Tin nông nghiệp ngày 19 tháng 8 năm 2019

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 19 tháng 8 năm 2019

Tiềm ẩn nguy cơ mất ‘thương hiệu’ đào Sa Pa

Nguồn tin: Báo Lào Cai

Việc bày bán tràn lan, “nhập nhèm” xuất xứ các loại trái cây mang “thương hiệu” Sa Pa có nguy cơ làm mất niềm tin vào nông sản của Sa Pa, trong đó quả đào là một ví dụ điển hình.

Hiện đã vào cuối vụ thu hoạch đào, mận tại huyện Sa Pa (tỉnh Lào Cai). Tuy nhiên, từ khu vực chợ Sa Pa đến dọc Quốc lộ 4D đoạn thác Bạc, Ô Quý Hồ hoặc địa phận xã Sa Pả, xã Trung Chải… đều dễ dàng bắt gặp các sạp bày bán quả đào, lê, mận… có mẫu mã bắt mắt. Mặc dù các loại trái cây này đa số được vận chuyển từ nơi khác về tiêu thụ, nhưng tiểu thương vẫn gắn mác “đào Sa Pa” để bán cho du khách.

Ghé một sạp bày bán hoa quả tại điểm bán nông sản Sa Pa, Km31 Quốc lộ 4D, thuộc địa phận xã Sa Pả, chúng tôi hỏi mua đào và được người bán giới thiệu là đào chín cây Sa Pa với giá 30.000 đồng/kg. Sau khi gặng hỏi về xuất xứ loại quả đào được bày bán ở đây, anh Giàng A Dam, thôn Giàng Tra, xã Sa Pả cho biết: Đào được lấy từ khu vực Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai vào buổi sáng, sau đó đem về bán cho khách du lịch trong cả ngày. Mỗi ngày, một sạp có thể bán từ vài chục kg đến cả tạ quả đào.

Tuy nhiên, bản thân anh Dam cũng không biết loại đào này có xuất xứ từ đâu, chỉ biết nhiều du khách hỏi mua nên lấy về bán.

Đào gắn mác Sa Pa bán tại khu vực km 31, Quốc lộ 4D, đoạn xã Sa Pả.

Còn bà Giàng Thị Mỷ, chủ sạp hàng mận, lê, đào trên Quốc lộ 4D đoạn xã Sa Pả cũng tỏ ra khá ấp úng khi được hỏi về xuất xứ các mặt hàng đang bày bán. Bà cho biết: Thấy mọi người bán chạy nên tôi cũng nhập đào từ Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai về bán. Còn đào Sa Pa, quả nhỏ, giòn, đậm, thơm hiện đã vào cuối vụ thu hoạch, đầu mùa tôi cũng bán loại đào đó nhưng bán rất chậm, không nhiều khách hỏi mua.

Không chỉ dọc tuyến Quốc lộ 4D mà tại chợ Sa Pa và trong trung tâm thị trấn Sa Pa cũng có rất nhiều sạp hàng bán loại quả đào to, căng tròn, có trọng lượng trung bình từ 300 đến 600 gram/quả. Mặt hàng này được rất nhiều du khách chọn mua về làm quà sau chuyến tham quan, khám phá tại đây. Hầu hết các điểm bán hàng này do người dân bản địa đứng bán nhằm tạo lòng tin với du khách.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, loại đào đang được bày bán tràn lan ở Sa Pa, ngoài mẫu mã đẹp, có vị ngọt, còn để được rất lâu không bị thối, hỏng, được trồng nhiều tại Trung Quốc. Khác với đào chính gốc Sa Pa quả nhỏ, hơi dài, nhiều lông, ngọt đậm lẫn vị chua và hơi đắng.

Anh Trần Văn Trân, du khách đến từ Long An cho biết: Thấy người bán hàng giới thiệu là đào Sa Pa, quả có mẫu mã đẹp, ăn thử thấy ngon và ngọt nên tôi mua làm quà biếu. Mặc dù đi khắp các bản làng không thấy nhà nào trồng loại đào này nhưng do người bán là người bản địa, nên chúng tôi vẫn rất tin tưởng. Không chỉ tôi, mà các thành viên trong đoàn du lịch cũng đều mua quả đào về làm quà.

Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Sa Pa, diện tích trồng đào toàn huyện hiện nay là 296 ha (gồm đào trâu Sa Pa, đào vàng Sa Pa, đào Vân Nam Sa Pa… 206 ha, còn lại 90 ha là đào Pháp) được trồng chủ yếu tại các xã Sa Pả, Tả Phìn, San Sả Hồ, Bản Khoang và thị trấn Sa Pa. Trong đó, diện tích đào hiện cho thu hoạch khoảng 217 ha, năng suất trung bình 3,7 tấn/ha, giá bán trung bình từ 20.000 đến 25.000 đồng/kg, giá trị thu nhập đạt hơn 75 triệu đồng/ha. Ông Nguyễn Tiến Thành, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Sa Pa cho biết: Sản lượng quả đào của Sa Pa chỉ đáp ứng được 30% - 40% nhu cầu thị trường. Ngoài ra, tiểu thương còn nhập về và bày bán các loại đào có xuất xứ từ nơi khác, chủ yếu để bán cho khách du lịch.

Việc bày bán các các mặt hàng hoa quả “nhập nhèm”, “lẫn lộn” về nguồn gốc, xuất xứ gắn mác Sa Pa, đặc biệt là quả đào sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến “thương hiệu” đào Sa Pa, khiến du khách mất niềm tin đối với không chỉ loại quả đặc sản này, mà còn với mặt hàng nông sản của Sa Pa. Các ngành chức năng cần sớm vào cuộc, siết chặt quản lý để tránh gây tổn hại đến “thương hiệu” đào Sa Pa nói riêng và việc tiêu thụ nông sản của Sa Pa nói chung.

ĐỨC PHƯƠNG

Na dai Nghĩa Phương (Bắc Giang) được chứng nhận VietGAP

Nguồn tin: Báo Bắc Giang

Ngày 16-8, Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang phối hợp UBND xã Nghĩa Phương (Lục Nam, tỉnh Bắc Giang) tổ chức hội nghị công bố thành lập Hợp tác xã (HTX) Na dai Nghĩa Phương và trao giấy chứng nhận VietGAP cho sản phẩm na dai của đơn vị này.

Xã Nghĩa Phương có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển cây na dai. Na được trồng thành vùng, quả to, chất lượng tốt và có hương vị riêng. Từ năm 2017, Tổ hợp tác sản xuất na được thành lập tại thôn Suối Ván, duy trì hoạt động có hiệu quả.

Đồng chí Bùi Thế Chung, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh trao chứng nhận cho HTX.

Nhờ sự giúp đỡ của Ban quản lý Chương trình MTCP2 (Chương trình Hợp tác trung hạn giữa Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD) với các tổ chức nông dân khu vực châu Á – Thánh Bình Dương giai đoạn 2) của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang, Tổ hợp tác đã áp dụng quy trình sản xuất na dai theo tiêu chuẩn VietGAP, đồng thời hướng dẫn thành lập HTX.

Na dai Nghĩa Phương bảo đảm chất lượng, gắn tem truy xuất nguồn gốc.

Đầu năm nay, Công ty cổ phần Dịch vụ khoa học và công nghệ Toàn Cầu, Công ty cổ phần Chứng nhận và giám định IQC đã đồng hành cùng Tổ hợp tác sản xuất na hướng dẫn các thành viên thực hành trên 31,5 ha na tại một số thôn của xã Nghĩa Phương. Các mẫu đất, nước trong vùng sản xuất đều đạt tiêu chuẩn. Thành viên tham gia được tập huấn và áp dụng đúng quy trình sản xuất thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP). Sản lượng đạt khoảng 500 tấn/năm, sản phẩm na dai được phân tích chất lượng bảo đảm các tiêu chuẩn đạt yêu cầu. Ngày 2-8, sản phẩm này được Công ty cổ phần Chứng nhận và giám định IQC đánh giá phù hợp tiêu chuẩn VietGAP, có giá trị đến ngày 1-8-2022.

Quyết định cấp Giấy Chứng nhận HTX Na dai Nghĩa Phương sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP.

Cùng đó, Tổ hợp tác phát triển thu hút thêm các thành viên tham gia, cùng sản xuất và kinh doanh na dai, hoàn thiện các thủ tục, tháng 5-2019 được cơ quan chức năng cấp chứng nhận thành lập HTX Na dai Nghĩa Phương.

Được biết, xã Nghĩa Phương hiện có hơn 400 ha na dai, nhiều hộ dân có thu nhập từ 150 đến 500 triệu đồng/năm. Việc thành lập HTX sản xuất na và sản phẩm được chứng nhận bảo đảm tiêu chuẩn VietGAP là điều kiện thuận lợi để nâng tầm thương hiệu nông sản, dễ dàng liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đặc trưng của địa phương, giúp na da Nghĩa Phương vươn xa.

Sản phẩm được bao gói, có nhãn theo quy định.

Các đại biểu mong muốn chính quyền địa phương tiếp tục quan tâm, hỗ trợ HTX; các thành viên HTX xây dựng và duy trì hoạt động của đơn vị theo đúng Luật HTX, thu hút thêm nhiều hộ trồng na tham gia; chủ động tiếp cận sự hỗ trợ của huyện, Hội Nông dân tỉnh.

Bảo Khánh

Bình Định: Cây dưa lưới ở Bình Tân

Nguồn tin: Báo Bình Định

Gần đây một số hộ trồng dưa lưới tại các thôn Thuận Ninh, Phú Hưng, xã Bình Tân, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã có thu nhập khá từ loại cây này.

Anh Trần Lộc Vũ hái dưa.

Anh Trần Lộc Vũ ở thôn Thuận Ninh, xã Bình Tân là người đã ký hợp đồng hỗ trợ trồng dưa và bao tiêu sản phẩm với Công ty Đầu tư và Phát triển An Hưng (TP Hồ Chí Minh). Theo hợp đồng, từ tháng 6.2019, anh Vũ trồng 11 sào dưa lưới. Sau 70 ngày sinh trưởng, nay ruộng dưa lưới của anh đến kỳ thu hoạch, năng suất bình quân đạt hơn 2 tấn/1 sào. Với giá dưa: 15.000 đồng/1 kg dưa loại 1 (1,2 đến 2,2 kg/1 quả), 7.500 đồng/1 kg dưa loại 2 (khoảng 1 kg/1 quả), 4.000 đến 5.000 đồng/1 kg dưa loại 3 (loại dưa nhỏ, bị sâu, nứt), cứ mỗi sào dưa anh Vũ lãi khoảng 20 triệu đồng.

Anh Trần Đình Hiệp, ở thôn Phú Hưng, xã Bình Tân, cho biết: “So với dưa hấu thì việc trồng dưa lưới nhọc công hơn. Tuy nhiên, do yêu cầu giảm lượng phân bón và thuốc trừ sâu bệnh, nên khoản chi phí này cũng thấp hơn khá nhiều so với cây dưa hấu. Khi ký hợp đồng xong, cán bộ kỹ thuật của Công ty sẽ hỗ trợ mình áp dụng quy trình KHKT vào sản xuất, giá mua dưa cũng đảm bảo để mình yên tâm sản xuất!”.

Sau thành công của những nông hộ trồng dưa lưới đầu tiên, cùng với những hộ cũ, nhiều nông hộ khác ở Bình Tân đã đăng ký tham gia trồng dưa với phương thức nêu trên. Anh Nguyễn Thanh Bình, cán bộ kỹ thuật của Công ty Đầu tư và Phát triển An Hưng, cho biết: “Giống dưa lưới sử dụng ở đây là giống dưa Taki của Nhật Bản. Khảo sát của chúng tôi cho thấy dưa Taki phù hợp với các chân đất ở xã Bình Tân và thôn An Chánh, xã Tây Bình. Vụ dưa vừa qua chúng tôi trồng thử nghiệm 2 ha, kết quả rất tốt. Các chỉ số cơ bản như: ngoại hình, sản lượng, độ đậm ngọt hoàn toàn không thua gì so với dưa sản xuất nhà màng hoặc một số vùng trọng điểm khác. Sắp tới, Công ty sẽ tìm cách mở rộng diện tích dưa lưới tại Tây Sơn lên khoảng 6,7 ha”.

ÁNH NGUYÊN

Bắc Giang: Thanh long ruột đỏ ‘vươn dốc lên đồi’

Nguồn tin: Khuyến Nông VN

Theo giới thiệu của đồng chí Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Sỏi, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, chúng tôi đến thăm mô hình trồng cây thanh long ruột đỏ của gia đình chị Nguyễn Thị Thủy và chị Phạm Thị Yến ở thôn Mải, xã Tân Sỏi, huyện Yên Thế, người tiên phong đưa cây thanh long ruột đỏ trồng trên đất đồi.

Thăm vườn cây đang cho thu hoạch quả và được nghe kể về cơ duyên đưa cây thanh long về vùng đất đồi khô cằn này, chúng tôi mới thấy, để có được kết quả như ngày hôm nay với gia đình chị Thủy, chị Yến là cả một quá trình học hỏi, cần mẫn và quyết tâm.

Đưa chúng tôi đi thăm vườn thanh long của gia đình, chị Thủy chia sẻ: “Trước đây khu đồi này chỉ trồng vải thiều và một số cây ăn quả khác nhưng không đem lại hiệu quả kinh tế. Tình cờ xem chương trình nông nghiệp giới thiệu về mô hình trồng cây thanh long ruột đỏ trên đất đồi hiệu quả, vợ chồng tôi thấy phù hợp với điều kiện đất của gia đình nên bàn nhau trồng thử 200 trụ”. Vừa trồng vừa học hỏi thêm kinh nghiệm đã giúp cho vợ chồng chị có động lực, hy vọng loại cây trồng mới sẽ đem lại giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, đây là cây trồng mới cũng không tránh khỏi băn khoăn, lo lắng vì việc trồng cây thanh long còn khá lạ lẫm đối với người dân trong vùng.

Qua thời gian trồng, thấy thanh long ruột đỏ khá phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu ở vùng đất đồi nơi đây. Công đoạn chuẩn bị trụ trồng thanh long cần lưu ý không nên làm giàn gỗ bởi rất nhanh đổ và mục, nên đầu tư đổ cột bê tông làm trụ cho thanh long bám, mỗi trụ nên cao từ 1,5 - 1,7 m. Hàng cách hàng, cây cách cây khoảng 2,5 m.

Thanh long ruột đỏ là loại cây dễ trồng, dễ chăm sóc, có thể trồng quanh năm, nhưng để cây cho năng suất cao, đảm bảo chất lượng thì nên trồng vào đầu mùa mưa. Trong khi trồng nên bón phân làm 2 đợt (bón thúc mầm và bón thúc quả). Phía dưới xung quanh gốc, cần thường xuyên tiến hành làm sạch cỏ để tránh cỏ dại mọc tràn lan và “ăn” tranh phân bón dành cho cây. Ngoài ra, cần thường xuyên tỉa cành và tạo tán.

Đến nay, vườn thanh long của gia đình chị Thủy đã cho thu hoạch, chị Thủy cho biết: Thanh long ruột đỏ bắt đầu cho thu hoạch từ tháng 3 và kéo dài đến tháng 10, cứ khoảng 28 ngày lại cho thu hoạch một đợt. Đầu tháng vừa rồi chị thu hoạch được 2,5 tạ quả, với giá bán buôn ổn định 25.000 đồng/kg. Với 200 trụ bắt đầu được thu hái từ tháng 3 và đến nay chị đã thu được gần 30 triệu đồng. Đặc biệt, sản phẩm thanh long được thương lái đến tận vườn thu mua và hiện không đủ quả để cung cấp cho các thương lái.

Cây thanh long ruột đỏ phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu ở vùng đất đồi nơi đây

Cùng thôn với chị Thủy, gia đình chị Phạm Thị Yến trồng 150 trụ thanh long vui vẻ cho biết, thanh long ruột đỏ là cây chịu hạn tốt lại ít sâu bệnh, không mất nhiều công chăm sóc, chỉ cần phủ rơm, rạ để giữ ẩm và bổ sung thêm phân chuồng là cây phát triển tốt. Nguồn phân bón chủ yếu là phân hữu cơ, mỗi năm chỉ bón 2 lần. Để thanh long phát triển tốt và đạt sản lượng cao phải che đậy cẩn thận để giữ cho rễ không bị tổn thương do ánh nắng mặt trời, do úng nước… Đồng thời, cắt bỏ những cành cây không thể mọc mầm và ra quả, mỗi cành chỉ nên để 3 - 4 quả.

Thực tế cho thấy, so với những cây trồng khác, trồng thanh long ruột đỏ cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Đây là cây trồng lâu năm, khoảng 10-15 năm sau mới phải trồng lại. Đặc biệt, sau khi trồng 1 năm, thanh long đã cho quả với nhiều đợt trong năm. Từ năm thứ 2 trở đi (sau khi cho quả bói), năng suất quả cao gấp đôi năm thứ nhất.

Đồng chí Nông Văn Thiện- Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Sỏi, huyện Yên Thế cho biết, mô hình trồng thanh long ruột đỏ của gia đình chị Nguyễn Thị Thủy và chị Phạm Thị Yến là mô hình mới trên địa bàn xã, bước đầu mang lại hiệu quả tương đối cao, phù hợp với khả năng đầu tư cũng như trình độ sản xuất của bà con địa phương. Hiệu quả kinh tế thu được từ mô hình trồng thanh long ruột đỏ đã mở hướng lựa chọn mới cho bà con nông dân trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế gia đình. Từ sự mạnh dạn, không ngại khó, ngại khổ và quyết tâm làm giàu từ chính mảnh đất quê hương, gia đình chị Nguyễn Thị Thủy và chị Phạm Thị Yến đã trở thành điển hình, tiên phong trong việc đưa cây thanh long ruột đỏ về trồng trên đất đồi ở xã Tân Sỏi.

Hương Giang - TT Khuyến nông Bắc Giang

Bà Rịa - Vũng Tàu: Nhiều loại dịch bệnh tấn công cây trồng

Nguồn tin: Báo Bà Rịa - Vũng Tàu

Nhiều luống rau phải nhổ bỏ, vườn tiêu chết trắng, cây ăn trái bị nhiễm bệnh… Đó là những hậu quả nặng nề mà các loại dịch bệnh thường gặp vào mùa mưa đang gây ra cho người nông dân.

Vườn húng quế của gia đình bà Nguyễn Thị Thơm (thôn Đông Hải, xã Tân Hải, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đã đến kỳ thu hoạch nhưng thương lái không mua vì bị bệnh sâu cuốn lá.

Hiện đang là cao điểm của mùa mưa, một số loại bệnh như nấm, sâu keo, rầy nâu, đạo ôn, các loại bệnh chết nhanh, chết chậm trên cây lâu năm, khám lá… dễ dàng tấn công cây trồng khiến người nông dân vô cùng lo lắng.

Theo thống kê của ngành nông nghiệp, từ đầu năm 2019 đến nay, đã có hơn 176ha hồ tiêu bị bệnh chết chậm, tập trung tại một số huyện như Châu Đức, Xuyên Mộc và TX. Phú Mỹ. 30ha khoai mì bị nhiễm bệnh khám lá, buộc người dân phải tiêu hủy. Hơn 100ha lúa bị các bệnh như đạo ôn, sâu cuốn lá... Ngoài ra, nhiều vườn nhãn, bưởi, chuối tại huyện Châu Đức, TP.Bà Rịa cũng bị vàng lá thối rễ, rệp sáp, chổi rồng…

Ông Đình Văn Bảng (ấp Suối Lúp, xã Bình Ba, huyện Châu Đức) cho biết: Gia đình có hơn 6ha diện tích trồng tiêu, tuy nhiên, hiện nay gần 1/3 diện tích đang lụi dần vì bệnh chết chậm. Do giá tiêu vài năm gần đây luôn ở mức thấp, gia đình không còn vốn để đầu tư, cây tiêu không được chăm sóc khiến dịch bệnh càng phát triển nhanh. Gia đình vừa phá bỏ đi hơn 150 gốc bị chết không còn khả năng phát triển, thiệt hại khoảng hơn 7-8 triệu đồng/vụ. Tại địa phương nhiều hộ trồng tiêu cũng nản chí, phó mặc không quan tâm chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây, khiến cây tiêu bị chết nhiều, do vậy diện tích trồng tiêu cũng giảm đáng kể.

Gần 500m2 hành của gia đình ông Nguyễn Quang Thiêm (thôn Láng Cát, xã Tân Hải) phải nhổ bỏ do bị sâu bệnh.

Tương tự, gia đình bà Đậu Thị Phúc (khu phố 2, ấp Bàu Ngứa, xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc) cho biết: 2 tháng trước gia đình đầu tư gần 12 triệu trồng để trồng hơn 5ha khoai mì xen canh bắp. Thế nhưng vừa qua bệnh sâu keo tấn công vườn bắp rồi lây lan sang cả khoai mì. Vườn bắp thì đã mất trắng rồi, chỉ trông chờ vào vụ khoai mì tới. “Dịch bệnh mới lây lan rất nhanh. Chúng tôi vô cùng lo lắng” bà Phúc chia sẻ.

Trong khi đó, hơn 60% số hộ nông dân trồng rau tại xã Tân Hải (TX.Phú Mỹ) đang phải chống chọi với bệnh nấm nổ dọc, sâu trên các loại rau ăn lá như: cải ngọt, xà lách, hành, mướp hay rau húng quế… 40ha rau tại xã Tân Hải gần như phải nhổ bỏ do bị bệnh, thương lái không thu mua, gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng cho nông dân. Gia đình ông Nguyễn Quang Thiêm (thôn Láng Cát, xã Tân Hải) vừa nhổ bỏ gần 500m2 hành vì bị bệnh nấm nổ dọc. “Cả vụ mùa gần như mất trắng, cứ gần đến vụ thu hoạch, mưa xuống sâu bệnh sinh sôi và phát triển nhanh khiến hành bị nấm và thối nhũn. Thương lái họ chê không thu mua nên chúng tôi đành phải nhổ bỏ. Gia đình tôi ước tính thiệt hại khoảng 60-70 triệu đồng”, ông Thiêm cho biết.

Theo thống kê của Sở NN&PTNT, hiện nay trên địa bàn tỉnh có hơn 58.000ha diện tích trồng cây lâu năm. Trong đó, có hơn 7.500ha diện tích cây ăn quả, gần 9.000ha diện tích trồng điều, hơn 13.000ha diện tích trồng tiêu và hơn 22.000ha trồng cây cao su. Tổng diện tích cây hàng năm đạt gần 60.000ha. Trong đó, diện tích trồng lúa chiếm khoảng 25.000ha, rau các loại 10.000ha, các loại cây có hạt khoảng 13.500ha, cây gia vị và dược liệu gần 95ha.

Theo ông Nguyễn Chí Đức, Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, do đang là mùa mưa nên dịch bệnh lây lan với tốc độ nhanh. Trước tình hình này, Chi cục đã có nhiều biện pháp tích cực hỗ trợ nông dân trong công tác phòng trừ dịch bệnh. Trong đó, chú trọng hướng dẫn người dân cách tiêu hủy an toàn, ngăn chặn khả năng lây lan.

Bài, ảnh: KIM HỒNG

VnSAT tiếp tục đầu tư phát triển vùng cà phê bền vững

Nguồn tin: Báo Lâm Đồng

Tiếp tục các hoạt động hỗ trợ nông dân sản xuất cà phê bền vững, năm 2019, Dự án chuyển đổi nông nghiệp bền vững (VnSAT) Lâm Đồng cùng các đơn vị hỗ trợ kỹ thuật (Trung tâm Khuyến nông, Trung tâm Giống - Vật tư nông nghiệp, Chi cục Trồng trọt, Chi cục Bảo vệ thực vật, Chi cục Phát triển nông thôn…) xây dựng 100 mô hình sản xuất và tái canh bền vững, tổ chức gần 100 lớp tập huấn FFS (tại vườn), 35 lớp về phân tích chẩn đoán dinh dưỡng, giám sát quản lý bệnh, hướng dẫn bà con nông dân nắm vững kiến thức và thực hành tốt quy trình canh tác cây cà phê theo hướng bền vững - trồng, chăm sóc, thu hái chất lượng, hiệu quả. Dự án cũng hỗ trợ phân bón, thuốc BVTV với mức đầu tư 50% cho các mô hình sản xuất và tái canh bền vững.

Tập huấn kỹ thuật sản xuất cà phê bền vững

Cùng đó, VnSAT tiếp tục tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng người đứng đầu tổ, nhóm sản xuất, nhằm nâng cao năng lực quản lý và tổ chức sản xuất; nắm vững các chính sách của nhà nước đối với các tổ chức nông dân; thông tin thị trường…, đây là những kiến thức cần thiết trong xu hướng liên kết, phát triển sản xuất nông nghiệp hiện nay.

Trong 3 năm qua, dự án VnSAT đã phối hợp với các đơn vị hỗ trợ kỹ thuật tổ chức đào tạo, tập huấn canh tác cà phê cho hàng chục ngàn lượt hộ nông dân; xây dựng nhiều mô hình tái canh và sản xuất cà phê bền vững; củng cố, phát triển các hợp tác xã, tổ hợp tác, thúc đẩy liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản...

Hỗ trợ phân bón cho vườn mô hình

Thông qua việc tập huấn kỹ thuật, xây dựng mô hình sản xuất cuả VnSAT, nhiều hộ nông dân nhận thức tốt hơn về sản xuất bền vững, và thực hành có hiệu quả trên diện tích canh tác của gia đình.

BÍCH HIỀN

Nhiều diện tích keo lai và cao su bị đốt, chặt hạ

Nguồn tin: Báo Phú Yên

Diện tích keo của ông Cao Nguyên Lâm bị đốt cháy. Ảnh: NHẬT HUY

Những ngày qua, ông Cao Nguyên Lâm (xã Ea Bar, huyện Sông Hinh) đứng ngồi không yên, khi 8ha keo lai và cao su của gia đình trồng tại buôn Quen bị đốt và đốn hạ, gây thiệt hại lớn.

Vào lúc 11 giờ ngày 13/8, gia đình ông Cao Nguyên Lâm phát hiện 4ha keo lai 5 năm tuổi tại buôn Quen, xã Ea Bar bị cháy. Nhờ lực lượng chức năng của xã và người nhà ông Lâm có mặt kịp thời nên ngọn lửa được khống chế sau đó.

Sau khi dập lửa đám keo, ông Lâm tiếp tục phát hiện gần 4ha cao su, với khoảng 3.000 cây 2 năm tuổi trồng gần đó cũng bị đốn hạ không thương tiếc. Nhận thấy sự việc mang tính chất phá hoại, ông Lâm đã báo cáo chính quyền xã Ea Bar và cơ quan chức năng huyện Sông Hinh để làm rõ vụ việc.

Theo quan sát của phóng viên, những cây cao su bị chặt sát gốc nằm la liệt và không có khả năng hồi phục. Với kinh nghiệm trồng cao su nhiều năm, ông Lâm cho biết, để chặt diện tích lớn như vậy trong một đêm, cần khoảng 4-6 người thực hiện. Theo ông Lâm, tổng thiệt hại keo lai bị đốt cháy và cao su bị chặt hạ khoảng 600 triệu đồng, trong đó cao su 200 triệu đồng, keo lai 400 triệu đồng.

Ông Nguyễn Văn Hải, Chủ tịch UBND xã Ea Bar nhận định, đây là vụ phá hoại nghiêm trọng nhất trên địa bàn xã Ea Bar trong nhiều năm trở lại đây. “Chính quyền xã tích cực hỗ trợ gia đình ông Cao Nguyên Lâm giải quyết vụ việc, đồng thời phối hợp với cơ quan điều tra Công an huyện Sông Hinh sớm tìm ra thủ phạm, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã, giúp người dân yên tâm sản xuất, phát triển kinh tế”, ông Hải nói.

Theo ông Hải, ông Lâm là nông dân tiêu biểu của xã, sống hiền lành, hòa thuận với nhiều người và thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ngày 15/8, trao đổi với phóng viên Báo Phú Yên, đại tá Nguyễn Trọng Thám, Trưởng Công an huyện Sông Hinh cho biết, đơn vị đã nắm thông tin diện tích cao su và keo lai của ông Cao Nguyên Lâm bị chặt phá và đốt. Nhận định ban đầu, đây là vụ việc nghiêm trọng, nên Công an huyện đang tích cực điều tra làm rõ.

Tôi rất lo lắng và đã báo cáo vụ việc lên chính quyền địa phương, cơ quan chức năng với mong muốn sớm truy tìm ra thủ phạm, qua đó giúp tôi và những người dân xung quanh yên tâm sản xuất

Ông Cao Nguyên Lâm

NHẬT HUY

Đa dạng hóa giống cây có dầu

Nguồn tin: Báo Công Thương

Nghiên cứu đa dạng hóa giống cây có dầu là một trong những thế mạnh của Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (Bộ Công Thương) và có nhiều đóng góp cho sản xuất trong những năm qua. Hầu hết các đề tài tập trung vào nghiên cứu các giống cây như: lạc, đậu tương, vừng, dừa, hướng dương, cải dầu, dầu mè, cây tinh dầu...

Trong thời gian qua, ngoài những đề tài, dự án do Bộ, nhà nước đặt hàng, Viện còn thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu với các địa phương, đơn vị trong nước và các nhiệm vụ hợp tác quốc tế với Ấn Độ, Anh, Hoa Kỳ... Từ đó, cung cấp hàng trăm ngàn cây dừa giống, hàng trăm tấn giống lạc, vừng; sản xuất thử một số sản phẩm như dầu dừa tinh khiết VCO, tinh dầu thiên nhiên các loại và các quy trình công nghệ chế biến sản phẩm từ cây có dầu đã được nghiên cứu sản xuất thử và giới thiệu cho thị trường.

Nghiên cứu lĩnh vực chế biến góp phần làm gia tăng giá trị của cây dừa

Đặc biệt, sau nhiều năm nghiên cứu, Viện đã chọn lọc, lai tạo được nhiều giống cây năng suất cao, chất lượng tốt. Chẳng hạn như nghiên cứu chọn tạo các giống lạc: VD1, VD2, VD5, VD6, VD7, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống quốc gia và giống tạm thời. Đến nay, các giống lạc này nằm trong 10 giống có diện tích sản xuất lớn nhất ở các tỉnh phía Nam. Mỗi năm, Viện cung cấp cho các Trung tâm Khuyến nông và nông dân từ 100 -150 tấn lạc giống.

Viện cũng đã nghiên cứu và nhân các giống vừng mới như: V6, VDM34, VDM3, V36, V10 năng suất cao, hàm lượng dầu cao được Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống cho sản xuất thử ở các tỉnh phía Nam và Bắc Trung bộ. Riêng giống vừng trắng VDM3 đã được ứng dụng cho sản xuất vụ xuân hè tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vụ đông xuân tại vùng Đông Nam bộ.

Về cây dừa, Viện đã bảo tồn và lưu giữ tập đoàn giống dừa 51 giống, bao gồm các giống dừa có nguồn gốc trong nước và nhập nội; có 19 giống (5 giống bố và 14 giống mẹ) được khai thác đưa vào sử dụng lai tạo ra 17 giống mới. Trong đó, có các giống PB121, JVA1, JVA2 và một số giống khác đang được trồng khảo nghiệm ở nhiều tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long… Đặc biệt, Viện đã nghiên cứu được 9 giống dừa thuộc 5 nhóm có nhiều đặc tính quý như ra hoa, quả sớm, năng suất cao, chống chịu khá tốt với điều kiện bất thuận của môi trường, được nhà nước công nhận là giống quốc gia. Các giống này có cơm dừa dày (1- 1,2cm), hàm lượng dầu cao 63-68% (đạt 1,7 - 2 tấn cơm dừa khô/ha/năm (các giống địa phương chỉ đạt 1 tấn).

Viện cũng đã chuyển mạnh sang nghiên cứu các công nghệ chế biến dầu thực vật, với mục tiêu nâng cao giá trị tăng thêm của các cây có dầu và tìm kiếm nguồn nguyên liệu dầu mới. Một số công trình nghiên cứu có kết quả tốt đã được áp dụng vào sản xuất như: Công nghệ chế biến dầu mè tươi, dầu chùm ngây, dầu hạt thanh long…; các loại tinh dầu thiên nhiên như tinh dầu bưởi, tinh dầu sả... đang từng bước hoàn thiện công nghệ và chuyển giao cho sản xuất nhằm gia tăng giá trị các sản phẩm từ cây có dầu đáp ứng nhu cầu của cuộc sống.

Thời gian qua, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu đã triển khai nghiên cứu lĩnh vực chế biến các sản phẩm từ dừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội góp phần làm gia tăng giá trị của cây dừa.

Quỳnh Nga

Phòng, chống sâu keo mùa thu gây hại trên cây ngô: Tích cực sử dụng biện pháp thủ công

Nguồn tin: Báo Hải Phòng

Là loại sâu mới xuất hiện tại Hải Phòng, từ giữa tháng 7-2019 đến nay, sâu keo mùa thu đang có xu hướng gây hại diện rộng tại các huyện có diện tích trồng ngô trên địa bàn thành phố. Vì vậy, việc kiểm soát và phòng, chống hiệu quả sâu keo đang được ngành chức năng và các huyện quan tâm, chỉ đạo sát sao…

Image result for Hình ảnh diệt sâu keo trên ruộng ngô

Nông dân xã An Hòa ra đồng diệt sâu keo trên các ruộng ngô.

Khẩn trương chống sâu keo

Từ ngày 25-7 đến nay, khi phát hiện sâu keo hại ngô trên diện rộng, người dân tích cực phối hợp với chính quyền các địa phương để phòng, chống. Ông Phạm Văn Nước, Phó giám đốc HTX nông nghiệp xã An Hòa (An Dương) cho biết, 2 tuần gần đây, sâu keo vũ hóa rộ lứa 1,2,3 khiến nhiều ruộng ngô ở thôn Hà Nhuận 1 thiệt hại đáng kể. Cây ngô đang giai đoạn ra bắp bị sâu đục từ bắp đến lá; cây giai đoạn bánh tẻ bị sâu ăn xoắn hết nõn. Khi người dân phát hiện, thông báo về tình trạng sâu keo, cả xã dồn dập, khẩn trương phun thuốc phòng trừ. Tuy nhiên, sâu hại diện rộng nên bà con phải kết hợp nhiều biện pháp để trừ sâu.

Theo Chi cục Trồng trọt- Bảo vệ thực vật (TT-BVTV) Hải Phòng, ở các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thụy, An Dương trung bình trồng 250 ha ngô/vụ. Đầu tháng 8-2019, các huyện đã trồng 40 ha ngô vụ hè thu, trong đó có khoảng 20 ha ngô mới trồng, một số diện tích chuẩn bị cho thu hoạch. Vài tháng trước, sâu keo chỉ gây hại rải rác, song 2 tuần gần đây, sâu keo tấn công dồn dập các ruộng ngô. Một số ruộng bị thiệt hại nặng, cây gãy, đổ; cây đang ra bắp không được thu hoạch. Vào thời điểm giữa tháng 8-2019, sâu keo gây hại ở hầu hết các xã có trồng ngô tại các huyện trên, nặng nhất trên cây ngô giai đoạn từ 5 lá đến xoáy nõn với mật độ phổ biến 1-2 con/m2, có nơi 6-8 con/m2. Sâu xuất hiện đủ các giai đoạn trên ruộng ngô như trứng, sâu non, sâu trưởng thành. Toàn thành phố có khoảng 9 ha bị sâu keo gây hại nặng. Các xã có diện tích trồng ngô lớn bị thiệt hại nặng là Thắng Thủy, Dũng Tiến (Vĩnh Bảo), An Hòa (An Dương). …

Các hội, đoàn thể cần tích cực vào cuộc

Theo Phó chi cục trưởng Chi cục TT-BVTV Hải Phòng Chu Thanh Hà, sâu keo mùa thu mới xâm nhập vào Việt Nam, gây hại nhanh và nặng nhất trên cây ngô. Loại sâu này chủ yếu hoạt động về đêm. Đặc điểm gây hại của chúng là chủ yếu sâu non tuổi nhỏ gây hại ở biểu bì mặt dưới của lá non gây ra các vết hình vuông hoặc chữ nhật màu trắng. Sâu non tuổi lớn hơn sẽ ăn khuyết lá, bẹ lá thành các lỗ lớn...

Tháng 4-2019, khi sâu keo chưa xuất hiện tại Hải Phòng, Chi cục TT- BVTV đã có công văn yêu cầu các huyện có diện tích trồng ngô chú trọng theo dõi, phát hiện và phòng trừ sâu keo. Vào tháng 5-2019, sâu xuất hiện rải rác ở một vài nơi nhưng chưa gây hại, Chi cục TT- BVTV Hải Phòng có hướng dẫn cụ thể về các biện pháp kỹ thuật để phòng, chống sâu keo. Các cơ quan chuyên môn của Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn gồm Trung tâm Khuyến nông, Phòng Kỹ thuật nông nghiệp, Chi cục TT-BVTV cử cán bộ theo dõi chặt chẽ diễn biến, dự báo thời gian phát sinh gây hại; tổ chức thông tin, tuyên truyền về sâu keo mùa thu cho cán bộ cơ sở và nông dân biết, chủ động phòng, chống.

Tại các huyện có diện tích trồng ngô, UBND huyện chỉ đạo cán bộ nông nghiệp, phối hợp với cán bộ chuyên môn bảo vệ thực vật, khuyến nông… điều tra diễn biến sâu keo, hướng dẫn nông dân phun trừ sâu bằng các biện pháp hóa học khi mật độ sâu keo từ 4 con/m2 trở lên. Một số huyện hỗ trợ thuốc BVTV cho nông dân tại các vùng trồng ngô với diện tích trồng lớn, đang bị sâu keo gây hại nặng.

Hiện, sâu keo gây hại diện rộng ở một số xã có diện tích trồng ngô lớn, nếu không được kiểm soát, phòng trừ kịp thời, sâu có thể lây lan sang rau màu và cây họ cà, thiệt hại sẽ lớn hơn. Vì vậy, cần huy động các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên tích cực tham gia thông tin, vận động hội viên thực hiện các biện pháp phòng trừ sâu keo hiệu quả cao. Đối với nông dân, chỉ sử dụng thuốc hóa học khi sâu ở ngưỡng cần phun trừ. Khuyến khích bà con sử dụng các biện pháp thủ công như dùng tay để ngắt ổ trứng, bắt và diệt sâu trưởng thành. Bên cạnh đó, bà con có thể dùng tro bếp, nước xà phòng loãng để diệt sâu non hay thả ong mắt đỏ để đuổi sâu non giai đoạn nhỏ, sử dụng các biện pháp bẫy bằng đèn, dùng bả chua ngọt để diệt sâu…

Bài và ảnh: Hương An

Bắc Giang thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp

Nguồn tin:  Báo Bắc Giang

Tuy có vùng sản xuất hàng hóa lớn nhưng Bắc Giang lại khó thu hút doanh nghiệp (DN) có tiềm lực mạnh đầu tư vào địa bàn. Trước thực tế này, tỉnh đang áp dụng một số cơ chế, chính sách ưu đãi đối với DN triển khai dự án ở lĩnh vực nông nghiệp.

Doanh nghiệp chế biến ít, quy mô nhỏ

Theo Sở Nông nghiệp và PTNT, sản xuất nông nghiệp hàng hóa của Bắc Giang chiếm từ 70-80% tỷ lệ diện tích, quy mô ngành nông nghiệp song DN đầu tư vào nông nghiệp lại rất hạn chế.

Đóng gói nông sản tại Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu G.O.C.

Toàn tỉnh có khoảng 200 DN nông nghiệp, chủ yếu quy mô nhỏ, tiềm lực hạn chế, đa phần có hoạt động cung ứng vật tư như giống, phân bón. Số DN chế biến nông sản rất ít, chưa đến 5% tổng số DN nông nghiệp. Do vậy, lượng lớn nông sản được tiêu thụ và xuất khẩu ở dạng sơ chế thô nên giá trị thấp.

Huyện Yên Thế có tổng đàn gà duy trì ở mức hơn 3 triệu con nhưng hơn chục năm qua không có DN lớn vào đầu tư dây chuyền giết mổ gia cầm tại chỗ. Hiện tại trên địa bàn có Công ty cổ phần Giang Sơn, xã Đồng Tâm- một DN nhỏ, hoạt động chính là cung ứng gà lông cho các chợ đầu mối.

Lượng gà giết mổ, giò gà chỉ vài chục tấn mỗi năm. Ngoài Công ty Giang Sơn, trước đó tại huyện cũng có DN đầu tư dây chuyền chế biến, giết mổ nhưng đã ngừng hoạt động, chỉ còn DN cung ứng giống và chế biến gà với lượng nhỏ do nông sản chế biến khó tiêu thụ.

Tại Lục Ngạn, với vùng cây có múi hơn 6 nghìn ha, sản lượng đạt 50 nghìn tấn mỗi vụ nhưng cam, bưởi vẫn chỉ bán tươi. Có thời điểm thu hoạch rộ giá bán rất thấp, nhà vườn lỗ nặng. Sản lượng vải thiều đưa vào chế biến cũng không đáng là bao. Vài chục tấn vải trong tổng số gần 100 nghìn tấn/vụ được làm nước ép hoa quả hay cùi đông lạnh đóng hộp tại DN trên địa bàn tỉnh.

Lý giải về thực trạng này, ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho rằng, sản xuất nông nghiệp tiềm ẩn rủi ro cao. Một số cây trồng ra quả theo mùa trong khi kinh phí đầu tư một dây chuyền chế biến nông sản không nhỏ, chỉ vận hành vài tháng trong năm.

Kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn đã được quan tâm đầu tư nâng cấp nhưng chưa đáp ứng nhu cầu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, chủ yếu mới chỉ đầu tư cho kết cấu hạ tầng thủy lợi. Có nơi việc liên kết, tích tụ ruộng đất còn gặp trở ngại. Những yếu tố trên khiến DN chưa mặn mà rót vốn vào nông nghiệp.

Đại diện Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu G.O.C (Lạng Giang) - DN đi đầu về chế biến nông sản của tỉnh chia sẻ, do nông dân không chú trọng làm nông nghiệp như trước nên việc xây dựng vùng nguyên liệu của Công ty tại Bắc Giang gặp khó khăn.

Hiện DN phải liên kết với nông dân ở nhiều địa phương khác khiến chi phí vận chuyển tăng, giá thành cao hơn. Đơn vị mong muốn địa phương, ngành chức năng có chính sách khuyến khích, hình thành vùng sản xuất tập trung đủ lớn để DN thuê đất đầu tư sản xuất tại tỉnh.

Tích tụ ruộng đất, hỗ trợ kinh phí

Nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với phát triển KT-XH của tỉnh. Ngày 3-4-2019, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết 401-NQ/TU về Chiến lược phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Giang đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035.

Theo Nghị quyết 401 ngày 3-4-2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, từ nay đến năm 2030, tỉnh ưu tiên thu hút dự án sản xuất, chế biến nông sản hướng đến xuất khẩu gắn với vùng nguyên liệu gồm: Chế biến rau xuất khẩu; chế biến quả xuất khẩu; chế biến gỗ phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu; các dự án giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm và chế biến sản phẩm thịt lợn phục vụ thị trường trong nước.

Nghị quyết xác định, phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh địa phương, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thích ứng với cơ chế thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế.

Phát triển đồng bộ nông nghiệp với công nghiệp, thương mại, dịch vụ nhằm hỗ trợ để tạo ra nhiều sản phẩm, nhiều giá trị chất lượng cao.

Để thực hiện mục tiêu này, Nghị quyết nêu rõ: Từ nay đến năm 2030 phải ưu tiên thu hút dự án sản xuất, chế biến nông sản hướng đến xuất khẩu gắn với vùng nguyên liệu gồm: Chế biến rau xuất khẩu ở Việt Yên, Tân Yên, Lạng Giang, Hiệp Hòa; chế biến quả xuất khẩu ở Lục Ngạn, Lục Nam; chế biến gỗ phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu tại Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế; các dự án giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm tại Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang, TP Bắc Giang và chế biến sản phẩm thịt lợn, gà ở Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang, Lục Nam phục vụ thị trường trong nước.

HĐND tỉnh cũng có chính sách đặc thù nhằm khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, DN có dự án trồng hoa quy mô tập trung từ 2 ha và trồng rau từ 5 ha trở lên ở khu vực nông thôn được tỉnh hỗ trợ 50% chi phí đầu tư nhưng không quá 2 tỷ đồng/dự án để xây dựng giao thông, hệ thống điện, cấp, thoát nước, làm nhà lưới, nhà màng, nhà kính. Các DN chăn nuôi dê từ 300 con, ngựa từ 100 con và trâu từ 70 con trở lên được hỗ trợ 50% chi phí đầu tư nhưng không quá 2 tỷ đồng/dự án…

Tỉnh cũng tiếp tục triển khai thực hiện tốt Nghị định số 57/2018/NÐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 17-4-2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn như ưu đãi đầu tư thuê, thuê lại đất, mặt nước của hộ gia đình, cá nhân…

Thực hiện các quy định trên, trước mắt Sở Nông nghiệp và PTNT đang khẩn trương khảo sát tại huyện Lạng Giang, Hiệp Hòa, Lục Nam nhằm tích tụ ruộng đất tập trung từ 30 ha trở lên. Từ đó, mời gọi DN lớn như: Tập đoàn T&T, Vingroup vào đầu tư rau, hoa công nghệ cao.

Trường Sơn

Đắk Lắk: Nông dân Krông Pắc đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Nguồn tin:  Báo Đắk Lắk

Những năm qua, các cấp Hội Nông dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk luôn chú trọng công tác kết nối, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) thông qua nhiều hình thức khác nhau; qua đó giúp nông dân điều chỉnh hoạt động sản xuất thích nghi với biến đổi khí hậu, từng bước thay đổi tập quán canh tác, đưa nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững.

Nhờ thường xuyên cập nhật giá cả thị trường, xu hướng tiêu dùng và sản xuất mới, ông Nguyễn Kim Tần (thôn Thăng Tiến 3, xã Hòa An) nhận thấy xu thế sử dụng thực phẩm an toàn ngày càng tăng. Cuối năm 2018, ông nhổ bỏ 0,5 ha cà phê già cỗi sang trồng các loại cây họ đậu. Sau một mùa (3 tháng) thì ông lại chuyển sang trồng rau thử nghiệm. Thấy đất khá tương thích với các loại rau nên tháng 4-2019, ông lặn lội xuống TP. Hồ Chí Minh tìm hiểu thị trường nhà lưới.

Theo tính toán, chi phí xây dựng nhà lưới và hệ thống tưới tự động dao động từ 120 - 150 triệu đồng/sào, nhưng nếu tự xây dựng nhà lưới sẽ tiết kiệm được hơn 20% chi phí đầu vào nên ông đã tự mua lưới về để dựng. Ông Tần cho biết, thời tiết Đắk Lắk những năm gần đây diễn biến phức tạp, hiện tượng mưa lớn kèm theo gió giật mạnh xảy ra liên tục nên chuyện nhà lưới bị sập, hỏng luôn được ông tính đến khi chuyển hướng sang trồng rau.

Gia đình ông Nguyễn Kim Tần kiểm tra chất lượng khổ qua trước khi bán cho người dân trong vùng.

Nhờ tự làm nhà lưới mà toàn bộ số tiền tiết kiệm được ông chuyển sang đầu tư các giống rau công nghệ cao như dưa leo baby, cà chua baby, khổ qua xanh, đậu cô ve chất lượng cao, rau muống… Trồng rau trong nhà lưới với giống chất lượng cao (tỷ lệ nảy mầm cao, sản phẩm rau, quả có kích thước tương đối ổn định) đã chế ngự được nhược điểm rau quả dễ bị sâu bệnh và kích thước nhỏ của phương pháp sản xuất theo hướng hữu cơ. Vì vậy, người dân địa phương sau khi đến tham quan đã có sự tin tưởng nhất định và đặt vấn đề mua rau định kỳ cho gia đình. Hiện tại, ngoài bán cho người dân trên địa bàn huyện thì gia đình còn cung cấp các loại rau nói trên cho chợ đầu mối Tân Hòa, TP. Buôn Ma Thuột với khối lượng bình quân khoảng 1 tạ/ngày.

Hội Nông dân huyện Krông Pắc hiện đang tập trung thực hiện 4 dự án sản xuất nông nghiệp công nghệ cao với số tiền 760 triệu đồng gồm nuôi cá lồng bè, nuôi gà thương phẩm tại xã Krông Búk, trồng và khai thác nấm tại xã Ea

Uy, nuôi bò vỗ béo ở xã Ea Kuăng.

Tương tự, KHKT cũng đang góp phần tích cực vực dậy kinh tế cho gia đình chị H’Nghịch (buôn Kang, xã Ea Knuêc). Theo đó, gia đình chị chỉ có 1 ha cà phê nhưng đã già cỗi, năng suất hằng năm rất thấp. Để cải thiện thu nhập, gia đình chị đã tiến hành tái canh theo hình thức cuốn chiếu nhưng bất thành vì thiếu kỹ thuật. Vì thế, năm 2015 khi hay tin xã mở lớp dạy nghề kỹ thuật trồng cà phê, chị đã đi học nghề. Sau khi hoàn thành khóa học 3 tháng, gia đình chị đã nhổ bỏ cà phê già cỗi, cải tạo đất bằng phương pháp cày bừa, phơi ải đất. Sau đó bón nhiều phân chuồng để trồng các loại cây họ đậu, bắp trong 2 năm.

Vườn cà phê tái canh theo hướng bền vững của gia đình chị H’Nghịch.

Trước khi xuống giống cà phê, gia đình bón lượng lớn phân chuồng ủ hoai vào hố, chọn các giống cà phê mới TRS1, TR4 để trồng, đồng thời xen canh các loại cây ăn quả giữa các khoảng trống trên vườn.... Nhờ áp dụng đúng khoa học kỹ thuật mà gia đình đã tái canh thành công 1 ha cà phê với tỷ lệ sống trên 90%. Hiện tại, vườn cà phê đang trong giai đoạn nuôi quả và bắt đầu cho thu bói vào niên vụ tới.

Ông Nguyễn Công Hiếu, Chủ tịch Hội Nông dân huyện Krông Pắc cho biết, bên cạnh kết hợp với các cơ quan, đoàn thể khác tổ chức tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật thì Hội Nông dân huyện còn tổ chức các đoàn tham quan, tìm hiểu những mô hình sản xuất mới. Điển hình là tổ chức Đoàn tham quan Nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh tại TP. Buôn Ma Thuột; tham quan, trao đổi học tập kinh nghiệm với Hội Nông dân huyện Cư Kuin; tham gia hội thảo các giống lúa mới; phối hợp với các công ty và dịch vụ mua phân bón trả chậm cho cán bộ, hội viên, nông dân hơn 124,6 tấn phân bón…

Thanh Hường

Giá muối bấp bênh, diêm dân nản lòng

Nguồn tin:  Báo Bà Rịa - Vũng Tàu

Những năm gần đây, nhiều diêm bỏ nghề vì thu nhập bấp bênh. Điều đó dẫn đến diện tích sản xuất muối của tỉnh giảm mạnh. Tuy chưa đến mức phá vỡ quy hoạch nhưng câu chuyện giải pháp phát triển bền vững cho nghề muối luôn được đặt ra cấp bách.

Xã An Ngãi, huyện Long Điền là một trong những địa phương có diện tích muối giảm mạnh. Trong ảnh: Ông Nguyễn Văn Gia, xã An Ngãi chuẩn bị muối để bán.

DIỆN TÍCH SẢN XUẤT MUỐI GIẢM MẠNH

Xã An Ngãi, huyện Long Điền, là một trong những địa phương có diện tích sản xuất muối giảm mạnh nhất của tỉnh. Ông Phạm Lân Trọng (ở ấp An Thạnh, xã An Ngãi, huyện Long Điền) vừa phải từ bỏ nghề muối vì công việc vất vả mà thu nhập quá bấp bênh. Ông Trọng cho biết: “Trước đây, làm muối là nghề ăn nên làm ra nên dù cực khổ, vẫn cố bám trụ. Tuy nhiên, những năm gần đây giá muối bấp bênh, nhiều năm thua lỗ nên tôi phải ngưng làm muối”.

Ông Huỳnh Văn Thuyết, Giám đốc HTX Muối Chợ Bến, xã An Ngãi, huyện Long Điền cho biết: “Chuyện diêm dân bỏ nghề nay không còn hiếm nữa. Giá muối hiện nay chỉ còn 500-600 đồng/kg, khiến diêm dân thua lỗ. Nhiều gia đình làm muối nay phải chuyển đổi sang các nghề khác. Có người thậm chí còn bán luôn đất ruộng của mình”.

Thu hoạch muối tại xã An Ngãi, huyện Long Điền.

Không chỉ tại xã An Ngãi, các địa phương khác trên địa bàn tỉnh như xã Long Sơn, (TP.Vũng Tàu) thị trấn Long Điền (huyện Long Điền), diện tích sản xuất muối cũng đã giảm.

Trên phạm vi toàn tỉnh, vụ muối vừa qua, tổng diện tích làm muối là 712ha, sản lượng ước đạt khoảng 53 ngàn tấn. Như vậy, diện tích sản xuất muối trên địa bàn giảm đến gần 100ha so với niên vụ 2017-2018, và giảm gần 130ha so với giai đoạn 2016-2017. Theo nhận định, diện tích muối sẽ tiếp tục giảm mạnh trong thời gian tới. Thực trạng này tuy chưa đi ngược với quy hoạch phát triển chung tại một số địa phương, nhưng lại đặt ra bài toán cấp bách về việc duy trì, phát triển một trong những nghề truyền thống chủ lực của tỉnh.

Thu hoạch muối tại khu phố Long Hiệp, thị trấn Long Điền. Ảnh: QUANG VINH

TÌM GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Bà Nguyễn Lê Yến Hà, Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản tỉnh cho biết, ngoài việc bị ảnh hưởng bởi thời tiết, giá cả, ngành sản xuất muối trên địa bàn tỉnh đang gặp một số khó khăn khác, như: Cơ sở hạ tầng phát triển sản xuất, chế biến muối chưa đồng bộ; chính sách hỗ trợ phát triển ngành muối chưa đủ mạnh, chưa tạo được động lực phát triển nghề…” Hiện nay Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản tỉnh đã xây dựng chi tiết kế hoạch nâng cao hiệu quả nghề sản xuất muối trên địa bàn tỉnh. Theo kế hoạch này, Chi cục sẽ tổ chức cho diêm dân trên địa bàn tỉnh tham quan, học tập kinh nghiệm, xúc tiến thương mại tại một số địa phương; nhân rộng hình thức sản xuất muối da rong (kỹ thuật sản xuất muối có chất lượng cao tại xã Long Sơn, TP. Vũng Tàu); thực hiện chương trình dự báo thời tiết qua SMS cho diêm dân. Ngoài ra, Chi cục sẽ tham mưu các biện pháp hỗ trợ để giúp diêm dân áp dụng máy móc, công nghệ mới vào sản xuất; đồng thời, thu hút các nhà đầu như xây dựng các cơ sở bảo quản, chế biến để giữ gìn, nâng cao uy tín của thương hiệu “Muối Bà Rịa” trên thị trường”, bà Nguyễn Lê Yến Hà cho biết thêm.

Thúc đẩy mở rộng diện tích sản xuất muối trải bạt

Theo quy hoạch, diện tích sản xuất muối của BR-VT vào năm 2025 là 620ha; năm 2030, tỉnh chỉ còn 380ha. Tuy nhiên, diện tích sản xuất muối trải bạt sẽ tăng lên 100ha so với 35ha như hiện nay. Cùng với đó, vào năm 2030, năng suất muối bình quân sẽ tăng lên 80 tấn/vụ so với 75 tấn/vụ như hiện nay. Theo bà Nguyễn Lê Yến Hà, Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản tỉnh, một trong những giải pháp trước mắt để tháo gỡ khó khăn về đầu ra cho sản phẩm muối của địa phương là thời gian tới sẽ kết nối với các hộ, DN làm nước mắm tại Phú Quốc (Kiên Giang) để mở rộng thị trường tiêu thụ.

Trong khi đó, ngành nông nghiệp cũng đang triển khai các giải pháp kêu gọi DN đầu tư công nghệ, máy móc, trang thiết bị vào sản xuất muối nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng theo tiêu chuẩn công nghiệp, đáp ứng nhu cầu trong nước với giá thành cạnh tranh. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển sản xuất muối công nghiệp; khuyến khích HTX và các hộ diêm dân cùng với các DN, cơ sở sản xuất - kinh doanh muối liên minh, liên kết trong sản xuất - tiêu thụ.

Bên cạnh đó, Chi cục Quản lý Chất lượng nông, lâm sản và thủy sản kiến nghị, tỉnh cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng nghề muối đã được UBND tỉnh phê duyệt năm 2018. Một số địa phương cần rà soát lại quy hoạch vùng sản xuất muối, kiểm tra, giám sát chặt chẽ để đảm bảo các hành vi chuyển đổi mục đích đất sản xuất muối sang các hình thức sử dụng khác đúng với Pháp luật để ổn định diện tích sản xuất muối. Còn tại xã Long Sơn, TP.Vũng Tàu, một số diện tích đang sản xuất muối nằm trong quy hoạch xây dựng của Tổ hợp Hóa dầu Long Sơn, cơ quan chức năng cần có biện pháp hỗ trợ diêm dân mất đất sản xuất trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống.

QUANG VINH

Mỹ Tú (Sóc Trăng): Hội nghị triển khai mô hình chuỗi liên kết giá trị nuôi gà thả vườn theo hướng VietGAP

Nguồn tin: Báo Sóc Trăng

Chiều ngày 15/8, Huyện đoàn Mỹ Tú, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Công ty TNHH Anh Hoàng Thy (tỉnh Đồng Nai) tổ chức buổi Hội nghị triển khai mô hình chuỗi liên kết giá trị nuôi gà thả vườn theo hướng VietGAP. Đến dự có ông Trần Văn Tâm - Phó Chủ tịch UBND huyện, lãnh đạo các cấp, các ngành, đoàn thể hữu quan và gần 50 cán bộ, đoàn viên, hội viên có nhu cầu sản xuất chăn nuôi trên địa bàn.

Nội dung của buổi Hội nghị bao gồm thực trạng tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung và chăn nuôi gia cầm (gà, vịt) nói riêng ở Mỹ Tú; những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong chăn nuôi gia cầm, thảo luận, tư vấn các nội dung về kỹ thuật chăn nuôi, môi trường, chính sách, giống, thức ăn, chăm sóc phòng trị bệnh cho gà…. Đặc biệt là mô hình chuỗi liên kết giá trị nuôi gà thả vườn theo hướng VietGAP (từ sản xuất đến tiêu thụ) thông qua tổ chức nông dân (THT hoặc HTX).

Quang cảnh Hội nghị

Hiện nay nhu cầu tiêu dùng của người dân đang tiến dần tới một trình độ cao, đòi hỏi sản phẩm nông nghiệp sạch, an toàn, chất lượng. Vì vậy, việc chăn nuôi gà theo hướng VietGAP, xây dựng chuỗi giá trị chăn nuôi là rất cần thiết. Các khâu trong chuỗi giá trị bao gồm sản xuất - tiêu thụ - chế biến. Với mục tiêu liên kết nhà sản xuất (người nông dân) với nhà doanh nghiệp (thu mua sản phẩm, cung ứng giống, thuốc thú y, thức ăn…) có sự hỗ trợ của nhà khoa học, nhà nước (vốn vay ưu đãi, tập huấn kỹ thuật)…, tạo ra một dây chuyền khép kín, thúc đẩy nghề nuôi gà phát triển, ổn định, bền vững và các bên tham gia cùng có lợi.

Ông Trần Văn Tâm - Phó Chủ tịch UBND huyện cho biết: “Mỹ Tú là huyện thuần nông, bên cạnh việc tập trung phát triển cây lúa thì tại các xã vùng trũng như: Mỹ Phước, Mỹ Tú, Long Hưng, Hưng Phú và thị trấn Huỳnh Hữu Nghĩa số lượng chăn nuôi gia cầm hàng năm gần 900.000 con. Đây là một tiềm năng rất lớn làm cơ sở để tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi giá trị trong thời gian sắp tới”.

Quốc Tuấn

Bà Rịa - Vũng Tàu: Giá heo hơi tăng mạnh

Nguồn tin: Báo Bà Rịa - Vũng Tàu

Tin từ các hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, khoảng 1 tuần qua, giá heo hơi trên địa bàn tỉnh tăng mạnh. Cụ thể, heo hơi được thu mua với giá 38-40 ngàn đồng/kg, tăng 8-10 ngàn đồng/kg so với 1 tuần trước đó. Theo nhận định, nguyên nhân của việc heo hơi tăng giá là do thiếu hụt nguồn cung, nhất là tại các tỉnh phía Bắc. Trong thời gian tới, nhiều khả năng giá heo sẽ giữ ở mức cao và có xu hướng tăng.

Về diễn biến của dịch tả heo châu Phi trên địa bàn tỉnh, hiện BR-VT đã xuất hiện 299 ổ dịch tại 42 xã của 7 huyện, thị, thành; buộc tiêu hủy gần 6.700 con heo với tổng trọng lượng tiêu hủy hơn 452 tấn. Theo nhận định của cơ quan chức năng, dịch tả heo châu Phi trên địa bàn tỉnh sẽ còn lan rộng trong thời gian tới.

QUANG VINH

Hộ chăn nuôi nhỏ lẻ khó thực hiện đúng quy định về bảo vệ môi trường

Nguồn tin: Báo Tây Ninh

Theo Nghị định 18/2015 của Chính phủ, hộ chăn nuôi có quy mô chuồng trại từ 50m2 trở lên phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường.

Thời gian vừa qua, khi dân cư phát triển đông đúc, việc chăn nuôi nhỏ lẻ cũng phát triển theo. Nếu không thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, việc chăn nuôi có thể gây ảnh hưởng đến khu dân cư, dẫn đến những mâu thuẫn.

Tuy nhiên, hiện nay địa phương chỉ có thể nhắc nhở hộ chăn nuôi có quy mô chuồng trại có quy mô từ 50m2 trở lên phải vệ sinh chuồng trại thường xuyên, lắp đặt biogas, xây dựng hầm chứa nước thải…; còn việc yêu cầu các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm có quy mô chuồng từ 50m2 phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường quả là khó khăn.

Chăn nuôi heo theo mô hình gia trại- Ảnh minh hoạ

Một cán bộ địa phương chia sẻ, theo Nghị định 18/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, hộ chăn nuôi có quy mô chuồng trại từ 50m2 trở lên phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường. Thực tế, hiện nay việc chăn nuôi có quy mô nhỏ có chuồng trại từ 50m2 trở lên chủ yếu là nuôi heo. Tuy nhiên, nhiều năm qua, do giá cả heo lên xuống bất thường nên không ít hộ đóng chuồng hay nuôi cầm cự, dù quy mô chuồng trại về tổng thể hơn 50m2 nhưng diện tích thực tế nuôi chỉ khoảng 20m2.

Do thị trường heo biến động thất thường, nên hiện tại hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm của các hộ dân ở nông thôn chủ yếu tạo thêm thu nhập cho người dân, chứ không còn là nguồn kinh tế chính của gia đình như thời gian trước đây. Vì vậy, địa phương cũng chỉ thường xuyên nhắc nhở các hộ chăn nuôi này cần thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, không để ảnh hưởng đến khu dân cư.

Chị K.T.C (sinh năm 1972, ngụ khu phố Ninh Trung, phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh) cho biết, tổng thể quy mô chuồng trại của gia đình chị hơn 50m2, nhưng hiện nuôi 1 con heo đẻ, 5 heo thịt ở 2 ngăn chuồng nên diện tích nuôi cũng chỉ khoảng 20m2. Không để việc chăn nuôi ảnh hưởng đến xung quanh nên chị thường xuyên vệ sinh môi trường. Còn chất thải của heo, do chuồng nằm cạnh ao cá nên phân heo trở thành thức ăn cho cá. Vì vậy cũng không ảnh hưởng nhiều về mùi hôi trong khu dân cư.

Đây là điều khó khăn cho địa phương khi vận động các hộ chăn nuôi thực hiện đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường.

Song song đó, để viết bản kế hoạch bảo vệ môi trường, gần như các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thuộc đối tượng này không thể tự viết mà phải đi thuê đơn vị tư vấn. Trong khi tình trạng chăn nuôi heo nhỏ lẻ, hộ gia đình những năm qua bấp bênh, chẳng lãi bao nhiêu, có khi còn lỗ vốn nên khó vận động họ bỏ tiền thuê viết kế hoạch bảo vệ môi trường.

Có trường hợp sau nhiều lần bị người dân phản ánh, cơ quan chức năng kiểm tra yêu cầu họ tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, hộ chăn nuôi liền bán heo đóng cửa chuồng nghỉ nuôi.

Việc yêu cầu các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ gia súc, gia cầm có quy mô chuồng trại từ 50m2 trở lên phải thực hiện đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường là chủ trương đúng để nâng cao nhận thức của người chăn nuôi về công tác bảo vệ môi trường. Thế nhưng, thực tế áp dụng còn nhiều khó khăn do những nguyên nhân khách quan như chăn nuôi nhỏ lẻ không còn là nguồn thu nhập chính của các hộ dân, giá cả thị trường bất thường, dịch bệnh…

Do đó, làm thế nào để các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm nhỏ lẻ thực hiện nghiêm túc các biện pháp bảo vệ môi trường cần được chính quyền địa phương và cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu tìm giải pháp.

Được biết, để quản lý, xử lý đối với hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn, tháng 10.2018, UBND huyện Hòa Thành đã ban hành văn bản, đề nghị UBND các xã, thị trấn trong huyện thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra, vận động tuyên truyền, hướng dẫn những cơ sở chăn nuôi thực hiện theo quy định, như chuồng nuôi dễ vệ sinh, tiêu độc khử trùng; phải có nơi chứa, ủ chất thải rắn, có hố để xử lý chất thải lỏng bảo đảm vệ sinh thú y, vệ sinh môi trường.

Chăn nuôi phải có hệ thống, giải pháp để xử lý chất thải bảo đảm đạt quy chuẩn môi trường. Nghiêm cấm việc thải trực tiếp chất thải chưa xử lý đạt quy chuẩn quy định ra môi trường xung quanh. Hộ chăn nuôi gia trại có quy mô từ 50m2 phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường. Hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có quy mô dưới 50m2 không phải lập hồ sơ môi trường nhưng phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình chăn nuôi đúng quy định….

Đây cũng cần được xem là một trong những giải pháp nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương và nhận thức của các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong chăn nuôi.

Thiên Tâm

Chia sẻ kinh nghiệm nuôi lợn theo hướng an toàn sinh học để phòng ngừa dịch bệnh

Nguồn tin: Khuyến Nông VN

Phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng hiện đại, an toàn sinh học là một trong những giải pháp phòng, chống dịch bệnh, giảm thiểu rủi ro cho người chăn nuôi. Đây là thông tin quan trọng được đưa ra tại hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi và phát triển chăn nuôi lợn theo hướng an toàn sinh học”, do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định phối hợp với Cục Chăn nuôi, Cục Thú y thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức ngày 13/8/2019 tại Nam Định.

Theo Cục Thú y, từ đầu tháng 2 đến nay, bệnh dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 6.581 xã thuộc 592 huyện của 62/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tổng số lợn ốm, chết phải tiêu hủy lên tới trên 4 triệu con. Ước tính thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi hơn 3.000 tỷ đồng, bao gồm chi phí hỗ trợ lợn tiêu hủy, mua hóa chất... Dịch bệnh khiến tổng đàn lợn của nhiều tỉnh, thành phố giảm mạnh, thiệt hại nặng nề cho người chăn nuôi lợn. Nhiều chủ trang trại, gia trại, hộ chăn nuôi có lợn bị dịch bệnh rơi vào cảnh trắng tay, nợ nần chồng chất.

Bà Hoàng Thị Tố Nga - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định cho biết, từ ngày 8/3 đến 11/8/2019, tỉnh Nam Định có 249.571 con lợn của 35.245 hộ chăn nuôi bị ốm, chết phải tiêu hủy do dịch tả lợn châu Phi, với tổng trọng lượng gần 13.600 tấn. Ước tính con số thiệt hại khoảng 500 tỷ đồng.

Dịch tả lợn châu Phi đã khiến tổng đàn lợn tỉnh Nam Định giảm khoảng 29%; trong đó, nhiều nhất là huyện Hải Hậu giảm trên 42% tổng đàn, Trực Ninh giảm 39,3%, Nghĩa Hưng giảm 32,5%. Nhiều xã trong tỉnh có số lợn mắc bệnh phải tiêu hủy chiếm tới 70% tổng đàn như: Nam Hồng (huyện Nam Trực), Trực Thắng (huyện Trực).

Tại hội thảo, đại diện các cơ quan chuyên môn, lãnh đạo địa phương, chủ trang trại, gia trại đã thẳng thắn chỉ ra, nguyên nhân khiến dịch bệnh bùng phát và lây lan nhanh vì đây là bệnh mới lần đầu tiên xâm nhiễm vào Việt Nam nên chưa có thuốc điều trị cũng như vắc-xin phòng bệnh. Hơn nữa, vi-rút này bền vững ở ngoài môi trường, phương thức lây lan đa dạng, phức tạp.

Cùng đó, mật độ chăn nuôi cao, hình thức chăn nuôi chủ yếu nhỏ lẻ, chiếm trên 70% số hộ chăn nuôi lợn, việc vệ sinh chuồng trại không đảm bảo quy định phòng dịch. Nhận thức của một số hộ chăn nuôi về phòng, chống dịch chưa cao; vẫn còn tình trạng không thông báo cho cơ quan chức năng khi có lợn ốm; tự ý điều trị lợn mắc bệnh hoặc bán chạy lợn bệnh…

Trước thực trạng dịch tả lợn châu Phi vẫn đang lây lan và khó kiểm soát tại các tỉnh, thành phố trong cả nước, ông Nguyễn Xuân Dương - Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho rằng, với truyền thống sử dụng thực phẩm lâu đời của người dân Việt Nam thì việc thay thế thịt lợn là điều rất khó. Vì vậy, cần có các giải pháp thích ứng để tiếp tục phát triển ngành chăn nuôi.

Chăn nuôi an toàn sinh học, trong đó sử dụng các chế phẩm vi sinh học là xu thế tất yếu. Chăn nuôi an toàn sinh học là áp dụng tổng hợp, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, quản lý nhằm ngăn ngừa sự tiếp xúc giữa vật nuôi và mầm bệnh, bảo đảm cho đàn vật nuôi hoàn toàn khỏe mạnh, không bị dịch bệnh. Thực tế cho thấy, nếu các trang trại, gia trại thực hiện tốt biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học thì có thể ngăn chặn dịch bệnh, bảo vệ vật nuôi an toàn.

Hiện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã yêu cầu hệ thống khuyến nông, cơ quan chuyên môn phổ biến phương pháp chăn nuôi an toàn sinh học; triển khai xây dựng các mô hình chăn nuôi an toàn nhằm ngăn ngừa dịch bệnh, tạo ra nguồn thực phẩm chất lượng, đáp ứng yêu cầu thị trường, hướng đến xuất khẩu.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định Nguyễn Phùng Hoan, bên cạnh việc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch tả lợn châu Phi, cần tiếp tục duy trì, bảo vệ trang trại, gia trại chưa bị bệnh; rà soát và có kế hoạch tổ chức lại chăn nuôi theo hướng tập trung, an toàn.

Tại Nam Định, dịch tả lợn châu Phi xảy ra chủ yếu ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ nên cần phải giảm dần tỷ lệ này để chuyển sang chăn nuôi tập trung. Bên cạnh đó, cần ưu tiên đầu tư các cơ sở giết mổ tập trung bởi giết mổ nhỏ, lẻ như hiện nay tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm và khiến mầm bệnh phát tán nhanh.

Ông Nguyễn Việt Hùng, chủ trang trại chăn nuôi lợn ở huyện Ý Yên (Nam Định) cho hay, trang trại với 500 con lợn thịt, 70 con lợn nái của gia đình ông vẫn an toàn dù trên địa bàn đã xuất hiện dịch tả lợn châu Phi khiến nhiều gia trại, trạng trại phải tiêu hủy lợn bệnh.

Để đảm bảo an toàn cho vật nuôi, cần đầu tư hệ thống chuồng trại khép kín theo quy trình hiện đại; sử dụng kết hợp các biện pháp phòng dịch như: rắc vôi bột, phun thuốc sát trùng khử khuẩn thường xuyên, bổ sung thức ăn dinh dưỡng nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi. Đặc biệt, phải tính toán cân đối mật độ nuôi phù hợp. Khi nắng nóng, nhiệt độ ngoài trời quá cao, tác động đến vật nuôi thì phải sử dụng hệ thống quạt làm mát, giữ cho nhiệt độ trong chuồng nuôi ở mức 27 - 28°C - ông Hùng chia sẻ.

Từ năm 2015 đến nay, ông Hùng đã chuyển sang chăn nuôi lợn theo phương pháp an toàn sinh học, sử dụng thức ăn phối trộn gồm: ngô, khô dầu đậu tương, cám gạo, bột cá khô. Qua theo dõi, lợn ăn khỏe, phát triển tốt, ít dịch bệnh, thịt lợn thơm ngon, được thị trường ưa chuộng, nhất là chi phí thức ăn rẻ hơn so với cám công nghiệp./.

Theo TTXVN

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-8) 37445447-(84-8) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop