Tin nông nghiệp ngày 23 tháng 02 năm 2021

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 23 tháng 02 năm 2021

Hướng tới ‘Tam nông’ hiện đại, văn minh, giàu có

Nguồn tin:  Cổng TTĐT tỉnh Quảng Ninh

Mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế chung, song nông nghiệp, nông dân và nông thôn được đặt vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Do đó, Quảng Ninh đặt ra mục tiêu phát triển nông nghiệp hiện đại, nông thôn văn minh, nông dân giàu có.

Sản phẩm dưa lưới được trồng theo quy trình công nghệ cao của Công ty CP Thương mại và Xây dựng Đầm Hà.

Hiện đại hóa nông nghiệp

Trước đây, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao còn ở "thì tương lai" đối với Quảng Ninh, thì nay đã thành hiện thực. Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (CNC) VinEco Quảng Ninh (TX Đông Triều) và Khu phức hợp sản xuất tôm chất lượng cao của Tập đoàn Việt - Úc (huyện Đầm Hà) là 2 khu nông nghiệp CNC lớn của Quảng Ninh, đánh dấu sự "chuyển mình" của ngành Nông nghiệp của tỉnh, góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh còn nhiều dự án nông nghiệp CNC khác, như: Dự án sản xuất giống, nuôi thương phẩm và chế biến thức ăn cho tôm sử dụng CNC tại xã Cộng Hòa, TP Cẩm Phả; Trung tâm sản xuất giống CNC và nuôi thực nghiệm giống hải sản Quảng Ninh; Vùng trồng vải thiều, vải chín sớm Phương Nam theo hướng VietGAP... Trong số đó, nhiều dự án nông nghiệp CNC đang được chính những người nông dân Quảng Ninh thực hiện. Qua đó, ngành Nông nghiệp Quảng Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực, các đối tượng chủ lực tăng nhanh về số lượng và chất lượng. Một số vùng sản xuất tập trung cho kết quả vượt so với kế hoạch, như: Vùng trồng vải đạt 102,3%; vùng nuôi trồng thủy sản nước ngọt đạt 100,4%; vùng nuôi tôm tập trung đạt 203,3%, vùng nuôi nhuyễn thể đạt 100,4%...

Hiện, Bộ NN&PTNT đã trình và đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập Khu nông nghiệp ứng dụng CNC Quảng Ninh, tạo hạt nhân thúc đẩy nông nghiệp ứng dụng CNC cho Quảng Ninh và vùng Trung du miền núi phía Bắc.

Chủ thể của nền nông nghiệp hiện đại vẫn luôn là những người nông dân. Do đó, để tạo nên nền nông nghiệp hiện đại đòi hỏi người nông dân phải thay đổi tư duy sản xuất, chuyên nghiệp hóa sản phẩm, hình thành sản xuất hàng hóa. Vì thế, Quảng Ninh đã triển khai hiệu quả chương trình “Tỉnh Quảng Ninh – Mỗi xã, phường một sản phẩm” (gọi tắt là Chương trình OCOP). Chương trình OCOP được thiết kế để các chủ thể sản xuất (từ cá thể, hộ sản xuất, tổ hợp tác, HTX, doanh nghiệp) có sự chủ động về ý tưởng sản phẩm, xác định thị trường, chủ động sản xuất, chế biến, tiêu thụ. Nhà nước đóng vai trò tạo sân chơi, hỗ trợ chính sách, xúc tiến thương mại.

Từ chủ trương của tỉnh, Chương trình OCOP đã nhanh chóng lan tỏa rộng khắp tới các địa phương, tổ chức và nhân dân, tạo nên khí thế thi đua sôi nổi ở khắp nơi, trở thành điểm nhấn quan trọng để nâng cao chất và lượng của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM). Bằng các giải pháp khác nhau, người dân hồ hởi, tích cực, chủ động tham gia chương trình. Đến nay, Quảng Ninh đã có 175 đơn vị tham gia với 449 sản phẩm OCOP; thu nhập bình quân khu vực nông thôn đạt 45 triệu đồng/người/năm (bình quân cả nước đạt khoảng 40 triệu đồng), tăng 1,5 lần so với năm 2015; tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn giảm xuống còn khoảng 1%.

Tuyến đường thôn Thán Phún, xã Bắc Sơn, TP Móng Cái, được xây dựng khang trang.

Chương trình OCOP không chỉ tạo ra sản phẩm mang tính hàng hóa, nâng cao thu nhập cho người dân, thay đổi tư duy sản xuất, mà còn tạo nền tảng cho Quảng Ninh có những thuận lợi đưa nông sản địa phương vươn ra “biển lớn”.

Những vùng quê đổi mới

Trong tiềm thức của nhiều người, Quảng Ninh là vùng đất gắn với sản xuất than, vùng đất của các di sản. Thế nhưng, ở lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Quảng Ninh là tỉnh có huyện NTM, xã NTM kiểu mẫu đầu tiên trong cả nước. Gần 2.700 tỷ đồng đã được Quảng Ninh đầu tư cho các vùng nông thôn. Đến nay, Quảng Ninh có 7 địa phương đã được công nhận và 2 địa phương đang hoàn thiện hồ sơ công nhận đạt chuẩn NTM; 91 xã đạt chuẩn NTM; 30 xã đạt chuẩn NTM nâng cao; 12 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu. Đến các vùng nông thôn của Quảng Ninh hôm nay, dễ dàng nhận thấy một vùng nông thôn văn minh đang hiện rõ với những tuyến đường bê tông thẳng tắp nối dài khắp các thôn, những ngôi nhà khang trang san sát và cả những người nông dân hăng hái sản xuất. Quảng Ninh đã và đang trở thành hình mẫu về tiến trình xây dựng NTM, NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu.

Là địa phương đầu tiên của tỉnh hoàn thành chương trình xây dựng NTM, cũng đang đi đầu trong triển khai xây dựng NTM kiểu mẫu, vùng nông thôn của TX Đông Triều mang dáng dấp của một miền quê đáng sống. Dẫn chúng tôi đi tham quan dọc các tuyến đường liên xã, liên thôn, ông Nguyễn Trung Dũng, Phó Chánh Văn phòng điều phối NTM TX Đông Triều, không giấu được niềm tự hào: Thành quả TX Đông Triều hiện nay có được chính là nhờ sự đồng thuận cao, tham gia tích cực của bà con nhân dân, chủ thể xây dựng NTM. Bắt đầu từ những việc giản đơn như công tác vệ sinh môi trường, phong trào khuyến học, thể dục thể thao, cho đến những điều lớn hơn như nông thôn phát triển có quy hoạch và theo quy hoạch, có hạ tầng khang trang với điện, đường, trường, trạm đạt chuẩn... Thay đổi được nếp nghĩ lạc hậu của người dân nông thôn thì chất lượng đời sống sẽ chuyển biến tích cực.

Nông dân Quảng Ninh nỗ lực làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.

Đúng như lời chia sẻ, những tuyến đường xanh - sạch - đẹp đều có bàn tay, sức lực và tinh thần của người dân nơi đây. Giai đoạn 2010-2020, tổng nguồn lực huy động, đầu tư xây dựng NTM của TX Đông Triều là 31.500 tỷ đồng, trong đó 71% là huy động từ nhân dân và doanh nghiệp. Đến nay, TX Đông Triều đã có 12 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, trong đó xã Việt Dân trở thành xã đầu tiên của tỉnh và cả nước đạt chuẩn NTM kiểu mẫu, được Thủ tướng Chính phủ tặng Cờ thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng NTM. Đông Triều trở thành địa phương đi đầu trong toàn tỉnh về xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu, được các cấp, các ngành biểu dương, ghi nhận đánh giá cao.

Ông Nguyễn Văn Công, Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết: "Tam nông" luôn là nền tảng quan trọng của nền kinh tế. Thời gian tới, ngành sẽ tham mưu đẩy mạnh xây dựng nền nông nghiệp có giá trị tăng cao, phát triển bền vững trên cơ sở tái cơ cấu ngành gắn với xây dựng NTM, phát triển nông thôn gắn với các mô hình sản xuất nông nghiệp sinh thái, du lịch nông nghiệp, làng văn hóa du lịch. Những giải pháp đó cùng với những thay đổi rõ nét trong tư duy chủ thể của “tam nông” là những nền tảng quan trọng để giai đoạn 2020 - 2025 đảm bảo Quảng Ninh có nông nghiệp hiện đại, nông thôn văn minh, nông dân giàu có.

Cao Quỳnh

Tây Ninh: Phát triển vùng cây ăn trái tập trung: Hướng đi mới của nhiều nông dân

Nguồn tin: Báo Tây Ninh

Ðể nâng cao giá trị, thương hiệu trái cây tại địa phương, tỉnh Tây Ninh chủ trương phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, mở rộng diện tích đối với vùng có lợi thế về trồng cây ăn trái và tập trung phát triển thâm canh nhằm tăng năng suất, chất lượng, giá trị. Trên địa bàn tỉnh đã dần hình thành các vùng chuyên canh, từng bước tạo thương hiệu cây ăn trái, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Ông Phan Văn Thà giới thiệu vườn mít Thái của gia đình.

Phát triển bền vững vùng trồng cây ăn trái tập trung

Nhiều năm trở lại đây, bà con nông dân trên địa bàn tỉnh tích cực chuyển đổi cây trồng kém hiệu quả sang cây ăn trái, dần hình thành các vùng sản xuất tập trung theo hướng hàng hoá. Ðây là hướng đi mới góp phần nâng cao năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp và gia tăng thu nhập cho người dân địa phương.

Tổng diện tích cây ăn trái toàn tỉnh trên 4.739 ha. Nhờ áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến và làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh, sản lượng và chất lượng nhiều loại cây ăn trái tăng mạnh.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thời gian qua, ngành Nông nghiệp tích cực hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân đăng ký mã số vùng trồng đối với nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc gồm 95 vùng trồng và 21 cơ sở đóng gói trái cây; triển khai cho 90 hộ với diện tích hơn 1.000 ha ứng dụng phần mềm truy xuất nguồn gốc KIPUS; hỗ trợ 5 cơ sở được cấp mã QR và tem truy xuất nguồn gốc… đáp ứng tốt cho cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển nông nghiệp.

Tận dụng thế mạnh của địa phương về đất đai để phát triển vùng cây ăn trái tập trung, nâng cao thu nhập, từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm cho địa phương là những mục tiêu mà ông Nguyễn Thanh Cường, chủ trang trại cây ăn trái Cường Niên tại ấp Thạnh Hiệp, xã Thạnh Bắc, huyện Tân Biên đang nỗ lực thực hiện.

Ông Cường cho biết, hiện tại, gia đình trồng 20 ha mít Thái siêu sớm, 20 ha bưởi da xanh. Trong quá trình trồng, ông Cường ứng dụng kỹ thuật tiên tiến vào việc chăm sóc. Sau 2 năm thực hiện, vườn cây phát triển tốt, cho năng suất cao.

“Tôi tập trung trồng, chăm sóc để sản phẩm đạt năng suất và chất lượng cao. Trong đó, năm 2019, gia đình tôi trồng bưởi da xanh và mít theo tiêu chuẩn VietGAP. Cây cho trái to, đẹp, năng suất cao, bán được giá hơn so với trước từ 15% đến 20%”- ông Cường chia sẻ.

Nhận thấy thổ nhưỡng nơi đây phù hợp trồng nhiều loại cây ăn trái, năm 2021, ông Cường trồng thêm 30 ha mít Thái siêu sớm, 4 ha quýt đường và 10 ha sầu riêng. Toàn bộ diện tích này được trồng tập trung để trang trại Cường Niên hình thành vùng cây ăn trái theo mô hình cánh đồng lớn, đa dạng hoá sản phẩm.

Ông Cường cho biết thêm, trên địa bàn tỉnh đang phát triển mạnh vùng trồng cây ăn trái với diện tích lớn. Ðể có sản phẩm cung cấp cho thị trường, trang trại Cường Niên thành lập tổ liên kết cây ăn trái chủ lực của tỉnh; các thành viên tổ liên kết trao đổi, hỗ trợ nhau trong sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm đạt chất lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và hướng đến xuất khẩu.

Tương tự, với mong muốn xây dựng vùng chuyên canh cây ăn trái có uy tín, thương hiệu và đạt tiêu chuẩn cao, ông Phan Văn Thà (thị trấn Tân Biên) triển khai trồng 60 ha mít Thái siêu sớm theo tiêu chuẩn VietGAP.

Theo ông Thà, ông vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, tham khảo học tập kỹ thuật chăm sóc cây ăn trái từ những mô hình đã thành công trong và ngoài địa phương. Mít Thái siêu sớm là loại cây dễ trồng, ít tốn công chăm sóc, giá bán ổn định, năng suất cao.

Ðặc biệt, vài năm trở lại đây, nhu cầu của thị trường đối với mít Thái tăng cao nên khâu tiêu thụ sản phẩm rất dễ dàng, thương lái đến tận vườn thu mua với giá ổn định khoảng 20.000 - 30.000 đồng/kg. Hơn nữa, giống mít này phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng ở địa phương, nếu được chăm sóc tốt, mít sẽ cho trái quanh năm. Thời điểm nào vườn nhà ông Thà cũng có mít bán nên cạnh tranh được về giá.

Ðể nâng cao chất lượng và mở rộng diện tích trồng cây ăn trái, gia đình ông Thà đầu tư hàng trăm triệu đồng xây dựng hệ thống tưới tự động và áp dụng cơ giới hoá trong sản xuất.

Xây dựng thương hiệu cho trái cây

Dù mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng nhiều loại trái cây trong tỉnh chưa được quan tâm đầu tư đúng mức để có thương hiệu, nhãn hiệu. Ðây là điều mà cơ quan chức năng cần quan tâm khắc phục, góp phần thúc đẩy sản xuất cây ăn trái bền vững. Việc xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu giúp người tiêu dùng dễ dàng nhận biết và tìm mua các sản phẩm bảo đảm chất lượng, từ đó giúp nâng cao giá trị trái cây của tỉnh trên thị trường.

Ông Nguyễn Hoàng Lâm (ngụ thị xã Hoà Thành) chia sẻ, trên địa bàn tỉnh có nhiều loại trái cây rất ngon và đạt chất lượng như sầu riêng cơm vàng hạt lép, bưởi da xanh, nhãn xuồng cơm vàng, xoài tứ quý… Tuy nhiên, khi vào các siêu thị lớn, các trung tâm thương mại trong và ngoài tỉnh, tìm “mỏi mắt” cũng không thấy bất cứ thương hiệu trái cây nào của Tây Ninh.

Thương hiệu sản phẩm có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, “chắp cánh” cho nông sản nói chung và sản phẩm trái cây nói riêng vươn xa. Do đó, sản phẩm trái cây phải có thương hiệu để khẳng định vị thế trên thị trường, đặc biệt là sản phẩm sầu riêng cơm vàng hạt lép ở huyện Gò Dầu.

Tại Bàu Ðồn, hiện có khoảng 1.000 ha sầu riêng được sản xuất theo hướng quy mô lớn. Trước sự thay đổi của cơ chế thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng, người trồng xác định rõ, chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng nhất.

Ông Phan Hoài Thịnh- Giám đốc Hợp tác xã (HTX) cây ăn trái Bàu Ðồn cho biết, HTX có 30 ha sầu riêng theo hướng VietGAP. Trong những năm gần đây, sầu riêng là một trong những loại cây trồng có thế mạnh trên địa bàn, giúp nhiều hộ gia đình phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu. Tuy nhiên, để có bước phát triển vững chắc, địa phương hướng tới việc xây dựng thương hiệu cho loại trái cây này.

Theo ông Thịnh, từ sau khi thành lập HTX cây ăn trái, HTX vận động tất cả các thành viên chuyển dần sang canh tác sầu riêng theo hướng hữu cơ, an toàn sinh học. Bên cạnh đó, HTX đã kết nối với nhiều doanh nghiệp để đầu ra sản phẩm được ổn định hơn.

Ðặc biệt, để nâng cao chất lượng cho sản phẩm, HTX áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trong quy trình trồng trọt, chăm sóc cây trái. Ngoài việc tuân thủ các tiêu chuẩn theo quy định, các thành viên còn có nhiệm vụ giám sát lẫn nhau để tạo sự thống nhất về chất lượng cho sản phẩm. Nhiều thành viên đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong canh tác như sử dụng hệ thống tưới và bón phân tự động. Nhờ đó, sản phẩm sầu riêng đạt chất lượng và được lựa chọn để đăng ký là sản phẩm OCOP của địa phương.

Ông Thịnh cho biết thêm, đạt chuẩn VietGAP chính là một trong những yếu tố quan trọng để khẳng định chất lượng cho sản phẩm sầu riêng của địa phương và tạo nên thương hiệu trên thị trường. Mặt khác, HTX hướng tới sản xuất sản phẩm hữu cơ, an toàn để đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng, nâng cao chất lượng sản phẩm. Thực tế sản xuất cho thấy, cây sầu riêng được trồng theo phương pháp hữu cơ phát triển tốt hơn, ít bị bệnh, cho năng suất cao hơn so với trước đây; trái có trọng lượng vừa, ruột chắc, có vị ngọt béo đậm đà và mùi thơm đặc trưng.

Bên cạnh đó, để tạo được niềm tin từ phía người tiêu dùng, mở ra cơ hội thuận lợi cho trái sầu riêng, HTX phối hợp với UBND xã, Sở NN&PTNT, Trung tâm Khuyến nông làm hồ sơ, thủ tục đăng ký xây dựng thương hiệu cho sản phẩm sầu riêng, đồng thời dán tem chứa mã QR truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm.

Ðóng gói sầu riêng để giao cho siêu thị.

Việc xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm không phải là chuyện một sớm, một chiều, mà cần cả quá trình lâu dài. Thị xã Hoà Thành có thế mạnh về nông nghiệp với nhiều sản phẩm đặc trưng, như nhãn tiêu da bò có diện tích gần 1.000 ha, trong đó tập trung ở hai xã Trường Hoà, Trường Ðông.

Thời gian qua, địa phương có nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển sản xuất, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân. Yêu cầu của thị trường là sản phẩm phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Do đó, nhãn hiệu nhãn Hoà Thành được bảo hộ thì nghề trồng nhãn mới có thể phát triển.

Nhãn Hoà Thành được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, giúp khách hàng nhận biết và thưởng thức sản phẩm chính hiệu. Ðặc biệt, nhãn Hoà Thành được thị trường công nhận là loại trái cây ngon, giúp người dân trồng nhãn trên địa yên tâm hơn trong việc đầu tư, sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Có thể nói, việc từng bước hình thành các vùng chuyên canh cây ăn trái chất lượng cao gắn với thị trường tiêu thụ khẳng định hiệu quả của dự án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Tây Ninh. Thời gian tới, tỉnh sẽ tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng, hỗ trợ nông dân ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cây ăn trái; đẩy mạnh chuyên canh các loại cây ăn trái theo hướng VietGAP gắn với xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm đặc trưng từng vùng.

Theo Sở NN&PTNT, để cây ăn trái mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người dân, ngành Nông nghiệp tỉnh tiếp tục chuyển giao khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm. Ðặc biệt, ngành nông nghiệp chú trọng việc liên kết sản xuất - tiêu thụ để vùng cây ăn trái phát triển bền vững.

Thanh Nhi

Lâm Đồng: Vườn bơ 034 trái vụ ‘độc nhất’ huyện Bảo Lâm

Nguồn tin: Báo Lâm Đồng

Hiện tại, tất cả các giống bơ nói chung và bơ 034 nói riêng đều cho thu hoạch chính vụ bắt đầu từ cuối tháng 5 đến giữa tháng 6 hàng năm. Song, tại Thôn 9, xã Lộc Ngãi (huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng), anh Lưu Xuân Phúc (40 tuổi) đã tự mình “ép” vườn bơ 034 của gia đình cho ra quả trái để bán vào dịp trước, trong và sau tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 mang lại nguồn thu nhập hàng trăm triệu đồng.

Bơ là cây ăn quả đã và đang được người nông dân ở các tỉnh Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng lựa chọn trồng để nâng cao thu nhập, phát triển kinh tế gia đình vươn lên làm giàu chính đáng. Trong tất cả các giống bơ tại Lâm Đồng thì bơ 034 đã khẳng định được thương hiệu hàng đầu chất lượng quả có cơm dẻo và thơm ngon bậc nhất.

Cách đây khoảng 3 năm về trước, khi diện tích bơ chưa phát triển “nóng” như hiện nay, giá bơ 034 đạt mức từ 80 - 100 ngàn đồng/kg. Tuy nhiên kể từ năm 2020, với diện tích bơ nói chung và bơ 034 nói riêng tại các địa phương như Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lâm và TP Bảo Lộc tăng đột biến đạt mức hơn 9.000 ha khiến giá thành loại trái cây này giảm mạnh. Mặc dù chất lượng ngày càng được nâng cao, song niên vụ năm 2020, giá bơ 034 giảm xuống chỉ còn 35 - 40 ngàn đồng/kg. Để nâng cao thu nhập từ cây bơ 034, không ít người nông dân đã tìm đủ cách “ép” cây ra quả trái vụ nhưng đều thất bại.

Trong khi đó, anh Lưu Xuân Phúc đã tự mình tìm tòi, nghiên cứu và “ép” hơn 2ha bơ 034 của gia đình ra quả trái vụ thành công. Đầu tháng 2/2021, thời điểm chúng tôi có mặt tại Thôn 9 (xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm) thì xung quanh vườn bơ của các hộ dân khác mới bắt đầu làm bông, riêng vườn bơ 034 của gia đình anh Phúc đã khoe quả đến kỳ thu hoạch. Phần lớn các cây bơ 034 trong vườn bơ của gia đình anh Phúc đều trĩu quả. Không chỉ ra quả trái vụ, vườn bơ của gia đình anh vẫn xanh tốt và ra bông để kết quả chính vụ như các vườn bơ của những hộ dân khác. “Với hơn 2ha, gia đình tôi ước tính sẽ thu từ 3,5 - 4 tấn quả bơ trái vụ. Hiện tại, vườn bơ đã được thương lái đặt mua với giá 100 ngàn đồng/kg. Ngày 29 tháng Chạp họ cắt 500kg để bán tết. Số quả còn lại sẽ được thu hoạch từ ngày 4 tết Nguyên đán Tân Sửu cho đến lúc hết vườn. Năm nay, vườn bơ trái vụ này mang lại cho gia đình tôi nguồn thu nhập từ 350 - 400 triệu đồng” - anh Phúc cho biết.

Theo anh Phúc, để “ép” vườn bơ 034 cho quả trái vụ như hiện tại, anh đã mất 2 năm tự tìm tòi, nghiên cứu và thử nghiệm quy trình sản xuất bơ trái vụ trên một số cây bơ của gia đình. Năm 2020, sau khi thu hoạch bơ chính vụ khoảng 1 tháng (vào tháng 7), anh đã chủ động bón chuồng và sử dụng các loại thuốc hữu cơ phun cho vườn bơ để làm cây “ức chế” ra bông. Sau khi vườn bơ ra bông đồng loạt, anh Phúc tiếp tục sử dụng các loại phân hữu cơ bón nuôi cây để dưỡng quả. Đặc biệt, trong quá trình vườn bơ nuôi quả, anh Phúc thường xuyên có mặt tại vườn để thăm nắm kịp thời xử lý các loại sâu bệnh và nấm phát sinh gây hại vườn bơ.

Anh Phúc bên một cây bơ 034 cho quả trái vụ năng suất cao của gia đình

Ông Đậu Văn Xuân - Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Bảo Lâm, cho biết: “Hiện nay, toàn huyện đang có gần 2.500 ha bơ 034, trong đó có gần 2.000 ha đang cho thu hoạch. Trong năm 2020, toàn huyện đã có gần 20 hộ dân thử nghiện trên khoảng 30ha cho bơ 034 ra quả trái vụ. Ngoại trừ vườn bơ của gia đình anh Phúc cho quả trái vụ năng suất cao, chất lượng tốt thì các mô hình khác đều đạt hiệu quả chưa cao. Với đặc tính của cây bơ 034, việc người nông dân thử nghiệm “ép” cây ra quả trái vụ có thành công hay không vẫn không ảnh hưởng năng suất bơ chính vụ. Có nghĩa, mặc dù cho quả trái vụ nhưng cây vẫn làm bông cho quả chính vụ bình thường”.

Trực tiếp thăm vườn bơ 043 trái vụ của gia đình anh Lưu Văn Phúc, TS Phạm S - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, đánh giá: “Từ thực tế vườn bơ 034 trái vụ của gia đình anh Phúc cho năng suất cao, chất lượng tốt chứng tỏ anh Phúc đã tiếp cận được các tiến bộ của khóa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất. Đây là cơ sở, điều kiện tốt để ngành nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng nói chung và huyện Bảo Lâm nói riêng tiếp tục nghiên cứu, áp dụng sản xuất bơ trái vụ đại trà nhằm nâng cao giá trị cây bơ 043 và tăng thu nhập cho người nông dân trồng bơ tại một số địa phương trong tỉnh”.

KHÁNH PHÚC

Sâu lạ tấn công dừa Bến Tre, có vườn phải đốn gần hết

Nguồn tin: Tuổi Trẻ

Trong những ngày Tết Nguyên đán, sâu lạ tấn công nhiều vườn dừa ở xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre với tốc độ "chóng mặt".

Một vườn dừa ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đang chết rụi vì sâu. Loại sâu đầu đen đang hoành hành cây dừa (ảnh nhỏ) - Ảnh: MẬU TRƯỜNG

Trước đó, dừa của một số nhà vườn tại các huyện Bình Đại, Mỏ Cày Nam... cũng giảm phân nửa năng suất hoặc chết dần chết mòn vì loại sâu này.

Ông Đặng Công Giảng ngụ ấp 1, xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre cho biết toàn bộ 6 công dừa (6.000m2) đang cho trái đã bị chết rụi sau 3 tháng bị sâu hoành hành. Giáp tết, lá dừa khô cháy, lan rất nhanh cây này sang cây khác, vườn này sang vườn khác.

"Dù được các kỹ sư nông nghiệp hướng dẫn phun xịt nhưng do cây quá cao nên phương pháp này không ăn thua. Chúng tôi mất cả vườn dừa", ông Giảng nói về vườn dừa đã đốn gần hết.

Dùng tay bóp theo một lá dừa để tìm sâu, ông Ba có vườn dừa tơ gần đó cho biết hàng trăm cây dừa tơ của nhà ông cũng cùng chung số phận. Còn may do cây còn nhỏ nên tiện theo dõi hơn.

Ông kể: "Ban đầu sâu ăn bề mặt và phần mặt dưới của lá dừa. Sau đó chúng sẽ làm các mạng tơ ở mặt dưới của lá, sâu nhỏ sẽ ẩn mình ở đây để ăn lá, lá bị hại nhìn như bị cháy sém. Sâu này thậm chí còn tấn công cả phần bề mặt màu xanh của trái dừa".

Bến Tre hiện có hơn 72.000ha đất trồng dừa, sản lượng trên 600 triệu trái/năm. Cây dừa là một trong những cây trồng chủ lực gắn với đời sống và thu nhập của người dân. Sâu đầu đen gây hại lan nhanh, nhiều hộ gia đình Bến Tre mất nguồn thu nhập hằng tháng.

Ngày 17-2, trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Huỳnh Quang Đức, phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bến Tre, cho biết sở đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn tìm biện pháp phòng trừ sâu này. Hiện sâu đã tấn công khoảng 50ha dừa trên toàn tỉnh.

"Qua đánh giá sơ bộ, đây là sâu đầu đen có tên khoa học là Opisina arenosella Walker, từng gây hại cây dừa ở Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan... Chúng có thể tấn công nhiều bộ phận của cây dừa từ khi trồng cho đến khi có trái.

Từ khi phát hiện sâu này (giữa tháng 7-2020), ngành chức năng đã tiến hành phun xịt thuốc bằng phương tiện bay mini điều khiển từ xa. Tuy nhiên sau đó sâu vẫn tiếp tục xuất hiện tại một số vùng trồng dừa khác ở Châu Thành, Mỏ Cày Nam.

Chúng tôi đã hướng dẫn bà con dùng thuốc sinh học hiệu quả nhất. Tỉnh cũng phối hợp với Trường đại học Nông lâm và Chi cục Bảo vệ thực vật phía Nam nghiên cứu giải pháp tìm những loại ký sinh để kiểm soát sâu đầu đen này", ông Đức cho hay.

MẬU TRƯỜNG

Làm giàu từ nghề trồng nấm

Nguồn tin: Báo Ninh Bình

Từ mong muốn vươn lên làm giàu từ chính nghề nông, anh Nguyễn Đức Trọng, thôn Áng Sơn, xã Ninh Hòa (Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) đã nung nấu ý tưởng xây dựng mô hình trồng nấm sạch. Đến nay, mô hình trồng nấm đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình.

Mô hình trồng nấm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình anh Trọng.

Năm 2000, anh Trọng bắt đầu bén duyên với nghề trồng nấm, ban đầu chỉ là một ô trại nhỏ sản xuất nấm, do còn thiếu kinh nghiệm nên nấm trồng bị bệnh, hỏng nhiều, tuy vậy anh không nản chí, lặn lội đi học hỏi khắp nơi về cách trồng nấm và tham khảo thêm sách, báo, các phương tiện thông tin đại chúng. Qua nhiều năm gắn bó, anh đã mạnh dạn đầu tư hàng trăm triệu đồng để đầu tư xây dựng trên 2.000 m2 lán trại và mua sắm các thiết bị cho nghề trồng nấm.

Hôm chúng tôi đến thăm mô hình trồng nấm gặp lúc anh Trọng đang dọn dẹp lứa nấm vụ trước để lấy không gian triển khai tiếp vụ nấm tiếp theo. "Tôi đang dọn dẹp để trồng vụ nấm tiếp theo, chỗ này là một số phôi nấm cũ còn sót lại, thu hái được bao nhiêu thì thu, xong rồi dọn hết. Vụ này, tôi xuống tiếp 20.000 phôi nấm sò, thời tiết mát mẻ nên chắc chắn sản lượng sẽ cao hơn vụ trước", anh Trọng phấn khởi cho biết.

Với các loại nấm như nấm mộc nhĩ, nấm sò, nấm linh chi. Mỗi ngày, trại nấm của anh xuất ra thị trường từ 1,5 tạ - 2 tạ nấm. Giá nấm sò dao động 25.000 - 30.000 đồng/kg, nấm mộc nhĩ 130.000 - 150.000 đồng/kg. Hàng năm, cho gia đình thu nhập từ 500 - 600 triệu đồng.

Từ việc trồng nấm cho nguồn thu nhập, trại nấm của anh Trọng còn tạo công ăn việc làm cho lao động nông nhàn tại địa phương. Với 7 lao động thường xuyên, mức lương 3,5 - 5 triệu đồng/tháng, vào thời điểm thu hoạch cao điểm, gia đình phải thuê từ 5 đến 10 nhân công thu hái, với mức thu nhập từ 150 - 200 nghìn đồng/ngày.

Anh Trọng luôn tuân thủ các quy trình sản xuất, chế biến nấm theo hướng an toàn từ khâu trồng cấy nấm, chăm sóc tưới bằng nước sạch, vệ sinh lán trại sạch sẽ hằng ngày. Lán trại trồng nấm được xây dựng kiên cố, thoáng mát, bố trí xa khu chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nhờ vậy, trang trại nấm của anh luôn được người tiêu dùng ưa chuộng chọn mua.

Anh Trọng chia sẻ, nấm là loại cây trồng rất nhạy cảm với các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, sâu bệnh… Do đó, người sản xuất cần thực hiện đúng quy trình kỹ thuật để nấm có thể sinh trưởng và phát triển tốt. Đối với mỗi loại giống nấm đều có kỹ thuật trồng và chăm sóc khác nhau, nhưng để có được sản lượng nấm đạt chất lượng cao, quan trọng nhất là khâu chọn giống, sau đó là cách ủ nguồn nguyên liệu, nguyên liệu phải được lựa chọn kĩ càng, sạch sẽ, chất lượng nấm mới đạt, năng suất sẽ cao hơn.

Cụ thể đối với nấm sò, các nguyên liệu mùn cưa, bông phế thải được xay nhỏ, xử lý qua nước vôi, đem ủ, đóng trong bịch nilon, hấp vô trùng, sau đó cấy giống, ươm bịch từ 20 - 30 ngày cho đến khi sợi nấm ăn kín trắng toàn bộ bịch nấm, làm cho bịch nấm rắn chắc và sợi nấm ăn vào nguyên liệu tạo thành khối màu trắng đều từ trên miệng xuống đáy túi. Khi bịch nấm trắng đều tiến hành dùng dao nhọn sắc rạch 6 - 9 vết rạch xung quanh bịch nấm (các vết rạch so le và đều nhau), kích thước vết rạch rộng 2 - 3 cm, sâu 4 - 5 cm.

Sau khi rạch khoảng 7 - 10 ngày, nấm bắt đầu phát triển từ các vết rạch. Nấm sò mọc thành từng cụm nên thu hái cả cụm. Khi nấm có đường kính mũ đạt từ 3 - 4 cm thì tiến hành thu hoạch. Khi thu hoạch, khâu hái nấm và vệ sinh nấm cũng rất quan trọng để không ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng nấm. Người làm nghề trồng nấm cần phải có sự đầu tư đồng bộ về vốn lẫn kiến thức và tâm huyết mới mong phát triển bền vững.

Theo anh Trọng, trồng nấm còn tận dụng được các phế phẩm từ nông nghiệp như rơm rạ, mùn cưa, lõi ngô, bã mía để làm phôi trồng nấm giúp hạn chế tình trạng ngộ độc hữu cơ trong sản xuất lúa vụ sau, tránh tình trạng đốt đồng gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến giao thông công cộng. Sau khi hết thời gian thu hoạch nấm, bã nấm có thể sử dụng làm phân vi sinh bón cho cây trồng rất tốt. Các sản phẩm từ nấm cũng chứa nhiều giá trị dinh dưỡng và tốt cho sức khỏe.

Mô hình trồng nấm kinh tế hiệu quả của gia đình anh Nguyễn Đức Trọng được nhiều người dân tại địa phương quan tâm, tìm đến học hỏi, anh đều tận tình hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm. Trong thời gian tới, anh có dự định mở rộng diện tích trại nấm thêm 1.000 m2, đầu tư hàng loạt máy móc phụ trợ khác cho nghề trồng nấm.

Với những kết quả nổi bật đạt được trong phát triển kinh tế, anh Trọng vinh dự nhiều năm liền được tỉnh, huyện khen thưởng là hộ sản xuất kinh doanh giỏi và trở thành tấm gương tiêu biểu được địa phương lựa chọn để tuyên truyền, vận động người dân học tập và làm theo.

Bài, ảnh: Hoàng Hiệp

Nông dân Lý Sơn kỳ vọng vụ tỏi bội thu

Nguồn tin: VOV

Cây tỏi đang trong giai đoạn sinh trưởng, tạo củ nên người nông dân thường xuyên thăm đồng, chăm sóc, tưới tiêu để đảm bảo chất lượng.

Sau những ngày nghỉ Tết, nông dân huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tranh thủ thời tiết thuận lợi chăm sóc cây tỏi. Theo kinh nghiệm của người dân Lý Sơn, đây là tín hiệu vui về vụ tỏi sinh trưởng và phát triển tốt, hứa hẹn bội thu.

Vụ Đông Xuân 2020-2021, gia đình bà Nguyễn Thị Bảy, ở thôn Tây An Hải trồng 3 sào tỏi. Mấy vụ trước, trung bình mỗi sào tỏi, gia đình bà đầu tư hơn 12 triệu đồng chi phí cải tạo đất, giống, phân bón, tưới tiêu... nhưng vụ này phải tăng thêm từ 3 - 5 triệu đồng tiền làm đất.

Nông dân Lý Sơn tranh thủ chăm sóc tỏi.

Bà Nguyễn Thị Bảy cho biết, do ảnh hưởng của những đợt mưa bão cuối năm ngoái, lớp cát trắng bề mặt các ruộng tỏi ở Lý Sơn bị cuốn trôi, nông dân phải tốn chi phí đầu tư và công cải tạo lại đất trước khi xuống giống. “Năm vừa rồi trời bão, đất đai bạc màu, người dân phải làm lại vất vả. Năm nay thời tiết thuận lợi nên cây tỏi phát triển tốt”, bà Bảy nói.

Những ngày này, khắp các cánh đồng tỏi ở đảo Lý Sơn rực màu xanh non mơn mởn. Thân tỏi to, chắc khỏe, ít sâu bệnh. Bà Võ Thị Mai, thôn Đông An Vĩnh cho biết, cây tỏi đang trong giai đoạn sinh trưởng, tạo củ nên người nông dân thường xuyên thăm đồng, chăm sóc, tưới tiêu để đảm bảo chất lượng tỏi củ. “Tôi hy vọng thời tiết thuận lợi, năm nay, tỏi được mùa hơn mấy năm. Tỏi được mùa thì bà con vui mừng hơn”.

Vụ tỏi Đông Xuân 2020-2021, nông dân Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi trồng hơn 330 ha. Từ đầu vụ, huyện Lý Sơn hỗ trợ nông dân tháo gỡ khó khăn, tập trung trồng đúng lịch thời vụ. Vụ tỏi năm nay, nông dân Lý Sơn kỳ vọng đạt sản lượng cao hơn mấy năm trước.

Người dân Lý Sơn kỳ vọng vụ tỏi bội thu.

Ông Đặng Tấn Thành, Phó Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn cho biết, địa phương tăng cường kết nối, xây dựng, phát triển chuỗi liên kết sản xuất- tiêu thụ, phát triển nghề trồng tỏi theo hướng bền vững, nâng cao thu nhập cho nông dân huyện đảo.

“Huyện đã chỉ đạo ngành nông nghiệp, Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp thường xuyên tuyên truyền người dân theo dõi bệnh tật, sâu bệnh ảnh hưởng đến cây tỏi. Hy vọng năm nay, nông dân Lý Sơn sẽ bội thu, tăng năng suất và tăng giá trị của cây tỏi”, ông Thành cho biết./.

Vinh Thông/VOV-Miền Trung

Từ việc giá rau xanh trên thị trường giảm mạnh: Cần sản xuất theo chuỗi liên kết

Nguồn tin: Hà Nội Mới

Vụ đông, vụ xuân, diện tích trồng rau được mở rộng, kết hợp với thời tiết thuận lợi nên sản lượng cao. Những ngày vừa qua, giá rau xanh tại nhiều chợ dân sinh trên địa bàn Hà Nội chỉ bằng 1/3 so với trước đó. Thế nhưng, tại các vùng trồng rau an toàn theo chuỗi liên kết với doanh nghiệp, rau vẫn được thu mua với giá ổn định. Thực tế đó cho thấy, để có “đầu ra” ổn định, cần phát triển các chuỗi sản xuất - tiêu thụ rau an toàn.

Nông dân xã Tiền Yên, huyện Hoài Đức thu hoạch rau màu vụ xuân sáng 19-2, nhưng giá thành bán tại ruộng thấp do chưa có liên kết trong khâu sản xuất và tiêu thụ.

Giá rau ở vùng sản xuất theo chuỗi liên kết vẫn ổn định

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Sở NN&PTNT) Hà Nội, vụ đông 2020, toàn thành phố gieo trồng 28.351ha rau màu các loại. Đến nay, diện tích cây vụ đông đã thu hoạch đạt 27.127,9ha. Cùng với sản xuất vụ đông, Hà Nội cũng đẩy mạnh sản xuất rau màu vụ xuân được 7.104,7ha, chủ yếu là: Ngô, lạc, đậu tương, khoai lang, khoai tây, rau đậu các loại...

Về sản xuất rau của Hà Nội, ông Nguyễn Mạnh Phương, Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội cho biết, hiện nay, hạ tầng thủy lợi, giao thông được đầu tư xây dựng đến tận chân ruộng. Thành phố và các huyện cũng đều có chính sách khuyến khích nông dân sản xuất rau, màu vụ đông, vụ xuân sau 2 vụ lúa chính trong năm, do vậy, diện tích được mở rộng. Đặc biệt, trước, trong và sau Tết Nguyên đán Tân Sửu, thời tiết thuận lợi nên rau màu phát triển tốt, sản lượng cao.

Khảo sát tại các vùng trồng rau của Hà Nội cho thấy, giá bán rau giữa các vùng trồng rau an toàn có liên kết theo chuỗi với các doanh nghiệp và các vùng trồng rau tự phát có sự chênh lệch nhau. Cụ thể, giá súp lơ xanh bán tại các vùng trồng không có liên kết chuỗi là 3.000 đồng/cây, su hào 2.000 đồng/củ, cà chua 7.000 đồng/kg. Trong khi đó, tại các vùng trồng có liên kết chuỗi, giá cao hơn: Súp lơ xanh là 5.000 đồng/cây, su hào 3.000 đồng/củ, cà chua 10.000 đồng/kg…

Ông Nguyễn Khắc Đạo, người trồng rau lâu năm tại xã Tiền Yên (huyện Hoài Đức) cho biết, ông đã tham gia chuỗi liên kết, được doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm nên trồng rau ổn định quanh năm. "Lúc thị trường rau khan hiếm, chúng tôi không bán được giá cao, nhưng ngược lại, khi giá rau rẻ như hiện nay, doanh nghiệp vẫn thu mua với giá bình ổn", ông Đạo chia sẻ.

Cụ thể hơn, ông Nguyễn Văn Hào, Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Tiền Lệ, xã Tiền Yên (huyện Hoài Đức) cho biết, hợp tác xã đã đứng ra xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm rau an toàn, với hơn 60% số xã viên đăng ký tham gia - tương đương sản lượng rau thu hoạch trên tổng diện tích gần 20ha. Đặc biệt, xã có 5ha rau trồng trong nhà lưới được các đơn vị bao tiêu sản phẩm thu mua ổn định, giữ giá theo hợp đồng.

Cũng về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Minh, Giám đốc Hợp tác xã kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Văn Đức (huyện Gia Lâm) cho biết thêm, đơn vị có hơn 200ha sản xuất rau tập trung, ước thu nhập mỗi héc ta lên tới gần 1 tỷ đồng/năm. Hiện nay, hợp tác xã tiêu thụ được 20% đến 30% sản phẩm rau xanh cho nông dân theo chuỗi, còn lại nông dân vẫn phải tự tiêu thụ. Với diện tích nông dân tự tiêu thụ, vụ rau này, giá xuống thấp, nông dân sản xuất không có lãi.

Tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh liên kết chuỗi

Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội Nguyễn Mạnh Phương nhận định: “Với diện tích và sản lượng rau màu như hiện nay, Hà Nội vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân thành phố. Hà Nội mới chỉ đáp ứng 65% nhu cầu rau xanh, còn lại phải nhập từ các tỉnh, thành phố. Việc dư thừa rau vào những thời điểm nhất định trong năm chỉ mang tính thời vụ".

Mặt khác, tính riêng diện tích trồng rau an toàn, thành phố đã hình thành 101 vùng trồng tập trung với quy mô từ 20ha trở lên/vùng; 45 chuỗi tiêu thụ rau an toàn có truy xuất nguồn gốc sản phẩm đến từng hộ gia đình trồng rau; số doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu rau an toàn là 208 đơn vị, với số lượng tiêu thụ trung bình khoảng 42 tấn/ngày. Tuy nhiên, so với sản lượng rau an toàn của thành phố sản xuất mỗi ngày cung ứng ra thị trường thì lượng tiêu thụ trên vẫn là con số khiêm tốn. Nguyên nhân chính do các vùng trồng rau của Hà Nội chủ yếu quy mô nông hộ, sản lượng nhỏ lẻ. Trong khi đó, các siêu thị, doanh nghiệp phân phối khi ký hợp đồng liên kết đều đưa ra những tiêu chuẩn, quy định phù hợp với các mô hình trồng rau an toàn quy mô lớn.

Những năm gần đây, sản xuất rau an toàn có những bước phát triển đáng ghi nhận, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao phục vụ người tiêu dùng Thủ đô. Trên thực tế, với những diện tích sản xuất có liên kết theo chuỗi, giá bán sản phẩm luôn ổn định so với diện tích rau không có liên kết. Và có thể khẳng định, việc phát triển chuỗi sản xuất, tiêu thụ rau an toàn gắn với truy xuất nguồn gốc xuất xứ đến hộ nông dân, có sự tham gia của người sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng là hướng phát triển tất yếu của nông nghiệp Hà Nội.

Để thúc đẩy phát triển các chuỗi sản xuất, tiêu thụ rau an toàn, Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Chu Phú Mỹ cho biết, thời gian tới, ngoài việc định hướng để nông dân sản xuất tập trung chuyên canh rau an toàn trên quy mô lớn, Sở NN&PTNT Hà Nội sẽ tiếp tục hỗ trợ kết nối, liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp trong bao tiêu sản phẩm, bảo đảm hai bên cùng có lợi.

Sở NN&PTNT Hà Nội cũng tham mưu UBND thành phố bổ sung cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển rau an toàn theo chuỗi, hỗ trợ hơn nữa cho khâu tiêu thụ, trực tiếp là người bán hàng.

BẠCH THANH

Đề xuất thành lập Trung tâm Giới thiệu nông sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại Hà Nội

Nguồn tin:  Hà Nội Mới

Ngày 18-2, tại thành phố Cần Thơ, trong buổi làm việc với lãnh đạo ngành Nông nghiệp của 13 địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan và Đoàn công tác của Bộ đã chia sẻ và gợi mở nhiều vấn đề về phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Theo Thứ trưởng Lê Minh Hoan, liên kết vùng trước tiên là liên kết không gian kinh tế của vùng. Các địa phương cần lập nhóm tham mưu của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 13 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long để có thể chia sẻ hằng ngày các vấn đề, bài học kinh nghiệm phát triển ngành. Ngoài ra, các tỉnh, thành phố trong vùng cần nghiên cứu thành lập một trung tâm giới thiệu nông sản toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại Hà Nội, phát huy những thành quả bước đầu của Trung tâm Giới thiệu nông sản - đặc sản tỉnh Đồng Tháp đặt tại Hà Nội thời gian qua.

Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 13% diện tích và gần 18% dân số cả nước. Toàn vùng gồm thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau.

MINH ĐIỀN

Vĩnh Long: Giá trị sản xuất tăng thêm 90 triệu đồng/ha/năm

Nguồn tin:  Báo Vĩnh Long

Giá trị sản xuất trên cùng 1 đơn vị diện tích của tỉnh Vĩnh Long đã tăng lên qua từng năm, từ 150 triệu đồng/ha/năm (2015) đã nâng lên 240 triệu đồng/ha/năm (2020), tương đương tăng 90 triệu đồng/ha/năm trong vòng 5 năm.

Đó là kết quả của việc lồng ghép và gắn kết chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) với cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Nhân dân đã giảm diện tích trồng lúa, tăng diện tích trồng rau màu, cây ăn trái, kết hợp phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản có giá trị kinh tế cao.

Theo ông Lê Văn Dũng- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp- PTNT, thời gian tới, ngành nông nghiệp quyết tâm thực hiện thắng lợi chương trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng NTM, phấn đấu đến cuối năm 2025 giá trị sản xuất trên cùng 1 đơn vị diện tích đạt trên 290 triệu đồng/ha/năm và toàn tỉnh có 3 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM, 74/87 xã đạt chuẩn NTM, trong đó có 34 xã NTM nâng cao và 10 xã NTM kiểu mẫu.

NGUYỄN PHƯƠNG

Lợi ích từ mô hình nuôi ruồi lính đen

Nguồn tin: Báo Bình Phước

Ruồi lính đen là loài côn trùng khá mới đối với các hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Ấu trùng (sâu canxi) của ruồi lính đen có rất nhiều đạm và mang lại nhiều lợi ích trong chăn nuôi. Vì thế gần đây, một số hộ trên địa bàn tỉnh đã nuôi ruồi lính đen kết hợp phát triển các mô hình trồng cây ăn trái, nuôi gà và cá đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Gia đình ông Trình Huy Hoàng ở thôn 10, xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng nuôi cá lồng dưới lòng hồ thủy điện Thác Mơ hơn 10 năm qua. Năm nay, ông Hoàng nuôi khoảng 50 ngàn con cá các loại (hồng vĩ, lăng, trê, chép, rô phi…) nên chi phí thức ăn khoảng 1 triệu đồng/ngày.

Trong một lần tìm kiếm thông tin trên mạng, ông Hoàng đã biết đến ruồi lính đen hiệu quả kinh tế mang lại trong chăn nuôi rất khả quan. Ông Hoàng cho biết: “Điều kiện để nuôi ruồi lính đen khá đơn giản, chỉ cần diện tích khoảng 100m2 trong mát, tốt nhất là trong vườn điều có tán rộng. Chi phí ban đầu khoảng 10 triệu đồng, chủ yếu để mua khung, lưới nhốt ruồi mẹ, ruồi trưởng thành, vài vật dụng để ruồi đẻ trứng. Khay đựng ấu trùng cũng có thể tận dụng làm bằng gỗ tạp và một số vật dụng khác”.

Từ khi nuôi ruồi lính đen, mỗi ngày ông Trình Huy Hoàng (bìa trái) thu khoảng 20-30kg sâu canxi để nuôi cá lồng, giảm 30% chi phí mua thức ăn cho cá

Ban đầu, ông Hoàng mua ấu trùng với số lượng rất ít (10 gam). Vì chúng dễ nuôi, phát triển nhanh và tỷ lệ sống rất cao. Sau vài lần cho ruồi ấp trứng ông Hoàng đã tự nhân giống. Ấu trùng ruồi lính đen rất phàm ăn, thức ăn chủ yếu là các loại phế phẩm nông nghiệp và xác động vật. Do vậy, chi phí nuôi rất thấp.

Vòng đời của ruồi lính đen diễn ra trong 45 ngày. Trứng ruồi sau 4 ngày tuổi sẽ nở thành ấu trùng. Sau 14 ngày, ấu trùng thành sâu canxi, thành nhộng, rồi lột xác thành ruồi. Sau đó, ruồi đẻ trứng và chết.

Từ khi nuôi ruồi lính đen, nguồn thức ăn cho cá của gia đình ông Hoàng đã được bổ sung từ 20-30kg sâu canxi/ngày, lượng cám đã giảm 30%. Sâu canxi chứa nhiều đạm nên chúng là nguồn thức ăn lý tưởng, cá rất thích ăn, mau lớn, phát triển khỏe mạnh. Qua đó, rút ngắn thời gian nuôi.

Mặc dù mới nuôi ruồi lính đen từ tháng 6-2020 nhưng đến nay, ông Hoàng đã có trứng ruồi để bán cho những ai có nhu cầu với giá 15 triệu đồng/kg. Vì sâu canxi dùng làm thức ăn chăn nuôi gia cầm khá chất lượng nên việc tiêu thụ cũng khả quan.

Ông Đinh Văn Hoằng, Chủ tịch Hội Nông dân xã Đức Liễu cho biết: “Trên địa bàn xã Đức Liễu hiện có 3 nông dân đã phát triển mô hình nuôi ruồi lính đen. Nhận thấy mô hình này có nhiều khả quan về kinh tế nên Hội Nông dân xã đã giải ngân mỗi hộ 10 triệu đồng từ Quỹ Hỗ trợ nông dân để đầu tư sản xuất”.

Thạc sĩ Bùi Văn Vĩnh, Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Bù Đăng cho biết: “Ruồi lính đen là thiên địch của rất nhiều loại côn trùng có hại, góp phần bảo vệ sức khỏe con người và cải thiện chất lượng môi trường sống. Với cách nuôi đơn giản, an toàn, chi phí thấp, không cần nhiều diện tích đất nhưng mang lại nhiều lợi ích kinh tế trong trồng trọt và chăn nuôi. Nông dân có thể tham khảo mô hình này để áp dụng vào điều kiện sản xuất của gia đình một cách phù hợp”.

Quang Minh

Sử dụng đệm lót sinh học xử lý chất thải trong chăn nuôi trâu, bò

Nguồn tin: Báo Thái Bình

Tổng đàn trâu, bò toàn tỉnh Thái Bình hiện nay ước đạt hơn 57.000 con. Định hướng của tỉnh đến năm 2025, tăng quy mô đàn trâu, bò đạt từ 180.000 con trở lên. Để phát triển đàn trâu, bò, vấn đề then chốt là phải xử lý được chất thải chăn nuôi.

Người chăn nuôi dùng máy đảo trộn đệm lót sinh học để tăng hiệu quả xử lý chất thải.

Thông qua hỗ trợ từ Chi cục Chăn nuôi và Thú y (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nhiều trang trại, hộ chăn nuôi trâu, bò đã tiếp cận và sử dụng chế phẩm vi sinh làm đệm lót sinh học xử lý chất thải chăn nuôi và mang lại hiệu quả rõ rệt.

Xây dựng trang trại chăn nuôi bò từ năm 2017, gia đình ông Phạm Xuân Khánh ở thôn Hưng Quan, xã Trọng Quan (Đông Hưng) thường xuyên nuôi 70 - 80 con bò sinh sản và bò vỗ béo. Mặc dù diện tích chuồng trại và tiềm năng kinh tế của gia đình có thể đầu tư nuôi tới 200 con nhưng vì chưa xử lý triệt để được số lượng chất thải hàng ngày từ đàn bò đang nuôi nên gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô.

Ông Khánh cho biết: Trước đây, hàng ngày tôi phải thuê người dọn chất thải với hình thức thu gom thủ công. Tuy nhiên, lượng phân thải ra rất lớn nên có những lúc việc thu gom chưa kịp thời gây mùi khó chịu và phát sinh các côn trùng có hại như ruồi, muỗi. Mỗi khi thu gom chất thải lại phải lùa đàn bò ra khu vực khác và vận chuyển phân thải ra chỗ riêng để xử lý nên mất rất nhiều công sức. Đầu năm 2020, trang trại được Chi cục Chăn nuôi và Thú y hỗ trợ, hướng dẫn cách sản xuất và sử dụng chế phẩm vi sinh làm đệm lót sinh học xử lý chất thải chăn nuôi. Từ ngày xử lý chất thải chăn nuôi bằng đệm lót sinh học ngay tại chuồng đã giảm thiểu mùi hôi thối rõ rệt, không phải mất công sức dọn dẹp thường xuyên, đồng thời tạo nguồn phân bón hữu cơ cho diện tích trồng cỏ. Sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi đã giúp tôi trút được gánh nặng khi hàng ngày không phải xử lý lượng phân thải quá lớn, vì vậy tôi đã yên tâm đầu tư tăng số lượng đàn bò lên 150 con.

Cũng là một trong những hộ chăn nuôi bò được Chi cục Chăn nuôi và Thú y hỗ trợ chế phẩm vi sinh làm đệm lót sinh học, gia đình ông Đỗ Văn Chường ở thôn Lộng Khê 5, xã An Khê (Quỳnh Phụ) đã mạnh dạn nhân số lượng đàn bò từ 36 con lên 50 con.

Ông Chường cho biết: Khi chưa sử dụng đệm lót sinh học, hàng ngày tôi phải hót phân mang đi ủ, dùng vòi bơm nước xịt rửa chuồng trại nên tốn công sức và phát sinh chi phí điện, nước, chưa kể nền chuồng trơn trượt khiến bò bị ngã, mắc các bệnh về chân, viêm da làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển, sinh sản. Giờ sử dụng đệm lót sinh học không chỉ tiết kiệm chi phí, giảm công lao động mà đàn bò được nuôi trong môi trường bảo đảm nên sinh trưởng thuận lợi. Tùy vào mức độ đào thải của đàn bò mà đệm lót sinh học có thể sử dụng được từ 2 - 4 tháng, hàng ngày tôi chỉ cần dùng máy đảo trộn đệm lót để tăng hiệu quả xử lý chất thải, đệm lót sau đó được thu gom làm phân bón cho cây trồng. Ngoài việc hướng dẫn cách dùng chế phẩm vi sinh làm đệm lót sinh học xử lý chất thải, Chi cục còn hướng dẫn cách ủ chua thức ăn với men vi sinh để bò tiêu hóa, tăng trọng tốt hơn và giảm mùi hôi của nước giải, phân khi đào thải.

Để phục vụ đề án “Phát triển đàn trâu, bò thương phẩm theo chuỗi liên kết giai đoạn 2019 - 2025 và những năm tiếp theo” trên địa bàn tỉnh, năm 2020, Chi cục Chăn nuôi và Thú y đã xây dựng mô hình khuyến nông “Nuôi bò sinh sản sản xuất con giống thương phẩm cao sản có sử dụng chế phẩm sinh học xử lý môi trường chăn nuôi”. Theo đó, Chi cục đã xây dựng 4 mô hình trình diễn với 16 hộ thuộc 11 xã của 5 huyện tham gia. Ngoài hỗ trợ con giống, tập huấn kỹ thuật chăn nuôi bò sinh sản, Chi cục còn hỗ trợ chế phẩm vi sinh, kỹ thuật làm và sử dụng đệm lót sinh học xử lý chất thải chăn nuôi. Kết quả của mô hình đã khẳng định việc sử dụng chế phẩm sinh học xử lý chất thải chăn nuôi chính là giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu tối đa ảnh hưởng xấu tới môi trường, tiết kiệm chi phí, giảm công lao động, tăng hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. Mô hình này đang được nhiều chủ cơ sở chăn nuôi đến học tập và nhân rộng, đây chính là tiền đề quan trọng thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu, bò nói riêng trên địa bàn tỉnh.

Thanh Huyền

Thu nhập khá từ nuôi thỏ

Nguồn tin: Báo Đắk Lắk

Cách đây một năm, sau khi đi tham quan và nhận thấy mô hình nuôi thỏ mang lại hiệu quả kinh tế cao nên anh Y Yet Niê (tên thường gọi là Ama Mươn, ở buôn Ea Nao A, xã Ea Tu, TP. Buôn Ma Thuột) quyết định mua 100 con thỏ giống New Zealand và đầu tư xây dựng chuồng trại để nuôi thỏ.

Sau khi nghiên cứu, tìm hiểu, Ama Mươn gây đàn thỏ bằng cách cho giống thỏ cái địa phương phối với giống thỏ đực New Zealand vì giống thỏ này có đặc điểm là to khỏe, năng suất thịt thương phẩm cao. Kết quả cho thấy, thỏ con lai nuôi lấy thịt nhanh lớn, khỏe hơn giống thỏ địa phương rất nhiều nên cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Nếu giống thỏ địa phương để nuôi đạt được 2,5 kg phải mất thời gian từ 3,5 – 4 tháng thì giống thỏ lai chỉ nuôi trong 2,5 tháng đã đạt được trọng lượng trên. Đáng chú ý là thỏ sinh sản do anh nuôi đạt tỷ lệ sinh sản khá cao, trung bình mỗi lứa thỏ sinh sản được 4 - 5 con, có lứa đến 11 con. Hiện tại, thỏ thương phẩm của gia đình anh được một số nhà hàng ký hợp đồng thu mua. Trung bình, mỗi tuần Ama Mươn xuất bán ra thị trường khoảng 10 con thỏ thịt với giá 100.000 đồng/kg. Ngoài ra, anh còn bán thỏ giống với giá 150.000 đồng/cặp. Hiện tại, gia đình anh có đàn thỏ 300 con, trong đó có 43 con là thỏ mẹ sinh sản. Mỗi năm sau khi trừ chi phí gia đình anh có thu nhập ổn định từ 40 – 45 triệu đồng từ việc bán thỏ thịt và thỏ giống.

Ama Mươn trong khu vực nuôi thỏ của gia đình.

Ama Mươn chia sẻ, thỏ là vật nuôi dễ tính, có thể ăn mọi thứ lá, nên những lúc rảnh rỗi vợ chồng anh thường tranh thủ đi kiếm rau lá quanh vườn nhà hoặc trên nương rẫy. Chỉ buổi sáng anh mới bổ sung cám cho thỏ để tăng năng suất sinh sản, mượt lông, còn các bữa sau anh đều cho ăn cỏ, nhờ vậy thịt thỏ thơm và dai hơn so với thỏ nuôi thức ăn công nghiệp, được khách hàng ưa chuộng. Theo Ama Mươn, cần chú trọng nhất là phòng bệnh cho đàn thỏ. Thỏ hay mắc phải bệnh ghẻ do ký sinh trùng gây ra. Cách để nhận biết bệnh ghẻ ở thỏ là vùng da bị ghẻ sẽ sần sùi và có màu đỏ như vết xước trên da. Cách phòng tránh bệnh hiệu quả là vệ sinh chuồng trại thường xuyên và tiêm vắc xin phòng bệnh cho thỏ.

Đoàn Hân

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-28) 37445447-(84-28) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop