơn đã nhanh chóng kiến nghị tỉnh Sơn La, liên kết với các nhà máy, doanh nghiệp để bao tiêu sản phẩm cho người dân. Ngoài ra, huyện cũng tổ chức các hội nghị tư vấn, hỗ trợ cấp chứng chỉ VietGAP truy xuất nguồn gốc cây ăn quả.

Na Mé Lếch được biết tới có chất lượng, mẫu mã đẹp.

Trong năm 2019, huyện đã cho thí điểm 5 mô hình sản xuất thuộc 5 HTX theo tiêu chuẩn hữu cơ, với mức hỗ trợ 10 triệu đồng/ha. Ông Thắng khẳng định, tiến tới sẽ hỗ trợ tiếp các HTX xây dựng nhà xưởng sơ chế. Đồng thời, đẩy mạnh công tác quảng bá thương hiệu, xúc tiến thương mại cho quả na nói riêng, cây ăn quả nói chung.

Bức tranh chuyển dịch cơ cấu sản xuất ở Mai Sơn thể hiện rõ nét nhất tại HTX Mé Lếch, xã Cò Nòi. Ông Nguyễn Hữu Tứ, Giám đốc HTX cho biết, dù mới thành lập và đi vào hoạt động nhưng HTX đã có 20 thành viên tham gia, tổng diện tích canh tác na khoảng 50 ha.

Theo ông Tứ, HTX đảm nhiệm các khâu kỹ thuật, đầu ra quảng bá sản phẩm, ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với thương lái. HTX cũng đăng ký tem nhãn sản phẩm chung, kiểm soát quy trình sản xuất và cấp tem nhãn truy xuất nguồn gốc cho các hộ dán lên từng quả na.

Ông Nguyễn Bá Tuyết, bản Mé Lếch cho biết tham gia vào HTX từ tháng 5/2018. Theo ông Tuyết, từ khi tham gia vào HTX, sản phẩm na Mé Lếch đã có thương hiệu hơn trước rất nhiều. Thậm chí, khi hỏi về Mé Lếch, người ta chỉ nhớ tới cây na. Ông Tuyết khẳng định, từ khi tham gia vào HTX, các hộ dân được hướng dẫn về kĩ thuật trồng, chăm sóc, thu hái… một cách toàn diện. Nhờ đó, cây na tạo ra hiệu quả và chất lượng cao hơn. Thu nhập của người dân từ đó được nâng cao.

Cán bộ ngành NN-PTNT hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho người dân.

Nói một cách dễ hiểu, trước đây, khi chưa có dự góp mặt của HTX, người dân thường xuyên phải bán na với bị o ép, không quá 20 nghìn đồng/kg. Nhưng tới nay, na được thu mua tại vườn luôn cao hơn 35 nghìn đồng/kg.

Gia đình ông Tuyết có diện tích khoảng 1ha trồng na, lãi ước tính trong năm 2019 dự kiến khoảng 500 triệu đồng. Với vai trò là người sản xuất cũng chính là nhà tiêu dùng, ông Nguyễn Bá Tuyết khẳng định sản phẩm na của Mé Lếch đạt tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm.

Xã viên Đỗ Thị Hoa (HTX Mé Lếch) cho biết, trước kia những kiến thức về kĩ thuật đều phải tự tìm tòi học hỏi. Nhưng kể từ khi tham gia HTX, bà được đi tập huấn các kinh nghiệm về tỉa cành, bón lá, các kĩ thuật chăm sóc cây sao cho hiệu quả cao nhất.

Ngoài ra, các xã viên cũng được đi tham quan các mô hình khác để học hỏi, nâng cao kinh nghiệm sản xuất. Với diện tích 0,5ha, bà Hoa dự kiến sẽ thu hoạch khoảng 7 tấn na, cao gần gấp đôi năm 2018 khi chưa tham gia HTX.

Nhờ có chứng nhận và tem, giá na xuất bán cao hơn so với sản phẩm không tem nhãn. Thời điểm này, HTX xuất bán na với giá 50 nghìn đồng/kg tại vườn. Bình quân 1 ha na cho thu hoạch 14 – 20 tấn quả, doanh thu 700 – 900 triệu đồng, cho lợi nhuận 400 – 500 triệu đồng.

KẾ TÍN

Mang Thít (Vĩnh Long): Diện tích vườn tăng mạnh

Nguồn tin: Báo Vĩnh Long

 

Hiện nông dân ở huyện Mang Thít (tỉnh Vĩnh Long) tích cực cải tạo vườn tạp chuyển sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao.Ảnh minh họa

Theo Phòng Nông nghiệp- PTNT huyện Mang Thít, diện tích vườn toàn huyện hiện có trên 5.900ha, tăng 181ha so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, diện tích đang cho sản phẩm là trên 4.900ha (chiếm 84%), sản lượng thu hoạch ước đạt khoảng trên 36.500 tấn, tăng 382 tấn so cùng kỳ.

Đáng chú ý, từ đầu năm đến nay, diện tích vườn tạp, vườn kém hiệu quả được cải tạo trên 33,6ha và diện tích ruộng lúa chuyển sang vườn trên 149ha. Riêng diện tích trồng thanh long trên địa bàn có khoảng 96,6ha.

Trong khi đó, tổng diện tích vườn ươm trên địa bàn đạt trên 85ha với các loại cây như mít, sầu riêng, chôm chôm, tắc, xoài… Tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt từ đầu năm đến nay đạt trên 579 tỷ đồng, đạt 46% so kết hoạch.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo Phòng Nông nghiệp- PTNT, hiện nay, trên địa bàn xuất hiện tình trạng “nóng” là ồ ạt bán đất ruộng, đất vườn cho các hộ dân ngoài tỉnh khác như Bến Tre, Tiền Giang…

Do đó, giá đất cũng tăng mạnh từ vài chục triệu đồng/công lên 100- 200 triệu/công tùy đất ruộng hay vườn. Nguyên nhân có thể là người dân địa phương không có kinh nghiệm cải tạo vườn cũng như trồng các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao.

Tin, ảnh: NGUYỄN DUY

Kinh nghiệm chăm sóc cây sầu riêng sau mưa bão tại Lâm Đồng

Nguồn tin: Khuyến Nông VN

Do ảnh hưởng của cơn bão số 3 và áp thấp nhiệt đới nên trong thời gian qua tại tỉnh Lâm Đồng có mưa rất to. Mưa to, gió lớn đã ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình sinh trưởng và phát triển nhiều loại cây trồng chủ lực của tỉnh, nhất là cây sầu riêng.

Theo thống kê sơ bộ, có hơn 100 tấn sầu riêng của hàng trăm hộ dân tại các huyện Di Linh, Bảo Lâm, Đạ Huoai và thành phố Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) bị rụng. Để khắc phục úng ngập, giảm thiểu rủi ro trên cây sầu riêng sau mưa bão, nhà vườn cần tiến hành ngay một số biện pháp kỹ thuật dưới đây:

1. Tỉa cành, tỉa chồi vượt và thoát nước chống úng

Sau khi có mưa to và gió lớn thì cây bị lung lay, cành sầu riêng bị gãy nhiều, quả sầu riêng sẽ bị rụng vì thế bà con cần đắp đất, buộc lại những cây bị nghiêng tránh lay động gốc ảnh hưởng đến rễ khi bị ngập; thu nhặt những quả bị rụng đem ra khỏi vườn, đồng thời cắt tỉa những cành bị gãy do gió và cắt tỉa các cành vô hiệu, chồi vượt để hạn chế tiêu hao chất dinh dưỡng, riêng cây mới trồng thì cần khơi lại những cây bị bùn bồi, lấp.

Cây sầu riêng rất mẫn cảm với nước, dễ bị chết và thường không thể chống chịu trong điều kiện ngập nước vì vậy sau khi nước rút, cần tiến hành xới nhẹ nhằm phá váng ở lớp đất mặt, giúp đất thông thoáng. Cần đào mương để nước rút nhanh ra khỏi vườn cây, khơi thông rãnh thoát nước, vun cao xung quang tán không để ngập, úng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, sự phát triển của quả.

2. Cung cấp dinh dưỡng

Do mưa lớn kéo dài, lượng nước bề mặt và dưới bề mặt trong vườn ở tình trạng thừa đối với cây sầu riêng nên bộ rễ cây sẽ có nguy cơ bị úng gây nên hiện tượng vàng lá, nghẹt rễ và chết. Vì vậy, nông dân cần kịp thời giải quyết được mối nguy này bằng cách:

Dùng lân nung chảy (từ 500-600 gram/gốc cây con và từ 1.000 -2.000 gram/cây sầu riêng ở giai đoạn kinh doanh) hoặc các loại phân bón chuyên dùng siêu ra rễ (theo liều lượng khuyến cáo), tưới cách gốc cây 10 - 15 cm nhằm kích thích bộ rễ phát triển, hồi phục lại tốt hơn. Đồng thời sử dụng các loại phân bón lá phun lên thân lá để cây tăng sức đề kháng, hấp thu dinh dưỡng tốt hơn.

Bón phân cân đối là biện pháp chủ động phòng trừ sâu bệnh. Bón phân cân đối đặc biệt là kali, không nên bón đạm làm cây ra nhiều chồi non. Hạn chế bón phân hữu cơ, đặc biệt phân hữu cơ chưa hoai vì sẽ làm vi sinh vật hoạt động mạnh, tiêu hao nhiều oxy của cây trồng khi bị ngập úng.

3. Phòng trừ bệnh hại

Mưa lớn kéo dài là điều kiện thuận lợi để nấm và vi khuẩn gây bệnh tấn công cây qua các vết xây xát, riêng cây sầu riêng còn nhỏ sẽ bị bùn lấp và gió lay sẽ bị lở cổ rễ. Vì vậy, sau khi mưa dứt, tranh thủ lúc thời tiết khô ráo, thân lá cây không còn đọng nước nên phun thuốc phòng bệnh cho cây sầu riêng, đặc biệt chú ý 2 loại nấm bệnh gây hại nặng là nấm Phytophthora palmivora và Fusarium oxysporum.Có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau: Validacin, Topsin, Nativo, Aliette, Mancozeb, Ridomil Gold 68WG, Agri - Fos 400... phun lên thân lá và vùng rễ cây sầu riêng. Nên sử dụng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma tưới gốc theo liều lượng khuyến cáo, từ 1 - 2 lần cách nhau 5 ngày, nhằm giảm thiểu lượng cây bị chết rũ do bộ rễ bị thối hỏng, đồng thời kích thích rễ phát triển nhanh hơn, cây hấp thu dinh dưỡng tốt hơn.

Phạm Thanh Sơn - TT Khuyến nông Lâm Đồng

Tuyên Quang: Lê Hồng Thái được dán tem truy xuất nguồn gốc

Nguồn tin: Báo Tuyên Quang

Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản tỉnh Tuyên Quang vừa hỗ trợ 2 hợp tác xã Tân Hợp và Sơn Trà, xã Hồng Thái (Na Hang) 20.000 tem truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm lê Hồng Thái.

Lê Hồng Thái được dán tem truy xuất nguồn gốc.

Hiện xã Hồng Thái hiện có 49 ha lê, năng suất đạt 4,7 tấn/ha. Toàn tỉnh có 35 nông sản được dán tem truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là công cụ hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng.

Tin, ảnh: Trần Liên

Hà Giang: Nuôi trâu vỗ béo thu lãi 250 triệu đồng/năm

Nguồn tin: Khuyến Nông VN

Đó là mô hình nuôi vỗ béo trâu gắn với trồng cỏ của gia đình anh Lý Đức Hà ở thôn Tà Lượt, xã Thèn Phàng, huyện Xín Mần (Hà Giang).

Qua nhiều năm phát triển chăn nuôi trâu, anh Hà nhận thấy nếu nuôi trâu vỗ béo theo hình thức bán chăn thả sẽ cho hiệu quả kinh tế cao. Với suy nghĩ đó, từ năm 2013, anh Hà đã đầu tư xây dựng 4 dãy chuồng trại kiên cố và bắt đầu mua 6 con trâu giống về nuôi. Để chủ động nguồn thức ăn thô xanh cho đàn trâu, anh Hà đã phát triển trồng gần 1,0 ha cỏ voi trên vùng đồi của gia đình. Sau hơn một năm anh Hà bán 6 con trâu và lãi được gần 120 triệu đồng. Từ tiền lãi do nuôi trâu mang lại, anh Hà tiếp tục mở rộng qui mô phát triển nuôi trâu vỗ béo. Từ năm 2016 đến nay, trong gia trại nuôi trâu vỗ béo của gia đình anh Hà thường nuôi duy trì từ 17 đến 20 con trâu.

Anh Lý Đức Hà bên một dãy chuồng nuôi trâu vỗ béo của gia đình

Anh Hà cho biết: Nếu biết chăn nuôi thì nghề nuôi trâu vỗ béo sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Muốn nuôi trâu vỗ béo thành công thì người chăn nuôi phải có hiểu biết nhất định về kỹ thuật chăn nuôi và phòng trừ dịch bệnh cho đàn gia súc như vệ sinh chuồng trại, phun tiêu độc khử trùng chuồng trại định kỳ và tiêm phòng các loại vacxin….Ngoài ra, để nuôi trâu vỗ béo mang lại hiệu quả kinh tế cao thì người nuôi nên tìm mua và vỗ béo các loại trâu đực có độ tuổi dưới 3 năm vì nếu nuôi vỗ béo trâu già sẽ cho hiệu quả kinh tế thấp. Bên cạnh đó, nghề nuôi trâu vỗ béo cũng cần phải biết con trâu nào có hiện tượng bị nhiễm giun sán để có biện pháp tẩy giun sán kịp thời thì trâu mới lớn nhanh và cho năng suất thịt cao. Bên cạnh đó, trước khi bán ra ngoài thị trường từ 4 – 5 tháng, ngoài thức ăn thô xanh cần cho trâu ăn bổ sung thêm thức ăn tinh như bột ngô, cám gạo có pha thêm nước muối loãng…

Được biết, ngoài chăn nuôi trâu vỗ béo nhốt chuồng, trong một tuần, anh Hà thường cho đàn trâu đi ra các vườn đồi của gia đình từ 3 đến 4 lần để tự kiếm ăn. Đây chính là kỹ thuật để cho trâu tự vận động nhằm giảm thiểu bệnh tật và tăng sức đề kháng với ngoại cảnh.

Với kỹ thuật nuôi trâu vỗ béo khoa học nên đàn trâu của anh Hà thường lớn nhanh, cho năng suất thịt cao và bán được giá cao, có con bán được trên 55 triệu đồng. Trong một năm, anh Hà thường bán trâu thành nhiều đợt và mua trâu đực gầy yếu về nuôi vỗ béo bổ sung.

Khi được hỏi về thu nhập, anh Hà cho biết: Trong một năm gia đình bán ra thị trường từ 8 đến 10 con trâu, bình quân mỗi con bán được từ 40 – 50 triệu đồng và tổng thu nhập đạt từ 400 – 450 triệu đồng, sau khi trừ các khoản chi phí còn lãi trên 250 triệu đồng mỗi năm.

Với những thành tích đạt được trong làm kinh tế từ nghề nuôi vỗ béo trâu, gia đình anh Lý Đức Hà đã được Hội Nông dân và UBND huyện Xín Mần biểu dương và tặng nhiều giấy khen từ năm 2016 đến nay. Ngoài ra, mô hình nuôi trâu vỗ béo của gia đình anh Hà còn là điểm tham quan học tập của các đoàn nông dân, cựu chiến binh, các cấp hội phụ nữ… trong và ngoài tỉnh Hà Giang trong những năm qua.

Phạm Văn Phú - Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Giang

Hữu Lũng (Lạng Sơn): Làm giàu từ nuôi ong lấy mật

Nguồn tin: Báo Lạng Sơn

Những năm qua, người dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã phát triển mạnh nghề nuôi ong lấy mật. Qua đó, góp phần tăng thu nhập, giúp nhiều hộ làm giàu.

Gia đình ông Phùng Văn Bắt là một trong những hộ có thâm niên nuôi ong ở thôn Đoàn Kết, xã Hòa Sơn. Ông Bắt cho biết: Năm 1990, tôi bắt đầu nuôi khoảng 10 – 15 đàn ong lấy mật. Khi đó, tôi tự tìm hiểu và học cách chăm sóc đàn ong qua sách báo, tivi và những người nuôi trước. Đàn ong của gia đình tôi phát triển theo từng năm. Đến nay, tôi đã có 150 đàn ong, trung bình mỗi năm bán được 500 – 600 lít mật, với giá bình quân 200 nghìn đồng/lít, thu nhập hơn 100 triệu đồng/năm. Ngoài bán mật, gia đình tôi còn nhân đàn để bán từ 40 – 50 đàn/năm (với giá từ 800 nghìn đồng – 1,4 triệu đồng/đàn tùy thời điểm). Nhờ đó, tôi có nguồn thu ổn định, cải thiện cuộc sống.

Theo thống kê, toàn huyện Hữu Lũng có hơn 7.000 đàn ong (lớn nhất toàn tỉnh), tập trung chủ yếu ở thị trấn Hữu Lũng và một số xã như: Minh Sơn; Minh Tiến; Đồng Tân; Minh Hòa, Cai Kinh, Hòa Lạc… Trong đó, hộ nuôi ít từ 30 – 40 đàn, hộ nuôi nhiều lên đến 200 – 250 đàn.

Người dân thôn Bến Lường, xã Minh Sơn quay mật ong

Tại Hữu Lũng, nghề nuôi ong lấy mật đã có từ cách đây gần 30 năm. Khi đó, các hộ chủ yếu nuôi nhỏ, lẻ một vài đàn để có nguồn thực phẩm cải thiện, còn dư mới bán ra thị trường. Từ năm 2010 đến nay, nhận thấy điều kiện thuận lợi và hiệu quả kinh tế thiết thực từ nghề nuôi ong, rất nhiều gia đình đã đầu tư phát triển nuôi ong theo hướng sản xuất hàng hóa.

Theo đó, vào mùa xuân (hoa nhãn, hoa vải), người dân thường nuôi tại vườn nhà. Đến mùa thu, nhiều hộ đi gửi ong ở các xã lân cận của huyện để duy trì lấy mật. Năm 2018, sản lượng mật ong của toàn huyện đạt gần 40.000 lít. Đặc biệt, hiện nay; cùng với nuôi ong, nhiều hộ còn kết hợp bán đàn (ong giống) và dụng cụ nuôi ong cho các hộ mới bắt đầu “vào nghề” nuôi ong trên toàn tỉnh. Nhờ đó, rất nhiều hộ có thu nhập cao và ổn định với thu nhập từ 200 – 300 triệu đồng/năm như: hộ ông Đào Khắc Trường, thị trấn Hữu Lũng; hộ ông Nguyễn Văn Dũng, xã Minh Sơn; hộ ông Trần Văn Sính, xã Minh Sơn; hộ ông Hứa Đức Đô, xã Minh Tiến; hộ ông Nông Văn Thơm, xã Hòa Sơn….

Ngay từ những ngày đầu mới phát triển nghề nuôi ong lấy mật, các hộ nuôi ong trên địa bàn huyện đã tích cực đi tham quan, học hỏi mô hình nuôi ong ở các tỉnh lân cận. Cùng với đó, bà con thường xuyên giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với nhau. Nhờ đó, nghề nuôi ong ở Hữu Lũng ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Nếu như trước đây, các hộ nuôi ong huyện Hữu Lũng phải đi tham quan, học hỏi kinh nghiệm ở các địa phương khác thì đến nay, trước sự phát triển mạnh mẽ nghề nuôi ong lấy mật của huyện Hữu Lũng thì người dân nhiều địa phương khác (trong tỉnh và các tỉnh bạn) lại đến Hữu Lũng để học hỏi kinh nghiệm về nuôi ong lấy mật.

Ông Đào Khắc Trường, Chi hội trưởng Chi hội nuôi ong thị trấn, người đã có 30 năm kinh nghiệm nuôi ong cho biết: Để đàn ong cho năng suất cao, chất lượng mật tốt thì một năm nên thay ong chúa 2 lần và chú ý phòng chống bệnh cho đàn ong bằng cách thường xuyên vệ sinh, kiểm tra tổ để loại bỏ côn trùng có hại cho ong…

Ông Lương Văn Bính, Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch Hội Làm vườn huyện Hữu Lũng cho biết: Nghề nuôi ong trên địa bàn huyện đã có từ cách đây rất lâu. Tuy nhiên, khoảng 5 đến 10 năm trở lại đây, phong trào nuôi ong mới thực sự phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, huyện có một chi hội nuôi ong. Ban đầu chi hội chỉ có 7 hội viên, nay đã phát triển lên gần 40 hội viên, tập hợp đông đảo những người nuôi ong trên toàn huyện để học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau. Để nghề nuôi ong phát triển bền vững, thời gian tới, Hội Làm vườn huyện sẽ đề xuất xây dựng thương hiệu, đặt bao bì cho sản phẩm mật ong; đăng ký tem truy xuất nguồn gốc và địa chỉ liên hệ của từng hộ sản xuất để góp phần nâng cao giá trị cho sản phẩm mật ong của huyện.

NGUYỄN PHƯƠNG - KIM HUYÊN

Làm giàu từ trùn quế

Nguồn tin: Báo Đắk Nông

Sản phẩm phân bón hữu cơ từ trùn quế của anh Nguyễn Văn Thành, ở thôn 9, xã Nhân Cơ (huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông) được nông dân ưa dùng vì có thêm tác dụng tái tạo đất đai, bảo vệ môi trường, do vậy đã tạo ra nguồn thu nhập cao và ổn định cho gia đình.

Trang trại sản xuất phân bón hữu cơ ViGreen của anh Thành hoạt động từ cuối năm 2018 với quy mô rộng hơn 2.000 m2.

Diện tích sản xuất phân và dịch trùn quế của anh Thành rộng hơn 2.000 m2

Theo anh Thành, khi xây dựng trang trại anh đã mua 150 tấn trùn quế từ thị trường, với giá hơn 2 tỷ đồng để làm giống. Trùn quế được nuôi bằng cách ủ phân gia súc, gia cầm, rơm rạ... để làm thức ăn và nơi trú ẩn. Quá trình nuôi trùn quế cần tưới nước hàng ngày để giữ độ ẩm phù hợp cho trùn sinh sản.

Mặt khác, trùn quế là loại sinh vật không chịu nắng, mưa, nên trang trại nuôi luôn được che mát. Chú ý bảo vệ trùn khỏi bị kiến, các loại gia cầm tấn công và đặc biệt không để trùn tiếp xúc với các hóa chất. Các loại phân chăn nuôi trùn được ủ hoai mục tự nhiên, không có hóa chất. Sau thời gian 4 tháng, khi trùn đã ăn hết các loại thức ăn thì người chăn nuôi tiến hành thu hoạch phân và dịch (dịch trùn quế cũng là một loại phân sinh học có giá trị cao).

Anh Thành phấn khởi: “Hiện nay, trung bình mỗi tháng, trang trại của gia đình tôi cung cấp ra thị trường 100 tấn phân, 1.000 lít dịch trùn. Chi phí đầu tư cho trang trại trùn quế chỉ tốn lúc đầu tư ban đầu. Sau khi đã xây dựng xong trang trại, người chăn nuôi chỉ cần mua phân chuồng hàng tháng để cung cấp thức ăn cho trùn. Sản phẩm phân, dịch trùn quế không chỉ có giá trị cao mà còn có thị trường rộng lớn, nhiều khách hàng đặt mua với số lượng lớn".

Sản phẩm phân và dịch trùn quế của gia đình anh Thành được thị trường đón nhận

Theo anh Thành, hiện tại phân hữu cơ trùn quế gia đình anh bán với giá 5.000 đồng/kg và dịch trùn quế là 90.000 đồng/lít. Hiện sản phẩm phân và dịch trùn quế của trang trại ViGreen đã được cơ quan chức năng chứng nhận và cấp phép. Vì vậy, sản phẩm dịch và phân trùn quế của gia đình anh được nhiều khách hàng trong và ngoài tỉnh đón nhận. Trung bình mỗi tháng gia đình anh có nguồn thu ổn định từ 70 - 100 triệu đồng.

Theo một số chuyên gia nông nghiệp, phân và dịch trùn quế chứa các khoáng chất nên cây trồng có thể hấp thụ trực tiếp, không như những loại phân hữu cơ khác phải được phân hủy trong đất trước khi cây hấp thụ. Hơn nữa, phân và dịch trùn quế không có mùi hôi thối như các loại phân gia súc, gia cầm; có thể lưu giữ lâu ngày trong túi nilon mà không bị mốc, thuận lợi cho việc bảo quản và vận chuyển. Đặc biệt, trong phân và dịch trùn quế có chứa chất kích thích hữu hiệu, giúp cây trồng tăng trưởng tốt, có thể ngăn ngừa các bệnh về rễ và nhiều bệnh khác của cây trồng. Hiện nay, phân trùn quế thường được sử dụng để kích thích sự nẩy mầm, phát triển của cây trồng, điều hòa dinh dưỡng và cải tạo đất, làm cho đất luôn màu mỡ và tơi xốp.

Trao đổi về mô hình này, ông Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch UBND xã Nhân Cơ cho biết, mô hình nuôi trùn quế để sản xuất phân hữu cơ của anh Thành là mô hình mới và đầu tiên ở xã Nhân Cơ. Qua thực tế cho thấy, các sản phẩm từ trùn quế rất tốt và phù hợp cho người nông dân phát triển nông nghiệp hữu cơ, hạn chế tối đa việc sử dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, góp phần bảo vệ môi trường đất, nước. Thời gian qua, xã Nhân Cơ đã tổ chức cho người dân thăm quan mô hình của anh Thành để học tập, áp dụng. Một số hộ nông dân trên địa bàn xã Nhân Cơ sau khi tham quan mô hình đã sản xuất được phân hữu cơ, vi sinh từ trùn quế.

Bài, ảnh: Phan Tuấn

Hà Nội: 26,9% tổng đàn lợn của thành phố bị tiêu hủy do bệnh Dịch tả lợn châu Phi

Nguồn tin: Báo Hà Nội Mới

Ngày 13-8, Sở NN&PTNT Hà Nội cho biết: Trong tuần (từ ngày 5-8 đến 11-8), bệnh Dịch tả lợn châu Phi phát sinh mới tại 175 hộ, cơ sở chăn nuôi của 4 thôn; làm mắc bệnh, tiêu hủy 5.240 con lợn (trọng lượng 314.380kg).

So với tuần trước (từ ngày 29-7 đến 4-8), dịch bệnh phát sinh tăng 38 hộ, cơ sở chăn nuôi; số lợn hủy tăng 2.847 con.

Rắc vôi bột khử trùng khu vực chăn nuôi lợn.

Tính từ khi bệnh Dịch tả lợn châu Phi phát sinh (2-2019) đến ngày 11-8, bệnh đã xảy ra tại 28.844 hộ chăn nuôi (chiếm 35,7% tổng số hộ, cơ sở chăn nuôi) ở 2.320 thôn, tổ dân phố của 447 xã, phường, thị trấn thuộc 24 quận, huyện, thị xã; làm mắc bệnh và tiêu hủy 504.186 con lợn (chiếm 26,9% tổng đàn), trọng lượng 34.645 tấn. Tổng số lợn nái, lợn đực giống phải tiêu hủy là 66.022 con, chiếm 13% số lợn phải tiêu hủy trên địa bàn thành phố.

Đến nay, đã có 221 xã, phường (chiếm 49,4% số xã, phường có dịch) thuộc 24 quận, huyện đã qua 30 ngày không phát sinh bệnh Dịch tả lợn châu Phi.

Ngọc Quỳnh

Xuất hiện ổ dịch cúm gia cầm H5N1 trên đàn gà

Nguồn tin: Báo Cần Thơ

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Cần Thơ, trên địa bàn thành phố vừa xuất hiện ổ dịch cúm gia cầm A/H5N1 trên đàn gà ở quận Bình Thủy, với số gia cầm phải tiêu hủy hơn 1.500 con.

Sau khi nhận được tin báo đàn gà tại một hộ chăn nuôi trên địa bàn phường Long Hòa, quận Bình Thủy bị cúm, chết, ngành nông nghiệp TP Cần Thơ đã lấy mẫu xét nghiệm và cho kết quả dương tính với dịch cúm gia cầm A/H5N1. Sau đó, Chi cục chăn nuôi và Thú y TP Cần Thơ đã tiến hành tiêu hủy đàn gia cầm trên theo quy định, tổ chức tiêu độc sát trùng khu vực lân cận và tiêm phòng để ngừa dịch bệnh lây lan. Bên cạnh đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn TP Cần Thơ yêu cầu các Trạm chăn nuôi và thú y, UBND các quận, huyện tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia cầm trên địa bàn; khuyến cáo người dân khi phát hiện đàn gia cầm có biểu hiện bất thường cần báo ngay cho ngành chức năng để kịp thời xử lý, không giấu dịch để dẫn đến hậu quả lây lan trên diện rộng. Các địa phương chủ động giám sát dịch bệnh cúm gia cầm trên địa bàn, nhất là những khu vực từng xảy ra dịch bệnh, khu vực có nguy cơ cao nhằm ngăn chặn, xử lý dịch bệnh xuất hiện; phối hợp chặt chẽ với lực lượng thú y tiêm phòng bệnh cúm gia cầm, vệ sinh tiêu độc thử trùng môi trường chăn nuôi và hướng dẫn phòng chống dịch bệnh trên tất cả các hộ chăn nuôi gia cầm…

H.VĂN

Hiếu Giang tổng hợp

 

 

 

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop