Tin nông nghiệp ngày 18 tháng 05 năm 2020

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 18 tháng 05 năm 2020

Tiền Giang: Phòng, chống thiên tai, bảo vệ gần 60.000 ha vùng sản xuất trọng điểm phía Tây

Nguồn tin:  Cổng TTĐT tỉnh Tiền Giang

Mùa khô năm 2020, hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng đã ảnh hưởng gần 60.000 ha đất canh tác tại các huyện, thị phía Tây tỉnh Tiền Giang: Huyện Cái Bè, huyện Cai Lậy, thị xã Cai Lậy, trong đó có trên 23.000 ha lúa vụ Đông xuân, trên 36.000 ha vườn trồng cây ăn trái đặc sản có giá trị kinh tế cao, là nguồn nông sản quan trọng phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.

Trước tình hình trên, địa phương đã khẩn trương triển khai nhiều giải pháp phòng, chống, giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, bảo vệ sản xuất và đời sống nhân dân. Các huyện, thị trong vùng đã đầu tư trên 40 tỷ đồng triển khai thi công các công trình phòng, chống hạn, mặn trên địa bàn gồm nạo vét kênh mương thủy lợi trữ ngọt, đắp đập ngăn mặn, tổ chức các trạm bơm dã chiến chuyển nước ngọt về ứng cứu vườn cây ăn trái, khoan giếng tầng sâu nhằm phục vụ nước sinh hoạt cho nhân dân xã cù lao Ngũ Hiệp,…

Toàn vùng đã nạo vét tổng cộng 30 tuyến kênh mương bị cạn để bảo đảm nguồn nước tưới tiêu và trữ ngọt chống hạn, mặn; sửa chữa 44 cống và đắp 160 đập tạm kịp thời ngăn mặn bảo vệ sản xuất. Huyện Cai Lậy đã khẩn trương nạo vét 20 tuyến kênh mương, sửa chữa và gia cố 10 công trình cống và đắp 24 đập tạm bảo vệ vùng trồng cây ăn trái đặc sản phía Nam Quốc lộ 1.

Các huyện, thị phía Tây tỉnh còn tổ chức hàng trăm điểm quan trắc mặn cũng như kiểm tra chặt chẽ diễn biến chất lượng nguồn nước, mực nước và độ mặn trên các tuyến sông Năm Thôn, sông Tiền, từ hướng sông Hàm Luông (tỉnh Bến Tre) xâm lấn sang và lịch vận hành các cống đập ngăn mặn bảo vệ sản xuất…, thường xuyên thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết và chủ động phòng, chống theo phương châm "4 tại chỗ".

Tại huyện đầu nguồn Cái Bè, Ủy ban nhân dân (UBND) huyện đã trang bị 25 thiết bị đo mặn để bố trí đo, cập nhật độ mặn hàng ngày tại các xã ven sông Tiền như: Đông Hòa Hiệp, Hòa Khánh, Mỹ Lương, Thiện Trí, Mỹ Đức Đông, Mỹ Đức Tây, An Thái Đông, An Hữu, Hòa Hưng, thị trấn Cái Bè. Ngoài ra, thực hiện chỉ đạo của UBND huyện, các xã còn chủ động sử dụng nguồn dự phòng ngân sách cấp xã trang bị thêm hàng trăm bút đo độ mặn, chưa kể, nhân dân địa phương tự trang bị thêm 500 bút đo độ mặn. Qua đó, cập nhật được độ mặn trên sông rạch hàng ngày để chủ động lấy nước tưới tiêu, bảo vệ cây trồng.

Đối với các vùng đã có ô bao ngăn lũ và triều cường trước đây thì tận dụng gia cố đê bao, khẩn trương đóng toàn bộ các cống ngăn mặn, giữ ngọt bảo vệ sản xuất. Một số địa bàn chưa có đê bao hoặc có đê bao nhưng chưa khép kín như: Mỹ Long - Thuộc Nhiêu và các xã cặp sông Tiền như: Tam Bình, Ngũ Hiệp của huyện Cai Lậy thì các địa phương tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các giải pháp tích trữ nước tưới bảo vệ cây trồng, phòng chống mặn xâm nhập từ hướng sông Hàm Luông gây hại. Ngoài ra, trước tình hình hạn, mặn diễn biến phức tạp, tỉnh đã triển khai phương án vận chuyển nước ngọt để tưới ứng cứu các vùng trồng trọng điểm kinh tế vườn đang phải chịu hạn, mặn gay gắt và thiếu nước tưới nghiêm trọng.

Nhờ những giải pháp tích cực và chủ động, đến nay, Tiền Giang đã đảm bảo thu hoạch an toàn 100% diện tích lúa vụ Đông xuân. Đối với vùng chuyên canh cây ăn trái thì chỉ có 2.275 ha bị ảnh hưởng, trong đó 2.186 ha thiệt hại từ 30% đến 70%, còn một ít thiệt hại trên 70%.

Minh Trí

Khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, sản xuất sạch

Nguồn tin: Báo Cần Thơ

Không người tiêu dùng nào lại muốn chọn những loại trái cây đã được phun quá nhiều thuốc hóa học hay chất kích thích… Tuy nhiên, để có trái cây sạch trước tiên phải có sự chung tay, dồng lòng của chính người sản xuất nông sản.

Tháng 4-2019, xoài của HTX Mỹ Xương (tỉnh Đồng Tháp) chính thức xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Ảnh: MỸ THANH

Hướng đến sản xuất hữu cơ

Ông La Văn Nhiều là một trong những hộ tiên phong sản xuất theo hướng hữu cơ tại xã Hòa Mỹ, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Từng trái mãng cầu trong vườn từ khi còn nhỏ đã được ông cẩn thận quét sạch sâu bệnh, sau đó, bọc trong túi cho đến ngày thu hoạch. Với quy trình này, ông giảm được hơn phân nửa số lần phun xịt thuốc. Ông Nhiều chia sẻ: Ngày xưa không ai áp dụng bao trái, nên bị ruồi đục trái, bẻ bán không được. Năm 2014, tôi xem trên mạng thấy nhà vườn Đồng Tháp bao lưới nên tôi làm theo, trái thu hoạch có màu đẹp, bóng, bán giá trên 30.000 đồng/kg.

Để theo đuổi quy trình sản xuất sạch không phải là chuyện dễ dàng. Năm đầu tiên thực hiện sản xuất theo quy trình sạch, ai cũng ái ngại cho ông. Bởi chỉ riêng việc bao trái cho cả vườn như vậy phải tốn trên dưới 16 triệu đồng. Tuy nhiên, với quyết tâm cùng sự chịu khó tìm tòi, học hỏi, sau 5 năm thực hiện, ông Nhiều ngày càng tự tin áp dụng kỹ thuật sản xuất sạch. Sản phẩm của ông luôn được khách hàng trong và ngoài tỉnh tìm mua. Với 850 gốc mãng cầu xiêm, năm trước ông thu hoạch được 24 tấn trái. Tổng số tiền bán ra hơn 260 triệu đồng. Nhớ lại những khó khăn đã trải qua, ông càng thấy quyết định của mình đúng đắn.

Giờ đây, không chỉ có ông Nhiều mà tất cả các thành viên trong Hợp tác xã (HTX) mãng cầu Hòa Mỹ ở huyện Phụng Hiệp đều lựa chọn sản xuất theo hướng VietGAP. Với diện tích sản xuất gần 80ha, tổng sản lượng hơn 1.000 tấn/năm, các sản phẩm đáp ứng tốt cho nhu cầu của thị trường. Hiện nay, tại Hậu Giang, mãng cầu là loại cây trồng đóng góp giá trị kinh tế đứng thứ 3, sau sầu riêng và mít.

Ông Châu Minh Tiến, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Hậu Giang, cho biết: Diện tích, sản lượng mãng cầu xiêm của tỉnh tăng trưởng rất nhanh. 1.000m2 mãng cầu cho thu nhập gấp 5-6 lần làm 1 công lúa hoặc trồng mía, nên nhà vườn rất phấn khởi.

Tại HTX xoài Tân Thuận Tây, TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, những buổi trao đổi kinh nghiệm đã trở nên quen thuộc. Các xã viên cùng nhau bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm. Đến nay, chuyện ghi chép sổ sách từng số liệu hay chi tiết kỹ thuật không còn làm khó bà con nông dân.

Ông Nguyễn Văn Chì, Chủ tịch HĐQT HTX xoài Tân Thuận Tây, TP Cao Lãnh, Đồng Tháp, chia sẻ: HTX trước hết họp Hội đồng quản trị thông qua danh sách thành viên, ai làm ăn tốt, có đất đai, học vấn, tích cực tham mô hình, sẽ được tập trung lại, bàn bạc, nếu bà con thống nhất sẽ áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn được chọn. Còn những bà con cũng là thành viên HTX nhưng không nằm trong danh sách đó thì vẫn sản xuất theo nội dung quy định của HTX để đảm bảo an toàn chất lượng nông sản...

Với cách làm bài bản, khoa học, HTX xã xoài Tân Thuận Tây đã thu hút được 120 thành viên, tổng diện tích 110ha so với 60 thành viên ban đầu. Đặc biệt, hiện HTX có một thành viên là công ty thu mua. Nếu thị trường bất ổn, công ty này sẽ tổ chức mua lại, đảm bảo cho bà con luôn có lãi cao hơn bên ngoài từ 2.000-3.000 đồng/kg.

Vì lợi ích cộng đồng

Ở vùng đất phèn xã biên giới Mỹ Bình, huyện Đức Huệ, Long An vốn chỉ có tràm, khóm, khoai thì nay có một vườn chuối bạt ngàn rộng 240ha chuyên trồng để xuất khẩu đi Nhật, Hàn Quốc. Tại đây, các công đoạn đều được áp dụng máy móc hiện đại, giúp tiết giảm chi phí nhân công và đảm bảo chất lượng sản phẩm.

Ông Võ Quan Huy, Giám đốc Công ty TNHH Huy Long An, cho biết: Chuối cho trái quanh năm, mỗi ngày 2 trang trại có 1.500 buồng chuối, vì vậy khách hàng của công ty rất yên tâm về nguồn cung. Đây là ưu thế rất lớn của công ty trong cạnh tranh.

Bén rễ tại vùng trồng trái cây ở ĐBSCL là hàng loạt nhà máy, cùng những dây chuyền sản xuất hiện đại. Khảo sát cho thấy, hiện cả nước có khoảng 11 nhà máy chế biến có quy mô lớn với tổng mức đầu tư hơn 7.600 tỉ đồng. Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhận định: Một trong những xu hướng thương mại nông sản năm nay là sấy khô, sấy dẻo lên ngôi vì đây là nhu cầu của giới trẻ. Đặc biệt là những thị trường trọng điểm Bắc Mỹ, Trung Quốc, chúng ta hoàn toàn có đủ khả năng để chinh phục.

Năm 2019 vừa qua, nông sản ĐBSCL đón nhận nhiều tin vui khi có 6 loại trái cây của Việt Nam được xuất khẩu chính ngạch vào Mỹ: vải thiều, thanh long, xoài, vú sữa, chôm chôm và nhãn. Theo đó, toàn bộ đều đạt tiêu chuẩn VietGAP, không tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, đạt chuẩn về kích cỡ nên giá cũng cao hơn khoảng 10-15% so với các thị trường khác. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, mở ra triển vọng lớn đối với ngành nông nghiệp của ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung.

Mỗi năm, nhu cầu tiêu thụ trái cây tươi ở Mỹ lên tới 12 triệu tấn, trong khi nước này chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu. Số còn lại tương đương 3,6 triệu tấn phải nhập khẩu. Trong khi đó, lượng trái cây Việt Nam xuất sang Mỹ hiện chỉ chiếm tỉ trọng rất nhỏ. Vấn đề còn lại là sự nỗ lực từ nhiều phía, trong đó mắc xích quan trọng vẫn là liên kết doanh nghiệp - nông dân.

Ông Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết: Doanh nghiệp cũng yên tâm đã có vùng nguyên liệu của mình, mà đặc biệt là vùng nguyên liệu này sản xuất ra trái cây đáp ứng được tiêu chuẩn mà các nước nhập khẩu yêu cầu. Như vậy mối liên kết doanh nghiệp và nông dân mang lại lợi nhuận cho cả 2 bên, ổn định cho sản xuất và xuất khẩu.

Trong từng mảnh vườn, mỗi gốc cây đều lớn lên bằng chính tâm huyết của người nông dân. Tâm huyết đó không chỉ là ước mơ làm giàu cho bản thân và gia đình mà quan trọng hơn, đó là mong muốn mang đến sản phẩm sạch cho cả thị trường nội địa lẫn xuất khẩu. Từ đó, khuyến khích và lan tỏa xu hướng phát triển nông nghiệp xanh, sản xuất sạch vì lợi ích của chính người nông dân và cộng đồng.

HOÀNG KHOA - HUY HIẾU

Giá chanh không hạt giảm

Nguồn tin: Báo Đồng Tháp

Nhiều nông dân trồng chanh trên địa bàn huyện Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp) lo lắng vì giá loại nông sản này đang giảm so với tháng trước.

Nông dân trồng chanh không hạt lo lắng vì giá giảm

Theo nhiều nhà vườn, hiện chanh không hạt loại 1 được thu mua tại vườn với giá 15.000 đồng/kg; loại 2 có giá 8.000 - 9.000 đồng/kg. Mức giá này giảm khoảng 5.000 đồng/kg so với tháng trước.

Theo ông Phạm Minh Cường - Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Tiêu thụ Chanh Cao Lãnh, nguyên nhân khiến giá chanh giảm là do chanh bước vào chính vụ, nguồn cung dồi dào. Bên cạnh đó, hiện nay, nhiều địa phương của tỉnh mở rộng canh tác giống chanh không hạt dẫn đến mất cân bằng cán cân cung cầu.

Trang Huỳnh

Bến Tre: Cây giống vú sữa Mica được bao tiêu đầu ra

Nguồn tin: Báo Đồng Khởi

Đầu tháng 5-2020, Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp Hưng Khánh Trung A, ấp Cái Tắc, xã Hưng Khánh Trung A, huyện Mỏ Cày Bắc (tỉnh Bến Tre) đã ký hợp đồng bao tiêu toàn bộ vườn cây giống vú sữa tím Mica không mủ của gia đình anh Nguyễn Hoàng Lô, ngụ ấp Phụng Châu, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách.

Cây giống vú sữa Mica không mủ có xuất xứ từ huyện Chợ Lách.

Giống vú sữa tím Mica không mủ được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cây đầu dòng vào tháng 2-2020.

Theo đánh giá của cơ quan chức năng, xuất xứ giống vú sữa Mica không mủ từ vườn nhà anh Nguyễn Hoàng Lô là do đột biến gen, cho ra giống cây mới lạ, trái vú sữa hoàn toàn không có mủ, rất ít hạt, ngọt và ăn được cả vỏ. Cùng với kỹ thuật tháp cành lâu đời của người dân xứ sở cây giống Cái Mơn, cho ra cây giống vú sữa Mica giữ được nguyên bản mã gen. Bên cạnh giấy công nhận nguồn giống vú sữa Mica không mủ là cây đầu dòng, anh Nguyễn Hoàng Lô cũng đã đăng ký vườn đầu dòng để sản xuất giống cây quý này.

Bà Nguyễn Thị Vinh - Giám đốc HTX nông nghiệp xã Hưng Khánh Trung A cho biết: HTX đã ký hợp đồng bao tiêu toàn bộ vườn cây giống của anh Nguyễn Hoàng Lô. Đây là giống cây trồng cho trái ngon, chất lượng, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Dự báo thị trường trong nước sẽ ưa chuộng loại trái ngon, lạ này, nhất là các siêu thị. Khi cây vú sữa Mica được trồng đại trà, HTX nông nghiệp Hưng Khánh Trung A sẽ tiến đến bao tiêu về trái để xuất khẩu.

Hiện HTX nông nghiệp Hưng Khánh Trung A đã tiến hành đăng ký nhãn hiệu độc quyền giống vú sữa Mica với Cục Sở hữu trí truệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.

HTX nông nghiệp Hưng Khánh Trung A được thành lập năm 2019, có 43 thành viên với vốn điều lệ 100 triệu đồng và 12 mã ngành sản xuất, kinh doanh, trong đó, chủ yếu là trồng cây ăn quả, nhân và chăm sóc cây giống lâu năm.

Tin, ảnh: Thạch Thảo

Giá trái sầu riêng giảm mạnh

Nguồn tin: Báo Cần Thơ

Do nguồn cung tăng mạnh vì bước vào mùa thu hoạch rộ, giá trái sầu riêng tại nhiều địa phương vùng ĐBSCL giảm mạnh khoảng 15.000-20.000 đồng/kg so với cách nay 1 tháng.

Thương lái thu mua sầu riêng của nhà vườn tại huyện Phong Điền, TP Cần Thơ.

Tại TP Cần Thơ và nhiều tỉnh: Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang… các loại sầu riêng ngon, hạt lép: Ri 6, Mỏn thon… đang được nhà vườn bán cho thương lái và các vựa thu mua chỉ còn ở mức 30.000-40.000 đồng/kg, trong khi trước đây có giá 45.000-60.000 đồng/kg. Giá các loại sầu riêng khổ qua xanh, sầu riêng bí rợ được nhiều nông dân bán cho tiểu thương chỉ còn ở mức 25.000-27.000 đồng/kg. Giá sầu riêng giảm mạnh do nguồn cung tăng và đầu ra xuất khẩu đang chậm so với các năm trước do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Theo nhiều tiểu thương và doanh nghiệp kinh doanh trái cây, thời điểm này không chỉ có sầu riêng tại ĐBSCL bước vào mùa thu hoạch rộ mà nhiều diện tích trồng sâu riêng tại các tỉnh miền Đông Nam bộ: Đồng Nai, Bình Dương… cũng bước vào vụ thu hoạch chính vụ. Năm nay, hạn mặn đã ảnh hưởng làm giảm năng suất và sản lượng trái của nhiều vườn sầu riêng tại một số tỉnh ven biển vùng ĐBSCL, nhất là tại tỉnh Bến Tre và Tiền Giang. Song, nhìn chung nguồn cung trái sầu riêng tại nhiều địa phương vùng ĐBSCL vẫn khá dồi dào do nông dân tăng diện tích trồng trong những năm gần đây và hiện sầu riêng tại nhiều địa phương khá trúng mùa.

Giá giảm khiến nhà vườn trồng sầu riêng kém vui, nhưng lại là cơ hội để nhiều người tiêu dùng trong nước được thưởng thức các loại sầu riêng ngon với mức giá “vừa túi tiền”. Hiện nhiều loại sầu riêng ngon, hạt lép có giá bán lẻ trên thị trường chỉ ở mức 45.000-60.000 đồng/kg, thậm chí thấp hơn.

Tin, ảnh: KHÁNH TRUNG

Khám phá quy trình tạo cây bơ 034 ở Bảo Lâm

Nguồn tin: Báo Lâm Đồng

Từ người nông dân sản xuất quy mô nhỏ, qua nhiều năm tích cực nghiên cứu đã xây dựng và thực hành hoàn chỉnh quy trình tạo giống cây bơ 034 cao sản, đạt giá trị kinh tế cao, góp phần chuyển đổi hiệu quả cơ cấu cây trồng ở địa phương.

Khu vườn bơ 034 chuyên canh 10 ha của Công ty TNHH Cây giống Bảo Nguyên ở xã Tân Lạc, Bảo Lâm mỗi ngày thu hoạch từ 1-1,5 tấn trái chất lượng cao.

Mỗi năm xuất 300.000 cây giống chất lượng cao

Đầu tháng 5/2020, trong lúc bơ 034 trên các vùng nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng vào mùa thu hoạch cao điểm thì vườn cây giống mang tên Bảo Nguyên (Số 1, đường Trần Phú, Bảo Lộc) vẫn đều đặn mỗi ngày bán ra 500-1.000 cây giống bơ này. Chủ vườn Tạ Thị Nhị (sinh năm 1984) nói rằng, vườn cây giống bơ 034 có diện tích 3.000 m2 nằm ngay mặt tiền đường nhựa lớn nên khá thuận lợi cho khách hàng đến mua sỉ để vận chuyển phân phối trong và ngoài tỉnh Lâm Đồng, hoặc mua lẻ về trồng mới trong diện tích đất của mình. Thành lập và đi vào hoạt động hơn một năm vừa qua, toàn bộ cây giống bơ 034 bán ở đây được sản xuất tập trung tại khu vườn ươm trên diện tích 1 ha. Đến khu vườn ươm tập trung trên đường Yết Kiêu, Bảo Lộc vừa nêu, phóng viên được tham quan một vòng khu vực sản xuất cây giống bơ 034 khép kín khá đồng bộ và nhịp nhàng. Đó là các phân khu kết nối với nhau từ công đoạn ủ phân chuồng, xử lý hạt nhân bơ giống đến công đoạn gieo ươm trong nhà lưới, nhà kính, ghép mắt chồi đầu dòng vào gốc cây thực sinh mới, chăm sóc cây giống thương phẩm để xuất vườn. Toàn bộ quy trình được vận hành theo chu kỳ mỗi năm xuất vườn từ tháng 2 đến tháng 9 với 300.000 cây giống bơ 034 cao sản, chất lượng cao.

Anh Lê Sỹ Huế (sinh năm 1980), chủ nhân thương hiệu cây giống Bảo Nguyên cho biết, khu vườn ươm giống bơ 034 bắt đầu sản xuất từ năm 2015 và đến nay quy trình ghép tạo giống bơ 034 mới đã được tổng hợp kinh nghiệm từ vườn ươm xây dựng đầu tiên tại xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, diện tích 1.200 m2. Sau vài năm đầu thử nghiệm và bổ sung các giải pháp kỹ thuật tối ưu nhất, vườn ươm khởi nghiệp đã nhanh chóng ổn định doanh thu mỗi năm bán ra hàng chục ngàn cây bơ 034 cho khoảng 60% khách hàng trong tỉnh Lâm Đồng, 40% khách hàng miền Đông Nam Bộ và khu vực các tỉnh phía Bắc Tây Nguyên. Đặc biệt, trong số 60% khách hàng Lâm Đồng có cả “khách hàng chủ vườn” đã để lại hàng ngày cây giống bơ 034 Bảo Nguyên để trồng theo mô hình trình diễn đối chứng. Đến năm 2010, chủ nhân Lê Sỹ Huế đã chuyển đổi hoàn thành 10 ha cà phê sang trồng bơ 034 chuyên canh tại Thôn 8, xã Tân Lạc, huyện Bảo Lâm. Tại đây trong từng thời kỳ sinh trưởng của từng cây bơ 034 đều được các cán bộ kỹ thuật của ngành nông nghiệp địa phương khảo sát, đánh giá và hướng dẫn nông dân tham quan nhân rộng mô hình. Kết quả vào năm 2014 có khoảng 500 cây bơ 034 trên diện tích 10 ha của anh Lê Sỹ Huế ở xã Tân Lạc được các cơ quan chuyên ngành nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng bình tuyển là cây đầu dòng để khai thác mầm chồi, tạo cây ghép mới cung cấp phần lớn theo nhu cầu chuyển đổi cây trồng trên các diện tích cây công nghiệp dài ngày trong tỉnh Lâm Đồng.

Doanh thu bơ 034 đạt hơn 1 tỷ đồng/ha/năm

Phóng viên vào trong khu vườn bơ 034 chuyên canh 10 ha của anh Lê Sỹ Huế ở xã Tân Lạc, huyện Bảo Lâm và được trải nghiệm thu hoạch năng suất cao trong một ngày đầu tháng 5/2020. Với mật độ mỗi ha trồng khoảng 450 cây chuyên canh, vụ mùa bơ 034 năm nay, anh Huế thu hoạch bình quân 50 kg/cây, giá bán tại vườn trên dưới 45.000 đồng/kg, nhân ra thành doanh thu hơn 1 tỷ đồng/ha/năm. “Hiện tại vườn ươm và vườn sản xuất bơ 034 của hộ gia đình chúng tôi đã phát triển thành quy mô Công ty TNHH Cây giống Bảo Nguyên.

Ước tính trong tuần đầu tháng 5 vừa qua, công ty thu hoạch trái bơ 034 đạt độ chín theo yêu cầu từ 1-1,5 tấn/ngày.

Đã có 15 hộ trồng khoảng 15 ha bơ 034 trong huyện Bảo Lâm, thành phố Bảo Lộc đang liên kết sản xuất ổn định với công ty cũng đang bước vào ngày mùa chính vụ. Toàn bộ nguồn giống bơ 034 của 15 hộ liên kết đều do công ty chúng tôi cung cấp, hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu toàn bộ sản phẩm theo giá thỏa thuận…”.

Nhờ không ngừng nâng cao uy tín, khẳng định chất lượng trên thị trường cạnh tranh, thương hiệu cây giống bơ 034 Bảo Nguyên còn đã và đang hợp tác liên kết xây dựng vùng nguyên liệu hàng trăm ha ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị. Trong đó có 1 ha bơ 034 mô hình bắt đầu thu hoạch năm thứ nhất chính vụ, đạt năng suất và chất lượng tương đương trồng ở vùng sinh thái “bản địa” Lâm Đồng.

Nói về kế hoạch nâng cao giá trị sản phẩm bơ 034 Lâm Đồng trong 3 năm tới, anh Lê Sỹ Huế chia sẻ bằng các số liệu: 20 ha phát triển sản xuất liên kết mới với nông dân Bảo Lộc, Bảo Lâm; 1.000 m2 xây dựng nhà xưởng chế biến ở Bảo Lâm; 3 ha mở rộng vườn ươm và ghép giống mới ở Bảo Lộc và Bảo Lâm…

Anh Trần Hà Hiển, Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Bảo Lâm đánh giá, thương hiệu cây giống Bảo Nguyên là một trong các địa chỉ sản xuất, kinh doanh bơ 034 cây giống và cây thương phẩm đạt hiệu quả cao ở địa phương. Đến nay, Hội Nông dân huyện Bảo Lâm tiếp tục tuyên truyền cho nông dân địa phương tham khảo, lựa chọn sử dụng các nguồn giống bơ 034 ghép mới chất lượng cao để chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt lợi nhuận cao trên diện tích đất của mình…

VĂN VIỆT

Mang cây làm giàu lên vùng ‘đất khó’

Nguồn tin: Báo Hòa Bình

Sau khi tìm tòi, nghiên cứu, chị Phan Tuyết Nga, huyện Chương Mỹ (Hà Nội) đã đem giống cây măng tây lên vùng đất khó ở thôn Bến Nghĩa, xã Phú Nghĩa (Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình).

Mô hình trồng măng tây của chị Phan Tuyết Nga ở thôn Bến Nghĩa, xã Phú Nghĩa (Lạc Thủy) phát triển hiệu quả, cho lợi nhuận kinh tế cao.

Với gần 5 năm phát triển, mô hình trồng măng tây của chị Nga đã đem lại hiệu quả, cho thu nhập khá, từng bước được nhân rộng tại các vùng lân cận.

Đưa măng tây về Lạc Thủy

Chị Nga chia sẻ: "Sau thời gian học hỏi kinh nghiệm trồng, chăm sóc măng tây tại Ninh Thuận, tìm kiếm, khảo sát thực địa, tôi chọn đặt địa điểm vườn tại xã Phú Nghĩa. Nơi đây hội tụ đầy đủ về điều kiện tự nhiên, khí hậu phù hợp; nguồn nước tưới dồi dào từ sông Bôi; hệ thống đường giao thông thuận tiện di chuyển đến các địa phương lân cận như Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa… Tận dụng những tiềm năng, lợi thế đó, tôi bắt tay vào trồng 24.000 gốc măng tây trên diện tích khoảng 1,5 ha. Tuy nhiên, quá trình phát triển mô hình, tôi chưa có kinh nhiệm nên gặp nhiều khó khăn do phát sinh chi phí, tổng vốn đầu tư ban đầu lên đến hơn 1 tỷ đồng. Vừa kiến thiết hạ tầng, xuống giống xong thì trận mưa lũ năm 2016 đã cuốn trôi phần lớn diện tích vườn măng tây, khiến tôi thiệt hại nặng nề về kinh tế”.

Không nản chí trước những khó khăn, thách thức, chị Nga tiếp tục vay mượn vốn của gia đình, người thân để đầu tư, cải tạo vườn măng tây. Nỗ lực tìm tòi, học hỏi qua sách, báo, internet để trau dồi kiến thức, áp dụng KHKT vào quá trình sản xuất, để nâng cao chất lượng cây và sản lượng thu hoạch.

Theo đó, trung bình mỗi ngày, vườn măng tây của gia đình chị Nga có thể thu về khoảng 70 kg, có ngày thu đến 180 kg. Sản lượng trên 1 ha đạt khoảng 16 tấn măng tây, chu kỳ thu hoạch cứ 3 tháng nghỉ 1 tháng. Hiện nay, măng tây loại 1 có giá khoảng 70.000 đồng/kg, loại 2 là 60.000 đồng/kg. Sản phẩm luôn trong tình trạng cháy hàng, không đủ cung ứng cho tư thương, nhà hàng tại khu vực Hà Nội và các vùng lân cận. Tổng thu hàng năm ước đạt khoảng 1,3 tỷ đồng, lợi nhuận đạt trên 300 triệu đồng. Ngoài ra, gia đình chị Nga còn giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 15 lao động địa phương, với mức thu nhập khoảng 6 triệu đồng/người/tháng.

Mở rộng liên kết, bao tiêu sản phẩm cho các hộ trồng măng tây

Ấp ủ mong muốn mở rộng, phát triển hiệu quả mô hình trồng măng tây, đến nay, diện tích vườn của gia đình chị Nga đã được mở rộng lên 3 ha, được trồng đúng tiêu chuẩn với tổng mức đầu tư khoảng 2 tỷ đồng. Chị thường xuyên hướng dẫn công nhân lao động theo dõi quá trình sinh trưởng của cây để kịp thời có những giải pháp đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn, chất lượng.

Để tiếp tục mở rộng quy mô vườn và hỗ trợ các gia đình có nhu cầu phát triển mô hình trồng măng tây, hiện, chị Nga nhận làm cố vấn kỹ thuật cho các vườn tại khu vực tỉnh Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nội với mức phí 10 triệu đồng/vườn. Theo đó, chị Nga sẽ hỗ trợ toàn bộ kỹ thuật, chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn các nhà vườn trong quá trình trồng, chăm sóc cây. Mặt khác, sẽ hỗ trợ bao tiêu toàn bộ sản phẩm của các nhà vườn. Theo thống kê, bình quân mỗi ngày, gia đình chị bao tiêu được khoảng 150 kg măng tây cho các nhà vườn. Ngoài ra, để chủ động nguồn giống, chị Nga lựa chọn mua giống từ bên Mỹ để nghiên cứu, lai tạo giống cây măng tây sinh trưởng tốt, đạt yêu cầu chất lượng. Trung bình mỗi năm, chị xuất bán ra thị trường khoảng 2 vạn cây giống, mức giá bình quân từ 5.000 - 7.000 đồng/cây.

Chị Nga chia sẻ thêm: "Măng tây là loại rau được người dân và các nhà hàng rất ưa chuộng, bởi giàu chất dinh dưỡng, dễ chế biến và dễ ăn. Do nguồn cung không đủ nên sản phẩm của gia đình tôi luôn trong tình trạng cháy hàng. Bởi vậy, tôi luôn nung nấu ý định liên kết với các nhà vườn để mở rộng quy mô, đảm bảo nguồn cung ứng cho người dân, các siêu thị, nhà hàng có nhu cầu”.

Đức Anh

Bắc Giang: Trồng củ đậu cho thu nhập ổn định

Nguồn tin: Khuyến Nông VN

Những năm gần đây huyện Lục Nam (tỉnh Bắc Giang) hình thành nhiều vùng chuyên canh cây rau màu khác nhau như khoai sọ ở Khám Lạng, củ đậu của Bảo Sơn, dưa lê, dưa hấu của Chu Điện, đậu đỗ tại Thanh Lâm…

Việc hình thành những vùng chuyên canh cây rau màu một phần do Lục Nam là vùng đất có nhiều lợi thế để phát triển trồng cây rau màu theo hướng hàng hóa, phần khác do người nông dân nơi đây có kiến thức khá chắc về canh tác rau màu thông qua các lớp tập huấn thường xuyên của hệ thống khuyến nông. Những nghề truyền thống ấy đã giúp bà con nông dân nơi đây có thu nhập ổn định 10-12 triệu đồng/sào (1 sào = 360 m2).

Gia đình chị Giáp Thị Thêm ở thôn Yên Thiện, xã Bảo Sơn là một trong những điển hình trong việc đầu tư phát triển mô hình trồng cây rau màu, trong đó củ đậu là cây trồng chủ lực để phát triển kinh tế. Vụ vừa rồi chị trồng 8 sào củ đậu, nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, cây sinh trưởng phát triển tốt năng suất đạt 3,5 tấn/sào. Với giá bán tại đầu bờ 5000 đồng/kg, sau khi trừ các khoản chi phí đầu tư như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật chị còn lãi hơn 10 triệu đồng/sào.

Theo chị Thêm củ đậu rất dễ trồng song để củ đậu cho năng suất cao, củ to, ăn không xơ bà con nên chọn những chân đất thịt nhẹ, đất cát pha, giàu mùn, tơi xốp, cao ráo dễ thoát nước để trồng (đặc biệt những chân đất mới khai hoang thường cho năng suất rất cao) do củ đậu ưa những chân ruộng lạ. Ngoài việc chọn loại đất phù hợp với từng loại cây trồng thì việc giữ ẩm ruộng và bón phân cho cây cũng rất quan trọng. Việc bón phân luôn được chị cân đối giữa tỷ lệ đạm, lân, kali và phân chuồng hoai mục hoặc phân hữu cơ vi sinh khác.

Cũng theo chị Thêm, trồng củ đậu tuy dễ nhưng người trồng mất nhiều công, nhất là công lên luống trước khi trồng vì luống củ đậu thường rộng 1,5 – 1,8 m, cao 0,3 – 0,4 m. Việc lên luống phải tiến hành làm hai đợt. Để đảm bảo thời vụ trồng các hộ thường tập trung làm đổi cho nhau, vài ba nhà cùng làm, cùng xuống giống. Sau khi trồng được khoảng một tháng cần bấm ngọn lần đầu, sau đó cứ 7-10 ngày dùng dao, kéo cắt tỉa hoa, nụ lộc non vươn dài khỏi mặt luống nhằm giúp cây chuyển nhanh từ giai đoạn sinh trưởng thân lá sang phát triển củ, tăng trọng củ, nâng cao chất lượng củ. Nếu thấy cây hơi cằn, lá vàng thì cần bón thêm phân các loại.

Chị Giáp Thị Thêm đang cắt tỉa ngọn cho ruộng củ đậu của gia đình

Cùng canh tác củ đậu trong thôn với chị Thêm là gia đình anh Bùi Văn Trắng cũng có thu nhập khá từ loại cây này. Anh Trắng cho biết năm nào gia đình cũng trồng 8 - 9 sào củ đậu, biết cây củ đậu không chịu được úng ngập nên anh luôn chú ý lượng nước tưới cho cây chỉ đủ ẩm. Cây củ đậu chủ yếu bị sâu cuốn lá, lở cổ rễ, đốm lá, rầy rệp chích hút nên ngoài việc định kỳ phun thuốc bảo vệ thực vật thì sau mỗi trận mưa, anh thường ra đồng kiểm tra những ruộng củ đậu của gia đình mình để có biện pháp can thiệp kịp thời.

Theo kinh nghiệm của bà con Bảo Sơn củ đậu có thể trồng được nhiều vụ trong năm. Vụ Xuân trồng từ tháng 2 - 3 đến tháng 5 - 6 cho thu hoạch, còn vụ Thu Đông bà con trồng từ tháng 7 - 9 để thu hoạch vào dịp tết Nguyên đán.

Ông Nguyễn Văn Thúy, cán bộ nông nghiệp xã Bảo Sơn cho biết với hiệu quả mà cây củ đậu mang lại, vài năm trở lại đây loại cây trồng này đã dần trở thành cây hàng hóa, mang lại thu nhập đáng kể cho người dân xã Bảo Sơn. Hiện nay bà con trên địa bàn xã đang tiếp tục mở rộng diện tích, đặc biệt là xen canh đối với những chân ruộng ít nước để nâng cao hiệu quả sản xuất tăng thu nhập.

Nguyễn Thanh - Trung tâm Khuyến nông Bắc Giang

Độc chiêu mô hình trồng cỏ kiểu mới tại An Giang

Nguồn tin: Cổng TTĐT SNNPTNT tỉnh An Giang

Lâu nay ở Đồng bằng sông Cửu Long, người ta thường nghe nói chuyện nông dân be bờ đấp ruộng hay lên đê bao trồng lúa, chứ chưa bao giờ nghe chuyện múc đê bao trồng cỏ bao giờ. Thế nhưng ở xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, một lão nông có cách làm kỳ lạ, rất độc đáo đó là ông Phó Văn Tới. Với cách làm kiểu mới, thông minh, ông Tới đã lên đê bao toàn vùng gần chục ha đất trồng lúa trước đây với kinh phí trên 250 triệu đồng để triển khai trồng cỏ chăn nuôi bò. Ông Phó Văn Tới cho biết.”Mặc dù khu này là vùng trồng lúa 3 vụ nhưng khi chuyển mùa từ Thu Đông sang Đông Xuân thì lúc đó nước rất là nhiều, ngập đồng cỏ. Do đó tôi phải làm đê bao, tận dụng hai bờ đê cao tôi trồng mít. Khi lên liếp như thế này thì đất hao. Thí dụ như 5ha còn lại chừng 3ha mặt bằng thôi nhưng bù lại năng suất cỏ rất cao”.

Dù đê bao chiếm diện tích lớn nhưng ngược lại mô hình trồng cỏ của ông Tới rất hiệu quả. Với cách làm thông minh, mới lạ, 3ha diện tích đất còn lại bên trong đê bao, ông Tới đã lên liếp để trồng cỏ xen lẫn trồng cây ăn trái, bên dưới là ao sâu để lấy nước tưới tiêu, đồng thời ông Tới dự kiến thả cá để tăng thêm nguồn thu nhập. Giống cỏ mà ông Tới trồng là giống VA 06 và giống cỏ sả lá lớn. Đây là 2 giống cỏ rất sợ nước, rễ ăn sâu 2 mét nên ông Tới chỉ giữ mực nước ao tốt nhất là 1 mét, hằng tuần cỏ được tưới 1 lần, bên trong ruộng cỏ được chăm sóc, bón phân hữu cơ đều đặn nên phát triển rất nhanh. “Cỏ VA 06 tôi trồng bằng hom, lứa đầu tiên thì khoảng 2 tháng rưỡi mới thu hoạch đợt đầu, từ đó về sau là 45 ngày tôi thu hoạch 1 lần, mỗi một lần thì tính 1ha là 45 tấn. Mình trồng như thế này thì 4 năm, gốc cỏ thối hóa, hao hụt. Lúc đó mình dẹp rồi trồng lại cỏ khác bởi vì tôi có lượng phân hữu cơ rất dồi dào, mỗi năm tôi bón vào đây 2 đợt. Một ha tôi bỏ 20 tấn đến 30 tân. Phân hữu cơ ủ bằng vi sinh nên đất không bị bạc màu”, ông Phó Văn Tới cho biết thêm.

Mô hình trồng cỏ được ông Tới tận dụng làm thức ăn nuôi bò sinh sản và bò thịt. Theo tính toán, một lần thu hoạch bình quân 45 tấn/ha, bò cái sinh sản 1 con mỗi ngày ăn từ 10 đến 15kg cỏ, còn bò sinh sản ăn mỗi ngày 20kg/con. Hiện tại trang trại nuôi bò của ông Tới có 160 con bò, như vậy sản lượng đồng cỏ thu hoạch hằng năm không đủ để chăn nuôi, chính vì vậy ông Tới phải thuê thêm 2ha đất khác để có nguồn dự trữ cung cấp lượng thức ăn kịp thời cho số lượng bò nuôi.

Nói về mô hình trồng cỏ thông minh, ông Nguyễn Thành Tâm, Cán bộ kỹ thuật Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện Châu Thành cho biết “Cỏ VA 06 là đối tượng phục vụ chăn nuôi được Bộ Nông nghiệp và PTNT cho phép trồng. Cỏ VA 06 cho năng suất cao, hàm lượng dinh dưỡng cho chăn nuôi cũng cao. Cây cỏ này là cây cỏ sống trên cạn. Để khắc phục ngập úng vào mùa Thu Đông thì ông Tới lên liếp cao như vầy thì trồng cỏ rất hiệu quả, thứ hai nữa là hệ thống mương tưới rất hoàn chỉnh. Hai điều này kết hơp nhau thì cây cỏ phát triển tốt trong mùa nắng lẫn mùa mưa, không bị ngập úng, đáp ứng được nhu cầu cung cấp thức ăn cho đàn bò Đối với mô hình này tôi nhận định rằng ông Tới làm rất hợp lý và thông minh”.

Đàn bò thịt của ông Phó văn Tới

Nơi sản xuất thức ăn nuôi bò của ông Phó Văn Tới

Tận dụng nước trong đê bao tưới cỏ bằng dụng cụ hiện đại

Bảo Phong

Bạc Liêu: Thời gian xuống giống lúa hè thu chính vụ từ ngày 10/5 - 10/6/2020

Nguồn tin: Báo Bạc Liêu

Theo lịch thời vụ, thời gian xuống giống lúa hè thu chính vụ từ ngày 10/5 - 10/6/2020. Trong đó, chia làm 2 đợt: Đợt 1 gồm các khu vực có mưa sớm hoặc vùng còn nước ngọt trữ trên các kênh, nông dân nên xuống giống từ ngày 10 - 25/5/2020. Còn đối với các vùng có mưa trễ, nguồn nước ngọt trên kênh, rạch còn ít như một phần huyện Vĩnh Lợi, Hòa Bình, một phần huyện Phước Long, Hồng Dân và TX. Giá Rai, Phường 1, Phường 8 (TP. Bạc Liêu) sẽ xuống giống đợt 2 từ ngày 25/5 - 10/6/2020. Các giống lúa chủ lực được ngành chức năng khuyến cáo là OM 5451, OM 4900, OM 6976, OM18, ST24, Nàng hoa 8, Đài thơm 8, Lộc trời 1…

Nông dân cải tạo đồng ruộng chuẩn bị xuống giống lúa hè thu. Ảnh: M.Đ

Ngành chức năng khuyến cáo bà con nông dân xuống giống lúa hè thu đúng lịch thời vụ để né đợt rầy nâu, đồng thời bón phân theo bảng so màu lá lúa nhằm tránh tình trạng bón thừa đạm gây thiệt hại cho trà lúa.

PV

Đồng Nai: Cây Gấc trên vùng đất Long Khánh

Nguồn tin: Cổng TTĐT tỉnh Đồng Nai

Là loại cây có tuổi thọ trung bình từ 15-20 năm, dễ sinh trưởng, thích nghi nhanh với sự thay đổi của thời tiết và có khá nhiều công dụng tốt cho sức khỏe, cây gấc đang được nhiều nông dân TP.Long Khánh (tỉnh Đồng Nai) trồng và tạo ra các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp...

HTX cây gấc Bảo Quang (xã Bảo Quang) và HTX nông nghiệp thương mại dịch vụ Trọng Tín (phường Bàu Sen) của TP.Long Khánh là nơi tạo chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu các sản phẩm từ gấc đạt hiệu quả cao trong thời gian qua.

Nông dân trồng gấc tại xã Bảo Quang, TP.Long Khánh

Đam mê với cây gấc

Là người khởi nguồn phong trào trồng gấc trên địa bàn TP.Long Khánh từ khoảng 4 năm trước, cùng với niềm đam mê và giấc mơ phát triển cây gấc cũng như các sản phẩm từ trái gấc, anh Nguyễn Tiến Chương (phường Bàu Sen, TP.Long Khánh) đã từng bước thực hiện ước mơ với những kết quả đáng tự hào. Để tạo bước đi vững chắc cho trái gấc, nhất là quá trình đưa trái gấc “xuất ngoại”, anh Chương cùng bạn bè, người thân thành lập Công ty TNHH Trọng Tín làm đầu mối tiêu thụ gấc cho các HTX, đồng thời sản xuất ra các sản phẩm từ trái gấc.

Theo anh Chương, cây gấc có giá trị dược liệu cao hơn các loại cây khác như: cà chua, cà rốt và rất tốt cho sức khỏe con người. Đây cũng là loại nguyên liệu được người dân Việt Nam từ bao đời nay dùng trong chế biến món ăn, các loại bánh, xôi vào các dịp lễ, tết, cưới hỏi…bởi sắc đỏ đẹp mắt và nhiều dinh dưỡng. Ngoài ra, gấc còn là một trong những dược liệu dùng để sản xuất ra các loại mỹ phẩm làm đẹp cho phụ nữ rất hiệu quả.

Hiện nay, các sản phẩm nguyên chất từ gấc, như: tinh bột, tinh dầu gấc, cơm gấc tươi, cơm gấc sấy khô, hạt gấc…cho đến các sản phẩm làm đẹp từ gấc là son dưỡng môi, kem dưỡng da, xà bông tắm dưỡng ẩm…do Công ty TNHH Trọng Tín sản xuất đều từ nguồn nguyên liệu gấc được trồng trên địa bàn TP.Long Khánh và một số địa phương trên địa bàn tỉnh, các sản phẩm đang được thị trường đón nhận tích cực.

Tạo thị trường riêng

TP.Long Khánh hiện có khoảng 20 ha gấc, trong đó HTX nông nghiệp thương mại dịch vụ Trọng Tín 10 ha và HTX cây gấc Bảo Quang 5 ha, còn lại được trồng rải rác tại các địa phương trong tỉnh. Cây gấc có tuổi thọ rất lâu, khoảng 1-2 vụ đầu cây gấc cho năng suất trung bình khoảng 20 tấn/hécta, những năm tiếp theo năng suất sẽ tăng dần. Thời gian gấc cho năng suất cao nhất là từ năm thứ năm đến năm thứ mười, đây là giai đoạn cây gấc phát triển mạnh nhất với năng suất trung bình 50 tấn/hécta.

Ông Nguyễn Quý Tích, Giám đốc HTX cây gấc Bảo Quang cho biết, cây gấc tuy dễ sinh trưởng nhưng để gấc đạt năng suất và chất lượng, người trồng cần phải ứng dụng các biện pháp kỹ thuật, nghiên cứu cách trồng gấc thì mới có thể cho kết quả tốt nhất, bảo đảm nguồn dinh dưỡng trong trái. Trước nhu cầu nguyên liệu từ trái gấc ngày càng tăng nên HTX dự kiến sẽ khuyến khích những diện tích cây trồng kém hiệu quả kinh tế của người dân chuyển đổi sang trồng gấc để phát triển vùng nguyên liệu, tạo giá trị kinh tế cho địa phương.

Hiện nay Công ty TNHH Trọng Tín đang cung cấp các sản phẩm từ gấc cho một số đối tác nước ngoài, như: màng gấc sấy được cung cấp cho Đài Loan, dầu gấc cung cấp Thái Lan và Mỹ, hạt gấc thì xuất đi Trung Quốc. Các tiệm bánh trong nước thường sử dụng bột gấc. Gấc tươi thì cung cấp cho các công ty làm màu thực phẩm tự nhiên. Trung bình mỗi tháng có khoảng 4 tấn gấc tươi được công ty cung cấp ra thị trường trong nước.

Phan Anh

Trồng bắp trên nền đất lúa cho thu nhập cao

Nguồn tin: Báo Cần Thơ

Vụ hè thu 2020, nông dân tỉnh Cần Thơ tại phường Tân Hưng thuộc quận Thốt Nốt và một số quận, huyện khác: Bình Thủy, Ô Môn, Thới Lai… đã phát triển trồng bắp trên nền đất lúa giúp mang lại lợi nhuận khá cao.

Vụ hè thu 2020, anh Huỳnh Tuấn ở phường Tân Hưng, quận Thốt Nốt trồng 7 công bắp trên nền đất lúa và được doanh nghiệp bao tiêu với giá 4.200 đồng/kg.

Nhiều ruộng bắp của nông dân được thu hoạch với năng suất khá cao, đạt trên 2 tấn trái tươi/công. Vụ này, giá bắp tươi được đơn vị, doanh nghiệp bao tiêu và thương lái thu mua ngay tại ruộng với giá 4.000-4.200 đồng/kg. Theo nông dân với mỗi công đất trồng bắp trong vụ hè thu này, có thể kiếm lời từ 4-6 triệu đồng/công, cao hơn gấp đôi so với cùng kỳ năm trước làm lúa. Do sản xuất lúa trong vụ hè thu thường chỉ cho năng suất khoảng 600-800kg lúa tươi, giá lúa không quá cao so với giá bắp.

Thời gian trồng mỗi vụ bắp chỉ kéo dài khoảng 65-70 ngày. Do vậy, sau khi luân canh trồng bắp trong vụ hè thu, nông dân có thể chủ động sản xuất sớm vụ lúa thu đông để né lũ. Đồng thời, ruộng lúa sau khi trồng bắp giúp cải tạo đất và tiêu diệt lúa cỏ và các mầm sâu bệnh hại, tạo điều kiện thuận lợi cho lúa trong vụ sản xuất sau trúng mùa, giảm chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.

Tin, ảnh: Khánh Trung

Ở trang trại dê sữa lớn nhất Việt Nam

Nguồn tin: Báo Kon Tum

Sau 5 năm triển khai, đến nay Trang trại dê sữa Măng Đen (xã Măng Cành huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) đã được nhiều người biết đến. Các giống dê ngoại nhập nơi đây đã thích ứng nhanh tại môi trường mới. Cùng đó, việc nhân giống, tạo ra các thế hệ dê sữa mới lần lượt ra đời, mở ra kỳ vọng lớn về sự phát triển không ngừng cho trang trại dê sữa lớn nhất Việt Nam hiện nay với 8.000 con.

Dùng “chuyên cơ” đón dê

Năm 2016, 700 con dê sữa giống đầu tiên được Công ty cổ phần Dược liệu và Thực phẩm Măng Đen (doanh nghiệp chủ quản của Trang trại dê sữa Măng Đen) nhập về từ Australia. Tuy nhiên, vì nhu cầu nhiều nên đến năm sau đàn dê được nhập từ nước Pháp, tất cả đều là giống dê sữa cao sản.

Để “đón” dê về “nhà mới”, Trang trại dê sữa Măng Đen đã phải dùng máy bay vận tải chuyên dụng. Khi về đến Việt Nam, dê lại được “hộ tống” bằng dàn xe riêng. Trong quá trình vận chuyển, xe phải di chuyển chậm, giảm sốc cho dê; cán bộ kỹ thuật phải bám sát, chăm sóc kỹ lưỡng.

Tại nơi đến, Trang trại dê sữa Măng Đen đã xây dựng 10 dãy chuồng to rộng, thoáng mát trên đồi, có mái cao, sàn làm bằng thanh gỗ thưa, chất thải được thu gom bằng lưới; có hệ thống quạt thông gió. Mỗi chuồng được đánh số thứ tự và chia làm nhiều ô để phân loại dê theo giới tính, giống và độ tuổi khác nhau. Mỗi chuồng nuôi trung bình khoảng 1.000 con dê.

Khi đưa dê về ở dưới ngôi nhà mới tại Trang trại dê sữa Măng Đen, chỉ trong thời gian ngắn, đàn dê giống đầu tiên đã sớm thích nghi và bắt đầu cho “quả ngọt”. Lần lượt hàng nghìn dê con ra đời sau 2 năm. Việc sinh nở của dê chủ yếu là tự nhiên, nếu gặp ca khó thì các cán bộ kỹ thuật, có chuyên môn, am hiểu nghề sẽ can thiệp… Sau 2 năm, Trang trại dê sữa Măng Đen không còn phải nhập khẩu dê mới.

Trang trại dê sữa Măng Đen hiện có quy mô 8.000 con. Ảnh: C.N

Theo PGS, TS Đinh Văn Bình, nghiên cứu viên cao cấp về chăn nuôi dê, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu dê, thỏ (Viện Chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nuôi dê đòi hỏi môi trường phải sạch, dê ăn lá, cỏ rơm, đinh lăng, ba kích hay lá sâm… Sữa dê có hàm lượng dinh dưỡng, chất béo cao, là loại sữa phù hợp cho mọi người, nhất là với trẻ suy dinh dưỡng, người ốm đau.

Vùng Măng Đen (huyện Kon Plông) có điều kiện thời tiết, khí hậu phù hợp, lại là vùng đất phong phú, đa dạng các loại cây lá cỏ rất tốt cho dê. Với 8.000 con, Trang trại dê sữa Măng Đen là cơ sở chăn nuôi dê sữa lớn nhất ở Việt Nam, hơn nữa lại ứng dụng khoa học, công nghệ cao- PGS, TS Đinh Văn Bình đánh giá.

Liên kết cùng phát triển

Với mong muốn nâng đàn dê lên khoảng 100 nghìn con, thời gian qua, ngoài việc chăm lo phát triển đàn dê ở trang trại, việc liên doanh, liên kết đang được Trang trại dê sữa Măng Đen đẩy nhanh nhằm tìm kiếm, mở rộng vùng nguyên liệu cho dự án.

Cụ thể, để chủ động nguồn thức ăn cho dê, trang trại đã đầu tư trồng hơn 100ha cỏ; tổ chức thu mua thức ăn cho dê ở trong và ngoài tỉnh. Cùng đó, những người nuôi dê nơi đây còn phối hợp liên kết, đầu tư cho người dân sống quanh vùng dự án để trồng cỏ, bắp hay các loại cây trồng để làm thức ăn cho dê.

Hiện đồng bào DTTS ở vùng sâu, vùng xa trong huyện Kon Plông như Măng Bút, Đăk Tăng hay các xã Tân Lập, Đăk Tờ Lung (huyện Kon Rẫy) và các hộ dân ở Gia Lai đã bắt đầu trồng bắp lấy thân, lá làm thức ăn cho dê.

Nuôi dê đòi hỏi môi trường sạch. Ảnh: CN

Theo PGS, TS Đinh Văn Bình, đàn dê Việt Nam chưa bằng các nước, trong khi điều kiện của mình có thể phát triển. Việt Nam có diện tích rừng lớn, có thể tận dụng cây lá của lâm nghiệp, dưới tán rừng mà nuôi dê. Dê ăn lá sạch, phân thải ra rất tốt cho cây sinh trưởng và phát triển. Ngoài ra, PGS, TS Đinh Văn Bình cho biết cần có chiến lược dài hơi để nhiều năm sau Việt Nam mới có thể có đàn dê lớn, với lượng sữa tốt cung cấp cho thị trường vì hiện nay người dân vẫn chưa có nhiều sữa dê để dùng.

“Liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân trong chăn nuôi dê là cần thiết nhằm góp phần tăng nhanh sản lượng đàn và sữa dê. Biện pháp chăn nuôi dê nông hộ gắn với cơ sở chăn nuôi tập trung có chuỗi chăn nuôi, chế biến khép kín rất là phù hợp với điều kiện thực tế. Với đàn dê 8.000 con, cho lượng sữa hơn 3 lít/con/ngày, cá biệt có những con cho đến 6-7 lít, Trang trại dê sữa Măng Đen đang sở hữu những con dê sữa cao sản, quý, cần chọn lọc cẩn thận để nhân giống”- ông Đinh Văn Bình nhấn mạnh.

Hiện tại, Trang trại dê sữa Măng Đen đã bắt đầu lắp ráp các thiết bị vắt sữa hiện đại, khép kín, công nghệ của Đức để thay thế việc vắt sữa thủ công như những ngày đâu, hiệu quả không cao. Cùng với đó, các dòng sữa tươi cũng đã được chế biến, tạo ra các sản phẩm mới lạ, dinh dưỡng cao để cung cấp cho thị trường. Các sản phẩm như: Sữa thanh trùng 3 con dê, sữa chua… từ Trang trại dê sữa Măng Đen đã đến với thị trường trong nước.

Cao Nguyên

Thoát nghèo nhờ nuôi bò vỗ béo

Nguồn tin: Báo Sóc Trăng

Nhiều năm qua, bà con nông dân trên địa bàn huyện Mỹ Tú (tỉnh Sóc Trăng) phát triển nghề chăn nuôi bò sữa đem lại nguồn thu nhập tốt. Thông qua con bò sữa, người chăn nuôi đã phát triển nuôi thêm con bò thịt, đặc biệt khoảng 10 năm trở lại đây, hộ dân nuôi bò theo hình thức vỗ béo (mua bò lớn mang về nuôi tiếp một thời gian cho bò đạt trọng lượng lớn hơn để xuất bán ra thị trường). Với cách làm trên đã giúp cho hàng chục hộ dân trên địa bàn xã Thuận Hưng (Mỹ Tú) thoát nghèo bền vững.

Ghé thăm ông Lâm Vân, ở ấp Trà Lây 2, xã Thuận Hưng (Mỹ Tú), ông Vân không ngần ngại chia sẻ cách thức nuôi đàn bò vỗ béo mà ông áp dụng nhiều năm qua. Chính nhờ nuôi bò mà từ hộ nghèo, không ruộng đất sản xuất, phải đi làm thuê làm mướn quanh năm thì nay gia đình ông đã thoát nghèo bền vững, có thu nhập mỗi năm hơn 50 triệu đồng nhờ tiền bán đàn bò vỗ béo.

Ông Lâm Vân, ở xã Thuận Hưng (Mỹ Tú) thoát nghèo nhờ nuôi bò vỗ béo. Ảnh: THÚY LIỄU

Chuồng nuôi bò của ông chừng 20m2 nhưng trong chuồng nuôi lúc nào cũng có tầm 4 - 6 con bò. Ông Vân bộc bạch: “Tôi thoát nghèo cũng nhờ tất cả vào mấy con bò nuôi thịt nhưng trước tiên là nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước cho 1 con bò nuôi. Từ con bò cái ban đầu, nó sinh sản ra mỗi năm 1 con và cứ thế nhân đàn lên, 2 con cái sinh sản ra bê nuôi lớn bán thịt. Tôi gắn bó với nghề nuôi bò hơn 15 năm qua”.

“Sau thời gian dài nuôi bò sinh sản, lấy bê con nuôi lớn bán thịt, lợi nhuận đem lại không nhiều nên tôi chuyển sang nuôi bò vỗ béo được 3 năm nay. Cái hay của nuôi bò vỗ béo là chỉ cần người nuôi chịu khó đi tìm nguồn con giống chất lượng rồi đem về thúc cho bò ăn thêm một số loại thức ăn cần thiết nhằm tăng trọng lượng bò. Để bò mau xuất bán thịt, tôi thường mua bò tầm 8 tháng tuổi về vỗ béo, mua bò phải lựa chọn giống như bò lai Pháp, Brahman có tầm vóc lớn, nuôi lớn nhanh và lượng thịt cũng nhiều. Bò 8 tháng trọng lượng tầm 70kg, giá mua khoảng 15 triệu đồng/con nhưng đem về nuôi vỗ béo thêm 6 tháng, trọng lượng bò tăng lên là 120 - 130kg/con. Khi xuất bán được 25 triệu đồng/con, trừ chi phí người nuôi lợi nhuận hơn 10 triệu đồng/con. Tính ra mỗi năm, tôi nuôi vỗ béo và xuất bán được 5 con bò thịt do diện tích chuồng nhỏ. Tuy nhiên phải qua khâu trung gian là thương lái thu mua nên giá chưa được cao, vì vậy mong muốn được kết nối doanh nghiệp tiêu thụ bò thịt để người chăn nuôi yên tâm chăn nuôi” - ông Vân chia sẻ thêm.

“Tính ra nuôi bò vỗ béo khỏe hơn nhiều lần so với nuôi bò sữa. Chỉ việc cho bò ăn đầy đủ các loại thức ăn cần thiết theo hướng dẫn kỹ thuật của ngành chuyên môn, chuồng nuôi phải thông thoáng, làm mùng cho bò ngủ để hạn chế ruồi, muỗi đốt” - anh Nguyễn Thanh Phương, ở ấp Trà Lây 2, xã Thuận Hưng (Mỹ Tú) chia sẻ về nghề nuôi bò vỗ béo mà anh đã thực hiện 3 năm qua. Theo lời anh Phương, trước đây anh nuôi bò sữa, giá sữa không tốt nên lợi nhuận không nhiều. Mà bò sữa mỗi ngày phải vắt sữa, chăm sóc thật cẩn thận, suốt ngày không rảnh tay. Còn đối với con bò vỗ béo muốn thu lợi nhuận nhiều, trước hết người nuôi cần có kinh nghiệm lựa chọn giống bò mua về nuôi. Thường anh chọn mua bò cao sản mà hộ dân trong xã nuôi được 6 tháng - 10 tháng để đem về vỗ béo từ 4 - 8 tháng là xuất bán, lợi nhuận thu tầm 4 triệu - 6 triệu đồng/con. 1 năm bình quân anh vỗ béo và xuất bán 20 con bò thịt, trừ hết các khoản chi phí, anh bỏ túi số tiền hơn 100 triệu đồng.

Trưởng Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Mỹ Tú Phạm Minh Tú cho biết: “Nghề nuôi bò vỗ béo phát triển mạnh trong vài năm gần đây. Trong những lần đi tập huấn cho nông dân chăn nuôi bò sữa, thấy bò sữa đẻ bê đực bà con bán giá thấp nên tôi trình bày với cấp trên về ý tưởng triển khai mô hình nuôi bò vỗ béo. Ban đầu thử nghiệm nuôi 10 con, thấy đàn bò phát triển tốt, người nuôi có lợi nhuận và hiện mô hình nhân rộng tại 2 xã Thuận Hưng, Phú Mỹ với số bò tăng lên 209 con. Đồng thời, nhằm giúp hộ nuôi duy trì phát triển đàn bò vỗ béo, huyện đã tranh thủ các nguồn vốn từ các chương trình, dự án do các tổ chức và tỉnh triển khai trên địa bàn huyện nhằm hỗ trợ cho người nuôi như: tập huấn kỹ thuật, cung cấp thức ăn chăn nuôi bò đến hộ. Hiện tại, huyện đang tiến hành việc liên kết doanh nghiệp tiêu thụ đầu ra cho con bò vỗ béo tại các xã đã thực hiện mô hình. Huyện cũng đang chuẩn bị các bước thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã để đảm bảo số lượng bò thịt cung ứng doanh nghiệp thường xuyên khi đã ký kết bao tiêu. Tới đây, người chăn nuôi bò vỗ béo yên tâm cho sản phẩm bò thịt sau xuất bán và bán trực tiếp qua doanh nghiệp giá sẽ tốt hơn…”.

THÚY LIỄU

Triển vọng từ mô hình nuôi đà điểu

Nguồn tin: Báo Hòa Bình

Theo giới thiệu của Hội Nông dân xã Yên Mông (TP Hòa Bình), chúng tôi đến tìm hiểu mô hình nuôi đà điểu của gia đình anh Phan Sỹ Hải, xóm Mỵ. Đây là người tiên phong nuôi giống "gà khổng lồ” trên địa bàn để phát triển kinh tế gia đình, làm giàu trên chính mảnh đất quê hương. Bước đầu mô hình cho hiệu quả khả quan, mở ra một hướng đi mới trong phát triển kinh tế ở Yên Mông.

Mô hình nuôi đà điểu của gia đình anh Phan Sỹ Hải, xóm Mỵ, xã Yên Mông (TP Hòa Bình) đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Qua tìm hiểu, biết đà điểu dễ nuôi, cho hiệu quả kinh tế cao, trên địa bàn tỉnh có ít hộ nuôi, năm 2013, anh Hải đến Trạm Nghiên cứu chăn nuôi đà điểu Ba Vì học hỏi kinh nghiệm nuôi đà điểu. Nhận thấy đây là loài chim nuôi có tiềm năng lớn, phù hợp với điều kiện đất đai của gia đình, anh Hải liên kết cùng người em trai nuôi 100 con đà điểu sinh sản ở Thanh Thủy (Phú Thọ), cải tạo lại khu đất của gia đình ở xóm Mỵ, xây dựng chuồng trại theo hướng dẫn nuôi đà điểu thương phẩm. Ban đầu, anh Hải đầu tư 20 con đà điểu giống về nuôi thử, tổng chi phí trên 40 triệu đồng, trong vòng 10 tháng xuất bán lãi 25 triệu đồng.

Sau 6 năm đầu tư nuôi đà điểu, đến nay, anh Hải gần như là một chuyên gia nuôi đà điểu. Anh Hải cho biết: đà điểu dễ nuôi, lớn nhanh, ít dịch bệnh, là loại ăn tạp, nuôi đà điểu nhàn hơn nuôi lợn, bò. Thức ăn của đà điểu dễ kiếm, chủ yếu là rau cỏ, cám, ngô, thóc..., là những loại thức ăn sẵn có, dễ trồng, dễ mua tại địa phương. Gia đình tôi cũng trồng cỏ voi để chủ động cung cấp thức ăn cho đà điểu. Sân được rải cát, vì đà điều có nguồn gốc từ sa mạc, thường xuyên tắm cát giúp làm sạch cơ thể, loại bỏ các loại ký sinh trùng ngoài da. Đà điểu có sức đề kháng tốt nên nguy cơ bị chết do dịch bệnh thấp. Tuy nhiên, đà điểu lại rất sợ tiếng ồn, nên trang trại phải tách biệt với khu dân cư. Bên cạnh đó, đà điểu thích chạy nên sân phải có diện tích rộng, nền sân không cần lát gạch mà là nền cát, để đà điểu khỏi trơn trượt khi chạy nhảy. Tính đà điểu rất hiếu động, tò mò, chúng mổ bất cứ thứ gì thấy, dẫn đến tắc ruột và chết, vì vậy, cần nhặt sạch các dị vật trong chuồng nuôi.

Thời gian sinh trưởng của đà điểu thương phẩm từ 8-10 tháng, đạt trọng lượng từ 80 - 100 kg. Hiện nay, đà điểu có giá bán 90 – 110 nghìn đồng/kg hơi, 250 – 270 nghìn đồng/kg thịt. Đà điểu giống có giá bán 2,2 triệu đồng/con. Thị trường tiêu thụ ổn định trong, ngoài địa bàn. Với mỗi con đà điểu, nếu bán hơi người chăn nuôi lãi khoảng 4 triệu đồng, bán thịt lãi 5 triệu đồng. Hiện, tại cơ sở ở xã Yên Mông, anh Hải nuôi 50 con đà điểu thương phẩm đã đến kỳ xuất bán, 150 con đà điểu giống. Anh tập trung phát triển đà điểu sinh sản để sản xuất đà điểu giống nuôi thịt, cung cấp cho các hộ chăn nuôi tại địa phương. Khi đà điểu được 2 năm tuổi sẽ bắt đầu đẻ trứng, chu kỳ 1 con đẻ 40-45 quả trứng/năm. Anh Hải đã đầu tư máy ấp trứng để sản xuất con giống.

Không chỉ chăm lo phát triển kinh tế gia đình, anh Hải luôn sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ các hộ nông dân trong xã về kinh nghiệm chăn nuôi đà điểu. Để khuyến khích các hộ trong xã đầu tư nuôi đà điểu thương phẩm, anh hướng dẫn kỹ thuật, cung cấp con giống, thức ăn, thuốc thú y tới các hộ dân, bao tiêu đầu ra. Hiện có 5 hộ dân trong xã đang nuôi đà điểu thương phẩm. Đây thực sự là mô hình kinh tế có hiệu quả, sẽ được nhân rộng trên địa bàn xã trong thời gian tới.

Đinh Thắng

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-28) 37445447-(84-28) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop