Tin nông nghiệp ngày 19 tháng 10 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 19 tháng 10 năm 2019

Bắc Kạn: Bạch Thông bước vào mùa quýt

Nguồn tin: Báo Bắc Kạn

Vào tháng 10 hằng năm, các xã phía Tây của huyện Bạch Thông (tỉnh Bắc Kạn) lại nhộn nhịp bước vào vụ thu hoạch quýt. Mặc dù hiện quýt đầu vụ vẫn còn xanh ương, nhưng do nhu cầu tiêu dùng của thị trường nên người dân bắt đầu hái tỉa.

Một điểm tập kết, phân loại quýt tại xã Dương Phong trước khi tiêu thụ.

Dọc quốc lộ 3B những ngày này đã xuất hiện nhiều điểm bán quýt, điểm cân mua tập trung của thương lái. Đây là những thương lái quen thuộc ở các tỉnh như Thái Nguyên, Hưng Yên, Lạng Sơn, Cao Bằng. Bắt đầu có những chuyến hàng quýt đầu tiên tiêu thụ ra ngoài tỉnh. Giá quýt đầu vụ thường khá cao nên nhiều hộ dân tranh thủ hái bán, dù đã có khuyến cáo không nên thu hái khi còn quả xanh ương. Giá quýt loại 1 hiện là 11.000 đồng/kg, loại 2 khoảng 5.000 đồng/kg, trung bình là 6.000 đồng/kg.

Chị Hoàng Thị Thúy ở thôn Nà Coọng, xã Dương Phong cho hay: “Bình quân một ngày tôi bán lẻ ven đường được trên chục cân quýt, giá lúc cao đạt 15.000 đồng/kg, bây giờ khoảng 10.000 đồng/kg, còn nếu bán đổ đồng thì giá thấp hơn”. Điều mà chị Thúy lo lắng là tính rủi ro từ cây quýt, vì mấy năm nay giá cả thấp, chưa kể tác động từ thiên tai có thể làm cho quýt bị rụng nhiều". Đó cũng chính là lý do khiến người dân tranh thủ hái quýt khi quả chưa chín rộ.

Hiện nay, người dân chủ yếu bán tự do cho các thương lái. Thị trường tiêu thụ phần nhiều là các tỉnh ngoài, còn trong tỉnh chủ yếu bán nhỏ lẻ. Anh Nguyễn Văn Luyến, một thương lái ở Lạng Sơn đã nhiều năm thu mua quýt tại vùng Quang Thuận, Dương Phong cho biết: “Chúng tôi thu mua quýt của bà con đã nửa tháng nay. Tính đến thời điểm này đã được 15 chuyến, số lượng hơn 50 tấn. Giá thị trường tăng thì sẽ thu mua với giá cao, nhưng nếu thị trường có nhiều hoa quả Trung Quốc về Việt Nam thì giá quýt chắc chắn bị ảnh hưởng. Nhìn chung, so với năm ngoái giá không chênh lệch là bao”. Là người có kinh nghiệm buôn bán hoa quả lâu năm, anh Luyến nhận định quýt của Bắc Kạn khá kén người dùng vì nhiều vị chua, đối tượng sử dụng chủ yếu vẫn là học sinh, sinh viên, người lao động, công nhân… Để bán ra đại trà, phục vụ sở thích của mọi tầng lớp người tiêu dùng thì quýt Bắc Kạn vẫn chưa đáp ứng được.

Những trái quýt đầu vụ đã được bày bán ven đường.

Đồng chí Nông Văn Bình- Phó Chủ tịch UBND xã Quang Thuận cho biết: “Quýt của xã năm nay sai quả hơn năm ngoái, sản lượng ước đạt 6.500 tấn, tăng khoảng 1 tấn so với cùng kỳ. Thời điểm tháng 10, bà con đã bắt đầu thu hái dù quả còn chưa chín. Xã đã tuyên truyền, khuyến cáo nhưng bà con lo sợ giá thấp khi vào chính vụ nên vẫn tranh thủ bán sớm”.

Tính đến nay, diện tích quýt của Bạch Thông lên đến 1.500ha, tập trung tại 3 xã là Quang Thuận, Dương Phong và Đôn Phong, trong đó số đang cho thu hoạch chiếm trên 1.200ha. Mặc dù sản phẩm quýt đã có chỉ dẫn địa lý, được quảng bá, giới thiệu đến nhiều nơi nhưng quýt ở Bạch Thông vẫn chưa có đầu ra ổn định, hình thức tiêu thụ cơ bản phụ thuộc vào thương lái nên giá cả bấp bênh. Điều mà người dân mong muốn nhất là tìm đầu ra ổn định để canh tác bền vững/.

Thu Trang

Sóc Trăng: Ngắm vườn dừa oằn trái của anh Lê Văn Liên ở xã An Thạnh Nhất (huyện Cù Lao Dung)

Nguồn tin: Cổng TTĐT tỉnh Sóc Trăng

Về xã An Thạnh Nhất (huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng), nhiều người rất thích thú khi được chiêm ngưỡng vườn dừa xiêm xanh Mã Lai của chàng trai thế hệ 9X với khoảng 150 cây dừa đang cho trái.

Nói về những cây dừa xiêm xanh Mã Lai của mình, anh Lê Văn Liên (SN 1990) ở ấp An Trung, xã An Thạnh Nhất cho biết: Năm 2013, sau một thời gian lao động ở Malaysia, anh trở về quê và được người bạn ở xứ Mã biếu hai trái dừa giống loại dừa xiêm xanh. Mang về, anh nghĩ trồng cho vui chứ Cù Lao Dung là vùng có diện tích trồng dừa lớn nhất của tỉnh Sóc Trăng. Không ngờ, chỉ sau 2 năm, hai cây dừa này bén đất và cho trái nhiều khiến bà con ở địa phương rất ngạc nhiên. Từ hai cây dừa đó, anh chọn trái tốt để làm giống thay cho giống dừa quen thuộc ở địa phương vốn đã lão hóa, sản lượng thấp, chất lượng không cao. Đến nay, vườn dừa của anh đã có trên 150 cây đang cho trái.

Dẫn tôi ra vườn dừa, anh Liên giới thiệu: Loại dừa này rất dễ trồng, chăm sóc khỏe, ít bị sâu bệnh vì có sức đề kháng cao, chỉ trồng 2 năm là cho trái. Một năm mỗi cây cho từ 16-18 buồng (quày) trái, mỗi buồng bình quân 40 trái. Mỗi trái cho khoảng 0,5 lít nước. Cầm trái dừa anh Liên đã chặt sẵn, tôi uống thử thì thấy nước dừa này ngọt hơn các loại dừa ở địa phương, vỏ dừa rất mỏng, cơm dừa dày và dẻo.

Anh Lê Văn Liên bên vườn dừa

Theo anh Liên, trước đây anh bán dừa tươi dùng uống nước cho thương lái, giá khoảng 80.000 đồng/12 trái. Tính bình quân mỗi trái 6.000 đồng thì mỗi cây dữa một năm cho anh thu nhập khoảng 4 triệu đồng. Như vậy, mỗi năm với 150 cây dừa, anh có thu nhập trên nửa tỉ đồng mà chi phí đầu tư không cao như các loại cây trồng khác. Sau khi biết anh có giống dừa siêu trái này, nhiều người đã tìm về Cù Lao Dung đặt mua dừa giống nên sau này anh chuyển sang ươm bán giống. Hiện anh bán tại vườn mỗi cây giống là 60.000 đồng và nhiều khách hàng đã trả tiền trước, đặt mua cách đây cả năm nhưng vẫn không đủ cung cấp.

Ông Lê Minh Đương - Phó Chủ tịch UBND huyện Cù Lao Dung cho biết: Cù Lao Dung là huyện có diện tích trồng dừa lớn nhất tỉnh Sóc Trăng. Huyện xác định cây dừa có triển vọng phát triển lâu dài với người dân địa phương. Vì thế huyện đang khuyến khích người dân trồng dừa xen với vườn cây ăn trái để tạo thêm thu nhập, lấy ngắn nuôi dài. Đồng thời, huyện cũng chú trọng phát triển cây dừa cũng như vườn cây ăn trái gắn với phát triển du lịch của địa phương.

Cũng theo ông Đương, cây dừa đã hình thành và phát triển lâu đời ở Cù Lao Dung, là cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển cây dừa để tạo thu nhập ổn định cho người dân.

Cao Xuân Lương

Quảng Trị: Trồng bơ trái vụ cho thu nhập khá ở Tân Liên

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Thời gian gần đây, nhiều nông dân ở xã Tân Liên, huyện Hướng Hóa (tỉnh Quảng Trị) đã lựa chọn giống bơ trái vụ để trồng vừa phục vụ gia đình vừa xuất bán tăng thu nhập, cải thiện đời sống. Bơ là loại cây dễ trồng, quả giàu chất dinh dưỡng lại phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng ở địa phương. Việc nhân rộng mô hình trồng bơ trái vụ ở Tân Liên đã góp phần làm đa dạng hóa cây ăn quả ở huyện miền núi.

Trồng bơ trái vụ mang lại thu nhập khá cao cho nông dân ở Tân Liên, Hướng Hóa

Gia đình anh Hồ Văn Quý ở thôn Hiệp Hòa, xã Tân Liên là một trong những hộ đầu tiên trồng bơ trái vụ ở địa phương. 7 năm trước, nhận thấy trên thị trường rất ưa chuộng loại bơ booth 7 nên anh Quý tìm hiểu thêm qua sách báo, ti vi, mạng internet và quyết định đầu tư trồng 300 gốc loại cây này trên diện tích 5.000 m2. Quá trình trồng, anh chăm sóc cây theo đúng quy trình kĩ thuật nên bơ booth 7 trong vườn nhà anh phát triển tốt. Đến thời điểm này, tuy mới bước vào đầu vụ nhưng vườn bơ của gia đình anh Quý đã được các đại lí lớn trong và ngoài tỉnh đến đặt hàng. Trung bình 1 kg bơ trái vụ, gia đình anh bán với giá từ 45 - 55 nghìn đồng, ước tính sau vụ thu hoạch này vườn bơ của anh sẽ cho thu hoạch gần 2 tấn mang lại thu nhập gần 100 triệu đồng. Ngoài trồng bơ trái vụ, anh Quý còn trồng thêm các loại bơ hạt, bơ 034…

Anh Quý chia sẻ: “Chúng tôi mua giống bơ booth 7 từ Tây Nguyên về. Đây là loại cây dễ trồng, thích hợp với đất đỏ ba dan, ít bị sâu bệnh, không phải dùng thuốc bảo vệ thực vật để phun cho cây. Bước đầu cây bơ booth 7 tại vườn nhà tôi phát triển tốt. Bơ booth 7 bắt đầu cho thu hoạch từ tháng 10 - 12 hằng năm. Ưu điểm của bơ booth 7 là quả to và đều, trung bình khoảng 2 - 3 quả/kg, ruột vàng, giá trị dinh dưỡng cao. Đặc biệt, bơ booth 7 có thời gian thu hoạch muộn hơn giống bơ thuần, giúp người trồng có thể làm nhiều vụ mùa khác nhau. Nhờ trồng bơ trái vụ, gia đình tôi có nguồn thu nhập khá hơn trồng các loại cây khác”.

Bơ booth 7 là giống cây trồng nhập ngoại. Loại cây này rất dễ trồng, tiết kiệm công chăm sóc, kháng sâu bệnh tốt và cho năng suất, chất lượng cao. Cây trồng sau 3 - 4 năm cho thu hoạch, bình quân mỗi cây có thể cho từ 200 - 300 kg quả/năm. Đặc biệt, trồng bơ trái vụ thu nhập cao gấp 2 - 3 lần bơ chính vụ. Với lợi thế đó, những năm trở lại đây, nhiều hộ dân ở xã Tân Liên trồng xen canh hoặc chuyển đổi một phần diện tích tiêu, cà phê già cỗi, kém hiệu quả để đầu tư trồng bơ booh 7. Hiện toàn xã Tân Liên có hơn 10 hộ nông dân mạnh dạn đầu tư chuyển đổi diện tích một số cây trồng kém hiệu quả sang trồng bơ booth 7, hộ trồng nhiều thì vài trăm gốc, hộ ít vài chục gốc. Hiện nay, đang vào vụ bơ trái vụ, thương lái đến tận vườn thu mua nên người trồng bơ ở Tân Liên không phải lo lắng về đầu ra của sản phẩm. Nhờ trồng bơ booth 7 người dân trong xã có thêm nguồn thu nhập khá.

Mô hình trồng bơ trái vụ đã mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế, vươn lên xóa đói giảm nghèo bền vững của nông dân xã Tân Liên nói riêng, huyện Huyện Hướng Hóa nói chung. Ông Lê Quang Đãi, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Liên cho biết: “Thời gian qua, nhiều hộ nông dân trên địa bàn xã đã đổi mới tư duy, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp mang lại giá trị kinh tế cao. Đặc biệt trong đó, mô hình trồng bơ trái vụ bước đầu đem lại thu nhập, làm phong phú các loại cây trồng ở địa phương. Tuy nhiên, Hội Nông dân xã cũng khuyến cáo người dân cần có kế hoạch chuyển đổi cây trồng hợp lí, không vì lợi nhuận trước mắt mà trồng bơ trái vụ ồ ạt, nên xen canh cây bơ với các loại cây trồng khác nhằm tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác, tránh nguy cơ thua lỗ trong trường hợp độc canh cây trồng. Thời gian tới, Hội Nông dân xã sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức tập huấn kĩ thuật trồng, chăm sóc cây bơ trái vụ cho nông dân; tạo điều kiện để nông dân vay vốn ưu đãi đầu tư phát triển sản xuất những giống cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao”.

Kăn Sương

Chư Pưh (Gia Lai): Xây dựng vùng chuyên canh cây ăn quả

Nguồn tin: Báo Gia Lai

Dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng vùng chuyên canh cây có múi theo hướng VietGAP” triển khai trên địa bàn huyện Chư Pưh, Gia Lai được kỳ vọng mở ra một hướng đi mới thay thế dần cây hồ tiêu, góp phần thực hiện mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp của địa phương.

Ông Nguyễn Long Khánh-Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Chư Pưh-cho biết: Đến cuối năm 2017, toàn huyện có 29,5 ha cây có múi gồm: 7 ha cam sành, 3 ha bưởi da xanh, 19,5 ha chanh. Cũng theo ông Khánh, trong bối cảnh giá cả một số nông sản chủ lực như: hồ tiêu, cao su xuống thấp, nhiều vùng trồng hồ tiêu khó tái canh do nhiễm nấm bệnh, sâu hại thì phát triển trồng cây có múi được xem là hướng đi mới. Tuy nhiên, hiện sản lượng cam, bưởi trồng được chỉ mới đáp ứng khoảng 10% nhu cầu tiêu thụ tại huyện.

Cây cam giống CS1 được trồng tại thôn Phú Bình (xã Ia Le, huyện Chư Pưh). Ảnh: N.S

Trước yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đầu năm 2019, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện chủ trì triển khai thực hiện dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng vùng chuyên canh cây có múi theo hướng VietGAP”. Dự án được Viện Nghiên cứu rau quả (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) hỗ trợ ứng dụng công nghệ. Kinh phí thực hiện khoảng 10 tỷ đồng, trong đó, ngân sách trung ương hỗ trợ trên 3,6 tỷ đồng, ngân sách huyện trên 3,6 tỷ đồng, còn lại là vốn đối ứng của người dân; thời gian thực hiện 48 tháng. Hai loại cây trồng được dự án hỗ trợ là bưởi đỏ Hòa Bình và giống cam chín sớm CS1 trên diện tích 30 ha tại 2 xã Ia Le, Chư Don. Trong đó, xã Ia Le trồng 20 ha bưởi đỏ Hòa Bình, xã Chư Don trồng 10 ha cam chín sớm CS1. Đây là 2 loại cây trồng đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống chính thức, có năng suất cao hơn so với các giống đối chứng 15-30%, chất lượng quả tốt. Theo đánh giá của đoàn khảo sát Viện Nghiên cứu rau quả và Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam thì điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của huyện Chư Pưh rất phù hợp với cây cam CS1 và cây bưởi đỏ Hòa Bình, giúp cây có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, cho sản phẩm chất lượng.

Là một trong những hộ tham gia dự án, ông Nguyễn Văn Cảm (thôn Phú Bình, xã Ia Le) cho hay, cách đây gần 2 tháng, gia đình ông được hỗ trợ trồng 0,5 ha bưởi đỏ Hòa Bình. Đến nay, cây đã bắt đầu nảy chồi mới, phát triển tốt và tỷ lệ sống gần như tuyệt đối. Ngoài hộ ông Cảm còn có 19 hộ khác trong thôn cũng tham gia dự án, mỗi hộ trồng 0,5 ha. Đây là những hộ có diện tích hồ tiêu chết từ 2 ha đến 4 ha, cuộc sống khó khăn. “Chúng tôi xác định việc tham gia dự án là cơ hội để chuyển đổi cây trồng, đồng thời an tâm sản xuất khi sản phẩm đầu ra được dự án cam kết sẽ kết nối với các doanh nghiệp, siêu thị tiêu thụ với giá cả ổn định”-ông Cảm phấn khởi nói.

Trao đổi về dự án xây dựng vùng cây ăn quả có múi theo tiêu chuẩn VietGAP, ông Nguyễn Long Khánh cho biết: Hiện 20 hộ dân thôn Phú Bình (xã Ia Le) và 5 hộ dân ở thôn Ngăng, Thơh Ga B (xã Chư Don) đã trồng được 15 ha bưởi và cam. Theo tính toán, đến năm 2022, diện tích này sẽ cho thu bói 75 tấn quả (tương đương 5 tấn/ha). Sau khi kết thúc dự án, sản lượng quả đạt khoảng trên 100 tấn các loại. Với giá bán ổn định ở mức 35-40 ngàn đồng/kg, người dân sẽ có nguồn thu nhập khá.

Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Chư Pưh khẳng định: Năm 2020, dự án sẽ tiếp tục hỗ trợ thêm nhiều hộ dân trên địa bàn xã Ia Le và Chư Don trồng 15 ha cam, bưởi. “Kết quả đạt được của dự án là cơ sở để nhân rộng trên toàn bộ diện tích đất sản xuất nông nghiệp phù hợp phát triển cây có múi tại các thôn, làng khó khăn ở các xã Ia Le, Chư Don, Ia Hla, Ia Hrú. Đồng thời, giúp địa phương xây dựng mới và duy trì mô hình sản xuất cây ăn quả an toàn theo quy trình VietGAP, góp phần cải thiện môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất, tiến tới hình thành các vùng sản xuất tập trung có quy mô lớn, tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu thị trường”-ông Khánh nêu hướng phát triển.

NGUYỄN SANG

Vĩnh Long: Hỗ trợ chứng nhận GlobalGAP, VietGAP cho 13 HTX

Nguồn tin:  Báo Vĩnh Long

Toàn tỉnh Vĩnh Long hiện có 83 hợp tác xã (HTX) nông nghiệp và 1.201 tổ hợp tác với trên 68.600 thành viên tham gia trên tổng diện tích 31.226ha.

Hiện có 26 HTX nông nghiệp thực hiện hợp đồng liên kết với doanh nghiệp nhằm cung ứng vật tư nông nghiệp đầu vào và dịch vụ tiêu thụ, bảo quản chế biến nông sản cho thành viên và nông dân địa phương. Có 4 HTX được hỗ trợ chứng nhận GlobalGAP và 9 HTX được hỗ trợ chứng nhận VietGAP.

Chương trình thí điểm hoàn thiện, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới vùng ĐBSCL theo Quyết định 445 của Thủ tướng Chính phủ đã được triển khai với nội dung như: tăng cường cán bộ ĐH về hỗ trợ 14 HTX, xây dựng mô hình liên kết gắn với tiêu thụ theo chuỗi giá trị tại 3 HTX và xây dựng kết cấu hạ tầng cho 6 HTX.

Công tác phát triển kinh tế và tổ chức lại sản xuất được gắn kết chặt chẽ với thực hiện đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng NTM. Hiện, toàn tỉnh có 59 xã đạt tiêu chí tổ chức sản xuất, chiếm tỷ lệ 66% tổng số xã xây dựng NTM.

NGUYỄN XUÂN

Làm giàu từ sản xuất nông nghiệp ‘sạch’

Nguồn tin: Báo Đắk Lắk

Mạnh dạn thay đổi phương thức canh tác trong sản xuất nông nghiệp, anh Phạm Văn Đồng ở thôn 4 (xã Ea Kao, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) đã có thu nhập cao và ổn định từ mô hình đa canh.

Đang làm việc cho một công ty xây dựng tại TP. Hồ Chí Minh, năm 2015 anh Đồng quyết định “bỏ phố về vườn” làm nông nghiệp hữu cơ bền vững. Với diện tích 2,5 ha trồng cà phê và hồ tiêu lâu năm của gia đình, anh Đồng xác định khó khăn lớn nhất khi bắt tay vào cải tạo vườn cây là kỹ thuật, vì vậy anh chủ động tìm đến các hộ dân đi trước học hỏi kinh nghiệm, tham dự các lớp đào tạo nghề cho nông dân, tìm hiểu thông tin, kỹ thuật trên Internet… để áp dụng vào thực tế sản xuất của gia đình.

Anh Đồng giữ lại 1,7 ha cà phê trồng xen hồ tiêu đang thời kỳ kinh doanh ổn định, chuyển từ sản xuất thông thường sang sản xuất hữu cơ bằng cách sử dụng phân chuồng ủ trấu hoai mục có bổ sung các chế phẩm vi sinh có ích để bón định kỳ 3 đợt/năm. Trong thời gian kiến thiết lại vườn cà phê xen hồ tiêu, anh trồng xen kẽ cây muồng đen, về lâu dài nhằm tạo tán ở tầng trên để che nắng, chắn gió cho các cây phía dưới, giữ độ ẩm, tiết kiệm lượng nước tưới. Dần dần, vườn cây xen canh phát triển ngày càng tốt, hạn chế được sâu bệnh, cây trồng luôn sai quả, năng suất năm sau cao hơn năm trước.

Anh Phạm Văn Đồng (xã Ea Kao, TP. Buôn Ma Thuột) đang chăm sóc vườn cà phê.

Với 8 sào diện tích cà phê đã già cỗi còn lại, anh Đồng mạnh dạn nhổ bỏ, cải tạo lại đất và chuyển đổi sang trồng giống chuối Nam Mỹ. Anh Đồng cho biết, đây là giống chuối dễ trồng, thích nghi với mọi điều kiện thời tiết, chỉ cần tưới đủ nước, chăm bón đầy đủ là cây khỏe mạnh và phát triển nhanh. Sau khi trồng 10 tháng, chuối bắt đầu ra hoa, tạo buồng và khoảng 2 tháng sau đó cho thu hoạch. Từ lần thu đầu tiên, cứ cách 6 tháng cây lại cho thu một lần, liên tục sau 5 - 7 năm mới phải thay thế bằng lứa mới.

Vườn chuối Nam Mỹ của gia đình anh Phạm Văn Đồng (xã Ea Kao, TP. Buôn Ma Thuột).

Anh Đồng chia sẻ: “Quá trình canh tác theo hướng sản xuất sạch giúp giảm chi phí, tăng năng suất, tạo ra nông sản chất lượng cao, an toàn cho người tiêu dùng và môi trường. Toàn bộ quá trình chăm sóc vườn cây tôi chỉ dùng phân bón hữu cơ để bón cho cây, đầu tư lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt nhằm tiết kiệm tối đa lượng nước. Đến nay, vườn cà phê xen hồ tiêu sau cải tạo đã cho năng suất ổn định, mỗi năm cho thu trên 5 tấn cà phê, 3 tấn hồ tiêu; còn 8 sào chuối Nam Mỹ đang cho thu 2 vụ/năm, tổng sản lượng đạt 60 tấn. Sau khi trừ chi phí, mỗi năm vườn cây cho gia đình thu lãi trên 500 triệu đồng”.

Thùy Linh

Trình diễn thử nghiệm máy gặt đập liên hợp mini trên vùng đất lúa – tôm

Nguồn tin: CTV Cà Mau

“Máy gặt đập liên hợp mini là loại máy khá thích hợp cho vùng đất lúa – tôm, rất dễ vận hành”. Đây là đánh giá của đại biểu và đông đảo bà con nông dân sau khi tham dự hội thảo trình diễn thử nghiệm máy gặt đập liên hợp mini PuHaTa trên vùng đất lúa – tôm của hộ ông Lê Văn Bình, ấp Nhà Máy B, xã Tân Phú, huyện Thới Bình vào ngày 15/10.

Xã Tân Phú, huyện Thới Bình là một trong những khu vực có diện tích sản xuất lúa – tôm nhiều của tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, đã qua, việc thu hoạch của bà con nông dân đều thực hiện bằng tay với chi phí thuê mướn nhân công khá cao. Do đặc điểm của mô hình sản xuất lúa – tôm là nền đất rất yếu nên máy gặt đập loại lớn không thể hoạt động được. Việc đưa máy gặt đập mini vào sử dụng sẽ giúp bà con nông dân giảm được chi phí thu hoạch, giảm thất thoát lúa và giải quyết được vấn đề thiếu lao động hiện nay.

Máy gặt đập liên hợp mini PuHaTa của Công ty TNHH PiCom Việt Nam. Máy có trọng lượng chỉ khoảng 600kg. Thân máy được làm bằng Inox chống ăn mòn, chống rỉ sét, cứng và bền bỉ. Ước tính, công suất gặt của máy khoảng hơn 3ha/ngày, tiêu hao nhiên liệu khoảng 1,2 lít dầu/giờ. Giá máy 160 triệu đồng.

Đa số bà con nông dân đánh giá đây là loại máy khá thích hợp với vùng đất lúa – tôm. Tuy nhiên, bà con nông dân cũng cho rằng, máy cần được cải tiến thêm bộ phận làm sạch, dàn chạy,… để đảm bảo hoạt động hiệu quả hơn./.

PV: Lê Diễm

Góc nhìn của nông dân sản xuất lúa đặc sản

Nguồn tin: Báo Sóc Trăng

Phải khẳng định rằng, canh tác lúa đặc sản một thời gian dài đã góp phần tăng lợi nhuận trên cùng diện tích đất sản xuất so với việc canh tác các giống lúa thường. Nhưng tầm 2 vụ mùa trở lại đây, do ảnh hưởng của giá cả thị trường, việc sản xuất các giống lúa đặc sản không đem về nguồn thu tốt như trước nên nông dân bắt đầu suy nghĩ đến việc chuyển đổi giống lúa nhưng vẫn đảm bảo làm các giống lúa chất lượng, có đầu ra ổn định. Đó là lời chia sẻ chân tình của bà con nông dân khi nói đến thị trường tiêu thụ các giống lúa đặc sản mà nông dân đang thu hoạch và xuất bán.

Đang xem máy gặt đập liên hợp thu hoạch lúa trên đồng ruộng của gia đình, anh Quách Vũ Khanh ở ấp Đào Viên, xã Viên Bình (Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng) tâm tình: “Tôi làm ruộng tính đến thời điểm hiện tại là 25 năm. Ngày trước, nông dân chủ yếu canh tác lúa mùa 1 vụ/năm, sau này khi các kênh thủy lợi nội đồng tạo nguồn và có các con đập ngăn mặn, trữ ngọt nên sản xuất được 2 vụ lúa/năm thì nông dân chuyển sang làm các giống lúa thường, năng suất khá nhưng giá bán không cao. Vì vậy, để tăng thu nhập thì tầm 15 năm trở lại đây, nông dân làm giống lúa ST5 rồi dần chuyển sang các dòng lúa đặc sản, hiện tại là giống lúa RVT. Nhờ làm các giống lúa trên mà lợi nhuận sau mỗi vụ thu hoạch rất tốt, đặc biệt không phải lo khâu đầu ra, cứ đến vụ thu hoạch thương lái họ đến tận ruộng thu mua lúa".

Cánh đồng lúa đặc sản của nông dân xã Viên Bình (Trần Đề) vào vụ thu hoạch rộ. Ảnh: Thúy Liễu

"Nhưng trong 2 vụ mùa: Đông - Xuân (2018 - 2019) và Hè - Thu hiện tại, giá lúa đặc sản xuống thấp nên nông dân lo lắng. So cùng thời điểm, vụ Hè - Thu (năm 2018), giá lúa được thương lái thu mua 7.700 đồng/kg, cao hơn thời giá hiện nay là 5.600 đồng/kg, chênh lệch lên tới 2.200 đồng/kg, tính phần lợi nhuận thấp hơn cùng kỳ năm trước tầm 2 triệu đồng/công. Còn giá hiện tại trừ hết các khoản chi phí, lợi nhuận từ 800.000 đồng đến 1 triệu đồng/công. Tôi có tổng số 27 công đất làm giống lúa RVT, năng suất lúa 6,5 tấn/ha và với mức giá thị trường thu mua như thế, vụ tới tôi sẽ chuyển đổi làm giống lúa Đài Thơm 8 nhằm đảm bảo lợi nhuận” - anh Khanh chia sẻ thêm.

Anh Nguyễn Quốc Phú ở ấp Đào Viên, xã Viên Bình (Trần Đề) thì bộc bạch: "Làm lúa lời không nhiều nên các hộ nông dân chỉ có vài ba công đất làm lúa đặc sản trong vụ Hè - Thu này xem như thua, nông dân cũng biết tất cả do giá thị trường “năm hên năm xui”. Vì các năm trước đó, nông làm lúa đặc sản đều “trúng mánh”, giá cao ngất ngưởng 7.200 đồng - 7.700 đồng/kg, mức giá này cao hơn các giống lúa thông thường tầm 1.500 đồng - 2.000 đồng/kg. Chỉ có 2 vụ mùa qua, giá lúa đặc sản rớt xuống dưới mức 6.000 đồng/kg nên nông dân đã thật sự lo lắng".

Cũng theo lời chia sẻ của anh Phú thì anh có 10ha làm giống lúa RVT, nếu cùng thời điểm vụ mùa trước lái họ tới mua, ấn định ngày cắt là họ đến vận chuyển lúa. Nhưng năm nay, đến ngày hẹn họ kêu mình dời ngày lại tầm 5 ngày, thêm mấy ngày lúa chín nhiều hơn dẫn đến hao hụt sản lượng lúa sau thu hoạch tầm vài trăm kílôgam lúa/công, giá lúa đã thấp, lúa chín nhiều nhẹ ký nên giảm năng suất. "Tôi đang thu hoạch lúa, ước sản lượng 7 tấn/ha, với 10ha tổng sản lượng ước đạt 70 tấn, trừ hết các khoản chi phí lợi nhuận tầm 80 triệu - 100 triệu đồng. Tính ra, tôi đã bán lúa đặc sản ở mức giá 5.300 đồng/kg đầu vụ và vụ này là 5.400 đồng/kg, giá này tính ra nông dân thu lãi thấp nên vụ tới tôi sẽ chuyển đổi sản xuất lúa OM18 và Đài Thơm 8” - anh Phú cho biết thêm.

Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nguyễn Thành Phước cho biết: “Trong nhiều năm qua, việc sản xuất lúa của bà con nông dân đã có chuyển biến tích cực trong việc chuyển đổi các giống lúa thường sang các giống lúa chất lượng cao và lúa đặc sản. Phải khẳng định rằng, trong một thời gian dài giá luôn bình ổn và giữ vững ở mức cao, đảm bảo lợi nhuận tốt cho bà con nông dân. Chúng tôi cũng đã triển khai Dự án Lúa đặc sản tại một số địa phương để trình diễn mô hình, hỗ trợ nông dân áp dụng kỹ thuật sản xuất lúa, giảm chi phí, nâng cao thu nhập, hướng sản xuất lúa theo hướng hữu cơ, tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học nhằm nâng giá trị hạt lúa đạt tiêu chuẩn an toàn. Đồng thời, tại các mô hình triển khai có sự kết nối doanh nghiệp để tiêu thụ lúa đầu ra cho người dân. Tuy nhiên, cái khó của ngành chuyên môn là không thể dự báo trước giá thị trường của từng giống lúa theo từng năm nên gặp khó khăn trong việc khuyến cáo cho bà con nông dân nên hay không nên làm giống lúa gì, nhưng đứng góc độ chuyên môn khuyên nông dân là dù sản xuất bất cứ loại giống lúa nào, trước tiên hãy áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật ngành chuyên môn hướng dẫn, xuống giống đúng lịch thời vụ và tuân thủ quy hoạch vùng sản xuất lúa tại các địa phương…”.

Thúy Liễu

Phú Yên: Sản xuất trồng trọt ứng phó với biến đổi khí hậu

Nguồn tin: Báo Phú Yên

Nông dân tham quan mô hình trồng đậu phộng trên đất trồng lúa kém hiệu quả tại xã Hòa An (huyện Phú Hòa). Ảnh: HOÀI NAM

Mới đây, ngành Nông nghiệp tổ chức hội thảo khoa học chuyên đề Sản xuất trồng trọt ứng phó với biến đổi khí hậu. Tại hội thảo, các chuyên gia kỹ thuật đã giải đáp, trao đổi với bà con nông dân về cách phòng trừ sâu bệnh hại mới xuất hiện, đồng thời đưa ra các mô hình trồng trọt ứng phó với biến đổi khí hậu trong giai đoạn hiện nay.

Theo Sở NN-PTNT tỉnh Phú Yên, hiện ngành Nông nghiệp thu hút nhiều lao động, giải quyết việc làm và góp phần rất lớn trong xóa đói, giảm nghèo. Tuy nhiên, do hạn hán, lũ lụt gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp, chỉ trong 9 tháng đầu năm 2019, nắng hạn làm gần 1.800ha cây trồng sinh trưởng kém hơn cùng kỳ, dẫn đến năng suất, sản lượng sụt giảm theo; trong đó cây lúa giảm 5%, sắn giảm 6,5%, đậu các loại giảm 4,2%... Cùng với đó xuất hiện nhiều loại sâu bệnh hại mới, nông dân chưa từng gặp nên khó khăn trong phòng trừ, dẫn đến thiệt hại nặng trong sản xuất nông nghiệp.

Xuất hiện sâu, bệnh hại mới

Cuối tháng 5 vừa qua, ngành Nông nghiệp phát hiện sâu keo mùa thu gây hại 0,6ha bắp tại xã Sơn Giang (huyện Sông Hinh); đến tháng 9, gây hại 120ha bắp tập trung tại các huyện Đồng Xuân, Tây Hòa, Phú Hòa, Đông Hòa, Tuy An, Sông Hinh, Sơn Hòa và TP Tuy Hòa. Đây là loại sâu mới xâm nhập, có khả năng di trú xa, gây hại nặng cho bắp và nhiều loại cây trồng khác.

Ông Trần Văn Tấn, nông dân trồng bắp ở xã Sơn Thành Tây (huyện Tây Hòa), cho hay: Tôi trồng 1.000m2 bắp, sâu xuất hiện cắn nát đọt. Tôi chưa từng thấy con sâu nào cắn phá bắp như loại sâu này. Tôi phun 3 lần thuốc, sâu có giảm nhưng vẫn còn lượng lớn cắn phá. Cuối cùng, tôi phải cày phá bỏ trồng cây mới.

Còn bệnh khảm lá virus phát sinh mạnh gây hại nghiêm trọng các vùng trồng sắn của tỉnh trong 2 năm qua. Chỉ tính riêng tháng 6 vừa qua, bệnh khảm lá gây hại giai đoạn cây con phát triển thân, lá gần 680ha sắn. Cụ thể, tại huyện Sông Hinh, bệnh khảm lá virus hại 500ha, huyện Sơn Hòa 34,3ha, Tây Hòa 70ha.

Ông Bùi Văn Dũng trồng sắn ở xã Ea Trol (huyện Sông Hinh) cho hay: Vừa rồi nắng nóng kéo dài, tôi trồng 3 lần giống đều bị nắng làm khô hom. Khan hiếm giống nên nhiều người mua sắn giống ở các tỉnh phía Nam về bán, khi sắn mọc lên thì bị khảm đọt quăn lại. Gia đình tôi trồng 0,5ha sắn, khâu cày bừa, giống đầu tư gần 2 triệu đồng xem như mất trắng.

Theo TS Nguyễn Thanh Phương, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp duyên hải Nam Trung Bộ, nông dân cần chủ động phòng trừ bệnh khảm lá virus hại sắn bằng cách không mua giống từ các vùng có dịch bệnh khảm lá, giống không rõ nguồn gốc. Khi sắn nhiễm bệnh, địa phương vận động các hộ nông dân tiêu hủy kịp thời để không lây lan ra ruộng khác...

Còn đối với sâu keo mùa thu, sức ăn của sâu này rất mạnh, sâu này không ăn một loại cây trồng mà ăn nhiều loại cây trồng như bắp và lúa. Một cá thể sâu trưởng thành có thể ăn hết phần ngọn cây bắp trong vài ngày. Sâu tuổi nhỏ thường tập trung nhiều cá thể trên một cây với mật độ từ 4-8 con/m2.

Cây bắp nếu đã bị sâu này gây hại thì rất khó phục hồi, vì chúng thường cắn đứt ngọn. Nông dân phun thuốc đặc trị khi sâu còn nhỏ mới tiêu diệt được chúng, còn khi sâu lớn phun thuốc sâu không chết lại tốn chi phí mua thuốc phun nhiều lần, ảnh hưởng môi trường.

Ứng dụng các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu

Những năm qua, lũ lụt liên tiếp xảy ra làm nhiều diện tích đất dọc sông Kỳ Lộ (huyện Đồng Xuân) bị bồi lấp và bào mòn, sau khi nông dân cải tạo đất thì chưa thích nghi với cây trồng. UBND huyện Đồng Xuân triển khai đề tài khoa học thuộc dự án Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn ngắn ngày và kỹ thuật thâm canh rải vụ trên 4 loại giống sắn là KM419, KM444, KM440, KM397.

Mô hình triển khai với quy trình kỹ thuật thâm canh hướng tới bền vững, qua đó tập huấn cho nông dân canh tác sắn ven sông Kỳ Lộ. Cuối vụ năng suất thu hoạch trong mô hình đối với giống KM419 là 54,2 tấn/ha; giống KM444 là 50,1 tấn/ha; KM440 là 47 tấn/ha; KM397 là 45,7 tấn/ha. Trong khi đó, sắn trồng ngoài mô hình đối chứng năng suất chỉ đạt 25,5 tấn/ha.

Ông Trần Quốc Huy, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Đồng Xuân, cho hay: Thông qua dự án đã chuyển giao kỹ thuật canh tác bền vững cho cộng đồng ở vùng đất dốc và đất ngập lụt ven sông Kỳ Lộ thuộc 2 xã Xuân Quang 2 và Xuân Quang 3, trên diện tích 83,5ha, với 145 hộ tham gia. Hiệu quả dự án đã giúp chính quyền cấp xã và cộng đồng nâng cao năng lực trong sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu, xây dựng và chuyển giao đầy đủ quy trình kỹ thuật canh tác, giúp các hộ nông dân chủ động áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật trồng trọt đem lại hiệu quả.

Theo Trung tâm Khuyến nông Phú Yên, cùng với triển khai ứng dụng các biện pháp về giống, ngành Nông nghiệp triển khai các biện pháp tưới nước tiết kiệm tăng năng suất cây trồng trên vùng đất khô hạn. Theo đó, năm 2018, mô hình tưới nước cho cây mía bằng biện pháp tưới phun mưa được triển khai tại xã Ea Chà Rang (huyện Sơn Hòa), với 4 bộ thiết bị tưới cho mía, 4 hộ tham gia.

Tại thời điểm vận hành, hệ thống gồm 20 béc, mỗi lần tưới hoạt động 5-10 béc, do đó 1ha chia làm 2-4 lần tưới trên diện tích 2.500-5.000m2, thời gian tưới từ 1,5-2 giờ/lần. Cuối vụ năng suất mía đạt 75 tấn/ha, trong khi đó năng suất mía trồng đại trà theo phương pháp truyền thống chỉ đạt 60 tấn/ha. Năm 2019, mô hình này tiếp tục triển khai tại xã Hòa Hội (huyện Phú Hòa) cũng với 4 bộ thiết bị tưới cho mía, 4 hộ tham gia mô hình.

Ông Trương Văn Tuấn, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Phú Yên: Thời gian qua, Trung tâm Khuyến nông Phú Yên đã phối hợp với các đơn vị triển khai rất nhiều chương trình, mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh tăng hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho nông dân, mô hình còn tiết kiệm nước tưới, cải tạo đất, luân canh cây trồng. Từ đó hình thành các vùng chuyên canh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, giúp nông dân ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất, giảm công lao động, giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế.

MẠNH HOÀI NAM

Giá gà trên đà hồi phục trở lại

Nguồn tin: Báo Lâm Đồng

Nhiều hộ chăn nuôi gà công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng cho biết giá bán gà tại trại gà đã tăng trở lại trong 2 tuần trở lại đây. Giá gà công nghiệp mua tại trang trại hiện ở mức 24.000-26.000 đồng/kg, tăng trên 10.000 đồng so với tháng trước.

Tương tự, sau nhiều tuần giảm mạnh giá gà thả vườn cũng có dấu hiệu tăng trở lại. Hiện thương lái mua với giá 40.000 - 48.000 đồng/kg (gà trống) và 48.000 - 50.000 đồng/kg (gà mái), tăng khoảng 3.000 đồng so với tuần trước. Tuy nhiên, mức giá này chỉ mới nhỉnh hơn với giá thành sản xuất khoảng 15% nên nhiều người dân đang có xu hướng hạn chế tái đàn trở lại để phù hợp với nhu cầu thị trường.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng, tính tới tháng 6/2019, đàn gia cầm, thủy cầm toàn tỉnh có gần 5,3 triệu con. Trong đó, riêng đàn gà có trên 3,2 triệu con, tập trung chủ yếu tại TP Bảo Lộc và các huyện: Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh…

C.PHONG

Nuôi heo sinh học để bình ổn giá thực phẩm Tết Nguyên đán Canh Tý 2020

Nguồn tin: Sài Gòn Giải Phóng

Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường đề nghị các chủ trại và doanh nghiệp khẩn trương nuôi heo sinh học để cung ứng đủ thực phẩm cho thị trường Tết Nguyên đán năm nay, không để tăng giá.

Sáng 17-10, Bộ NN-PTNT tổ chức hội nghị "Tăng cường các biện pháp kiểm soát dịch bệnh và phát triển chăn nuôi an toàn sinh học bền vững" trước thực trạng dịch bệnh tả heo châu Phi đã cướp đi 16% đàn heo, giá cả leo thang từng ngày vì nguồn thịt heo khan hiếm.

Bộ NN-PTNT mong muốn chăn nuôi sinh học để có thịt sạch vào cuối năm

Theo thống kê mới nhất, đến nay đã có 5,5 con heo bị chết vì dịch bệnh tả heo châu Phi. Suốt 9 tháng qua, chăn nuôi khó khăn vì lo ngại dịch đe dọa.

Báo cáo của 56 tỉnh, thành phố gần đây cho thấy, tổng đàn heo chỉ còn hơn 22 triệu con, giảm 16% so với thời điểm tháng 10 năm ngoái. Nếu tính thêm 7 tỉnh chưa báo cáo, cả nước vẫn còn khoảng 25 triệu con heo, đủ cung ứng cho thị trường thực phẩm. Thế nhưng thực tế, giá thịt heo ngoài chợ đang tăng.

Theo Bộ NN-PTNT, điều đáng mừng là trong 22-25 triệu con heo, hiện vẫn còn khoảng 2,9 triệu con heo nái, đủ để tái đàn.

Tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường đề nghị các chủ trại, người chăn nuôi và doanh nghiệp nên tái đàn bằng giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học mới vững bền, tránh được dịch bệnh.

Không chỉ cần đủ thực phẩm mà phải có thực phẩm sạch cho người tiêu dùng vào dịp cuối năm

Ông Nguyễn Xuân Cường cho rằng, quý 4 hàng năm và quý 1 của năm sau bao giờ cũng là thời điểm tiêu thụ thực phẩm cao nhất. Xác định nguồn cung thiếu hụt do tác động của dịch tả heo nên Bộ NN-PTNT đã có chủ trương tăng đàn gia cầm, gia súc ăn cỏ. Đến nay, đàn gia cầm cả nước tăng trưởng 12%, đại gia súc ăn cỏ tăng 4,2%; thủy sản tăng cả về khai thác và nuôi trồng với sản lượng 8 triệu tấn.

Với cơ cấu 3 loại thực phẩm này không chỉ bù đắp lại nguồn thực phẩm thiếu hụt do bệnh dịch tả heo mà còn phục vụ xuất khẩu.

Về tái đàn chăn nuôi sau dịch bệnh, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, giải pháp là tập trung tăng đàn ở những vùng chăn nuôi lớn đảm bảo an toàn sinh học, với những hộ quy mô nhỏ và vừa phải đảm bảo được những yếu tố về an toàn sinh học.

Song hành các nhóm giải pháp tổng thể về thủy sản, gia cầm, đại gia súc để cung ứng thực phẩm, quan trọng nhất là giữ bình ổn được giá cả, không để xáo trộn, không để ảnh hưởng đến chỉ số giá cả vào cuối năm.

VĂN PHÚC

Nuôi vịt biển, một hướng tạo sinh kế cho ngư dân

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Ngư dân các xã vùng ven biển vốn chỉ có nguồn thu nhập chủ yếu từ đánh bắt hải sản. Ở các vùng biển bãi ngang phần lớn khai thác ven bờ nhưng nguồn lợi thủy sản ven bờ ngày càng cạn kiệt. Đặc biệt là từ sau sự cố ô nhiễm môi trường biển, tình hình sản xuất của người dân vùng bãi ngang khó khăn hơn. Trước thực trạng đó, chính quyền các địa phương đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, tạo sinh kế cho ngư dân bên cạnh việc tiếp tục phát triển nghề khai thác hải sản trên biển. Nhờ vậy, nghề chăn nuôi bắt đầu phát triển trên vùng cát ven biển với nhiều loại con nuôi truyền thống và du nhập con mới thích nghi dần môi trường và cho hiệu quả kinh tế khá, trong đó vịt biển là mô hình con nuôi mới có triển vọng nhân rộng.

Hội thảo đầu bờ để nhân rộng mô hình chăn nuôi vịt biển ở Triệu Phong

Mô hình “Nuôi vịt biển theo hướng an toàn sinh học đảm bảo vệ sinh môi trường” được Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị lựa chọn làm thí điểm trình diễn tại các xã ven biển huyện Triệu Phong là Triệu Độ, Triệu An, Triệu Lăng đang tỏ ra khá thích nghi với điều kiện khí hậu, thời tiết, phương pháp chăn nuôi của người dân vùng biển và cho hiệu quả kinh tế cao. Được Trung tâm Khuyến nông hỗ trợ 70% tiền giống và thức ăn hỗn hợp, chuyển giao tập huấn kĩ thuật, chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh trong suốt quá trình nuôi, 11 mô hình của 3 xã nuôi 3.300 con giống vịt biển 15 Đại Xuyên phát triển tốt, tăng trọng nhanh.

Hộ gia đình anh Trương Đình Đoàn ở thôn Giáo Liêm, xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong là 1 trong 4 hộ ở xã được chọn tham gia mô hình. Được hỗ trợ 300 con giống, anh Đoàn tuân thủ tốt mọi hướng dẫn kĩ thuật chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh nên đàn vịt của anh lớn nhanh, chỉ sau 75 ngày nuôi, trọng lượng vịt hơi bình quân đạt hơn 2,5 kg/con, có con đạt 3 kg. Khi vịt đạt tầm trọng lượng này, anh Đoàn quyết định xuất bán với giá 120- 150 ngàn đồng/con. Như vậy, chỉ sau 2,5 tháng nuôi, anh Đoàn thu về hơn 3,5 triệu đồng từ tiền nuôi thử 300 con vịt biển 15 Đại Xuyên. Nếu hoạch toán chi phí cho thức ăn và con giống thì anh Đoàn lãi khoảng 40%. Đây là một tỉ lệ lãi không nhỏ đối với chăn nuôi. Khả năng chăn nuôi của gia đình anh Đoàn có thể tăng đàn lên gấp 7- 10 lần/lứa so với nuôi thí điểm. Anh Đoàn cho biết: “Vịt biển 15 Đại Xuyên thích nghi với điều kiện thời tiết khí hậu của Quảng Trị. Giá bán cũng tốt, nhiều người ưa chuộng vì sản phẩm vịt sạch. Gia đình tôi có thể mở rộng quy mô để tạo thêm việc làm và tăng thu nhập”.

Thực tế triển khai các mô hình cho thấy, mặc dù vịt biển 15 Đại Xuyên là giống vịt miền Bắc nhưng lại có khả năng thích nghi cao với điều kiện tự nhiên ở vùng Quảng Trị nắng nóng nhiều, vịt dễ nuôi và có thể nuôi với nhiều phương thức khác nhau, sử dụng được nước biển làm nước uống. Vịt biển có khả năng tìm kiếm thức ăn tốt hơn so với các giống vịt đang nuôi tại địa phương, có thể tìm kiếm được thức ăn trên các ao hồ, cửa sông, cửa lạch, đồng ruộng. Vịt có sức sống dẻo dai, ít bị dịch bệnh, tỉ lệ sống đến lúc trưởng thành đạt khoảng 97%. Vịt biển khá tạp ăn nên tăng trọng nhanh, chất lượng thịt thơm ngon, thịt dày, được người tiêu dùng ưa thích. Hiện nay, trong điều kiện nhiều địa phương trong tỉnh đang bị dịch tả lợn Châu Phi kéo dài, nhiều người tiêu dùng còn thận trọng ít sử dụng thịt lợn nên thịt gia cầm là nguồn thịt thay thế có hiệu quả nhất trong các bữa ăn của nhiều gia đình. Do đó, giá vịt cũng tăng đáng kể, hiện giá vịt khoảng 50.000 kg/kg thịt hơi.

Đánh giá về hiệu quả của mô hình nuôi vịt biển 15 Đại Xuyên, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị Trần Cẩn cho biết: “Vịt biển thích nghi với nhiều điều kiện tự nhiên, nhất là vùng ven biển, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trung tâm sẽ tăng cường hướng dẫn cho ngư dân các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học để bảo vệ môi trường cũng như tạo ra sản phẩm sạch đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Đây là con nuôi mới có thể nhân rộng được ở vùng biển để tạo sinh kế bền vững cho ngư dân”.

Vịt biển đã khẳng định được tính thích nghi điều kiện tự nhiên và tập quán chăn nuôi của người dân vùng ven biển Quảng Trị, bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, do đây là con nuôi mới nên việc cung cấp con giống cho người chăn nuôi hiện đang gặp khó khăn vì phải mua từ miền Bắc vào. Vì vậy, thời gian tới, bên cạnh việc nhân rộng mô hình chăn nuôi vịt biển thịt, Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị sẽ xây dựng mô hình chăn nuôi vịt biển sinh sản. Trung tâm vừa chuyển giao kĩ thuật nuôi vịt biển sinh sản, vừa hướng dẫn kĩ thuật ấp trứng vịt biển để sản xuất giống vịt biển tại chỗ, tạo sự chủ động cung ứng nhu cầu giống cho người chăn nuôi trên địa bàn và giảm giá vịt giống, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi vịt biển.

Mô hình chăn nuôi vịt biển triển khai thí điểm có hiệu quả cao ở các xã vùng biển mở ra một hướng sản xuất mới, tạo việc làm ổn định và nâng cao thu nhập cho nông dân sống ven biển, ven sông hồ, tạo ra sự đa dạng vật nuôi trên địa bàn. Thời gian tới, cần nhân rộng mô hình này, trước mắt có thể thay thế tạm thời việc chăn nuôi lợn ở các vùng có dịch tả lợn Châu Phi để tạo giá trị gia tăng tốt cho ngành nuôi của tỉnh.

Võ Thái Hòa

Đồng Tháp: Người chăn nuôi heo chỉ tái đàn khi đủ điều kiện

Nguồn tin: Báo Đồng Tháp

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Đồng Tháp vừa có công văn gửi các địa phương hướng dẫn về điều kiện tái đàn heo sau dịch bệnh dịch tả heo Châu Phi.

Người chăn nuôi chỉ tái đàn khi địa phương công bố hết dịch và phải đảm bảo các quy định về an toàn sinh học

Theo đó, người chăn nuôi chỉ tái đàn khi có quyết định công bố hết dịch của cơ quan có thẩm quyền. Trước khi chuẩn bị tái đàn, người chăn nuôi cần thực hiện một số yêu cầu bắt buộc như: xây dựng chuồng trại đảm bảo các điều kiện an toàn sinh học; xung quanh có đủ đất dự phòng trong trường hợp buộc phải tiêu hủy gia súc khi có dịch bệnh xảy ra. Đồng thời phải để trống chuồng và thực hiện nghiêm ngặt việc vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại liên tục ít nhất trong 30 ngày trước khi thả nuôi.

Trước khi tái đàn, người chăn nuôi cần đăng ký với chính quyền địa phương các thông tin cơ bản (họ tên, địa chỉ, nguồn gốc con giống, số lượng, lứa tuổi, ngày dự kiến thả nuôi...); các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định, người chăn nuôi chỉ được phép tái đàn khi có sự đồng ý của chính quyền địa phương và của cơ quan tài nguyên môi trường đối với các trường hợp phải đăng ký với cơ quan tài nguyên môi trường theo quy định.

Ngành nông nghiệp khuyến cáo người chăn nuôi cần quan tâm đến quy định về kỹ thuật như cần lưu ý mua con giống có nguồn gốc, có giấy chứng nhận kiểm dịch và kết quả xét nghiệm âm tính với bệnh dịch tả heo Châu Phi. Khi nhập heo về trang trại cần bố trí nuôi cách ly ít nhất 2 tuần trước khi nhập đàn. Song song đó, kiểm soát chất lượng nguồn nước sử dụng trong trang trại, chỉ sử dụng nước máy, hoặc nước sông được xử lý bằng hóa chất khử trùng nước (chlorine hoặc benkocid). Trong quá trình nuôi, cần thường xuyên theo dõi, giám sát sức khỏe đàn heo; tiêm phòng đầy đủ các bệnh truyền nhiễm, nguy hiểm cho đàn vật nuôi; thực hiện vệ sinh, tiêu độc khử trùng định kỳ ít nhất 2 lần/tuần.

Sở NN&PTNT chỉ đạo Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản cần tăng cường giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên đàn heo, chủ động kiểm tra, đôn đốc công tác phòng, chống dịch bệnh không để dịch bệnh lây lan rộng gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi. Đồng thời chủ động chuẩn bị các bước cần thiết hỗ trợ cho quá trình tái đàn.

Sở NN&PTNT đề nghị UBND các huyện, thị, thành phố cần chỉ đạo Phòng NN&PTNT, Phòng Kinh tế, Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp, UBND các xã, phường, thị trấn phối hợp với Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản thực hiện kế hoạch tái đàn heo. Trong đó, chú trọng thực hiện tốt công tác thống kê tổng đàn, theo dõi tình hình dịch bệnh trên heo, xác định tình hình phát triển thực tế của đàn heo tại địa phương cũng như kịp thời báo cáo tình hình sức khỏe đàn heo để cơ quan chuyên môn có hướng xử lý kịp thời, đúng qui định; tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về việc tái đàn heo trên toàn tỉnh phải gắn liền với chăn nuôi heo an toàn sinh học, không tái đàn ồ ạt, mất kiểm soát, dễ làm phát sinh dịch bệnh...

Mỹ Lý

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi khép kín

Nguồn tin: Báo An Giang

Mô hình nuôi gà trên đệm lót sinh học, nuôi bò, nuôi trùn quế kết hợp trồng cây ăn trái khép kín từ thức ăn đến phân bón cho vật nuôi và cây trồng của nông dân Đào Hữu Nghĩa, ấp Bình Khánh, xã Mỹ Khánh (TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang) không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao, mà còn xử lý nguồn chất thải trong chăn nuôi, góp phần bảo vệ môi trường.

Hướng dẫn tham quan mô hình khép kín của gia đình, anh Nghĩa cho biết, trước đây gia đình anh chủ yếu trồng lúa, rau màu các loại kết hợp nuôi bò thịt, tuy vậy thu nhập vẫn bấp bênh, không đủ trang trải cuộc sống. Thực hiện kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn xã theo hướng ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập, năm 2014, anh Nghĩa quyết tâm tăng gia sản xuất, thực hiện chuyển đổi 3 công đất trồng lúa, trồng màu sang trồng mãng cầu Xiêm, ổi kết hợp chăn nuôi bò và gà thịt. Vườn mãng cầu Xiêm và ổi đến nay đã ra trái và mang lại thu nhập ổn định cho gia đình. Nhạy bén hơn, anh Nghĩa còn tìm hiểu cách thức chế biến trà mãng cầu để tăng giá trị sản phẩm và ứng biến những lúc vườn mãng cầu ra trái đồng loạt nhưng bị dội chợ.

Chỉ tay vào chuồng gà, anh Nghĩa chia sẻ: “Tôi đã nuôi gà từ lâu, nhưng trước đây không dám nuôi số lượng nhiều vì rất dễ bị hao hụt, do gà bị bệnh và gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Từ khi được tham gia lớp tập huấn về chăn nuôi gà sử dụng đệm lót sinh học do Hội Nông dân xã tổ chức, tôi đã cải tạo chuồng trại áp dụng nuôi trên đệm lót sinh học để tăng số lượng đàn gà. Phương pháp nuôi gà bằng đệm lót sinh học không sợ vấn đề ô nhiễm môi trường, gà ít bệnh, sinh trưởng và phát triển nhanh”.

Chuồng gà áp dụng phương pháp nuôi bằng đệm lót sinh học của anh Nghĩa

Theo anh Nghĩa, nuôi gà trên đệm lót sinh học dễ áp dụng vì chi phí đầu tư không cao, chỉ cần sử dụng các loại nguyên liệu như: trấu, mùn cưa, vỏ bào… kết hợp vi sinh vật sẽ phân giải phân do gà thải ra, hạn chế mùi hôi và giữ ấm cho gà. Diện tích chuồng 500m2, anh Nghĩa thả nuôi 270 con, nuôi theo hình thức xoay vòng. Sau 4 tháng nuôi tỷ lệ sống đạt trên 95%, trọng lượng gà trung bình từ 1,4-1,7kg/con. Bán cho thương lái với giá 100.000-120.000 đồng/kg, mỗi lứa gà sau khi xuất chuồng, trừ chi phí anh còn lời khoảng 20 triệu đồng.

Bên cạnh chuồng gà là đàn bò anh Nghĩa mới bổ sung thêm khi vừa xuất bán 6 con sau thời gian chăm sóc. Anh Nghĩa cho biết, bò thịt dễ nuôi, dễ chăm sóc, thức ăn lại dễ kiếm. Chỉ cần thường xuyên vệ sinh, giữ cho chuồng trại sạch, khô ráo, thoáng mát là bò phát triển rất tốt. Mỗi con bò thịt nuôi khoảng 8 tháng là có thể xuất chuồng, trừ chi phí có thể lời gần 8 triệu đồng/con… Đồng thời, anh Nghĩa còn nuôi trùn quế để tận dụng nguồn phân bò tránh gây ô nhiễm môi trường. Trùn quế trở thành nguồn thức ăn sạch, đảm bảo dinh dưỡng cho đàn gà, cộng thêm việc áp dụng nuôi trên đệm lót sinh học nên đàn gà rất nhanh lớn, không bị dịch bệnh, chất lượng thịt chắc, thơm ngon được người tiêu dùng ưa chuộng. Nguồn phân trùn quế thải ra là loại phân bón rất tốt, làm tăng năng suất, sản lượng cho vườn mãng cầu và ổi. Phụ phẩm từ vườn cây ăn trái được sử dụng làm thức ăn cho bò. Đây là chuỗi khép kín tận dụng từ thức ăn đến phân bón để tiết kiệm chi phí. Qua đó, hạn chế đến mức tối đa việc sử dụng thức ăn và phân, thuốc hóa học, góp phần đảm bảo cho sản phẩm cây trồng, vật nuôi theo hướng sạch và an toàn với người sử dụng. Vì vậy hiện nay, số lượng gà thịt, mãng cầu Xiêm và ổi do anh Nghĩa nuôi trồng đã được một công ty ở TP. Long Xuyên ký hợp đồng bao tiêu, đảm bảo ổn định giá cả và đầu ra cho sản phẩm.

Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Mỹ Khánh Nguyễn Hồng Hà cho biết, nhờ áp dụng mô hình khép kín trong trồng trọt và chăn nuôi, anh Nghĩa không chỉ tiết kiệm chi phí, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, mà còn giúp hạn chế ô nhiễm môi trường. Sắp tới, Hội Nông dân xã Mỹ Khánh sẽ tiếp tục kiến nghị các cấp, ngành chuyên môn tạo điều kiện, hỗ trợ về vốn cũng như kỹ thuật cho các hộ nông dân mở rộng những mô hình sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với mục đích chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại địa phương.

TRỌNG TÍN

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop