Tin nông nghiệp ngày 30 tháng 06 năm 2020

Trang chủ»Tin tức»Tin nông nghiệp ngày 30 tháng 06 năm 2020

Làm nông nghiệp thuận tự nhiên

Nguồn tin:  Báo Đắk Lắk

Dám nghĩ, dám làm, nhiều nông dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã mạnh dạn thay đổi phương thức canh tác hướng đến sản xuất nông nghiệp sạch, bền vững và bảo vệ môi trường.

Một khu vườn nhiều tầng tán xanh mát, dưới gốc được bao bọc bởi những lớp cỏ dại chen nhau mọc là cảm nhận của chúng tôi khi tham quan mô hình kinh tế của anh Nông Văn Công (ở thôn Cao Bằng, xã Ea Yông, huyện Krông Pắc). Mô hình sản xuất theo lối canh tác thuận tự nhiên này được anh Công thực hiện 2 năm nay. Trước đó, anh Công canh tác truyền thống, tuy nhiên sau một thời gian nhận thấy phân bón hóa học, thuốc trừ sâu chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống, nên anh quyết định chuyển hướng sang canh tác nông nghiệp hữu cơ sạch, bền vững.

Cây chuối sau khi thu hoạch được anh Nông Văn Công (huyện Krông Pắc) tận dụng để tăng sinh khối cho vườn.

Với 2 ha xen canh cà phê và các loại cây ăn trái: sầu riêng, bơ, na, nhãn, xoài, anh Công xây dựng hệ sinh thái thu nhỏ bằng cách tạo ra nhiều lớp tầng tán. Anh trồng xen các loại cây gỗ như keo, muồng… để che bóng vào mùa khô. Mùa mưa, anh Công cắt tỉa và tận dụng số cành, lá đã cắt làm dưỡng chất hữu cơ, tăng sinh khối cho vườn. Ngoài ra, anh còn trồng thêm cỏ vertiver, muồng vàng, cúc quỳ… để cố định đạm, làm giàu cho đất; và trồng xen dứa, khoai lang, khoai môn để tăng thu nhập. Chuyển phương pháp canh tác mới, anh Công ngưng hẳn việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học cho cây trồng, thay vào đó anh tận dụng nguồn phân chuồng từ chăn nuôi đem ủ hoai vi sinh để bón bổ sung cho cây trồng. Anh Công chia sẻ: “Mô hình vườn rừng giúp vườn cây quanh năm mát mẻ, cho sản phẩm nông sản sạch bảo đảm chất lượng. Nhờ cách làm này, hơn 1 năm trở lại đây, chi phí đầu tư chăm sóc cho khu vườn “gần như bằng 0”, chỉ tốn khoản tiền mua cây giống”.

Tương tự, với 1,8 ha thuần cà phê, năm 2015 anh Vũ Mạnh Đường (ở thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana) quyết định chuyển sang làm nông nghiệp hữu cơ. Thời gian đầu, anh Đường cải tạo vườn cà phê bằng cách không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học mà chỉ dùng các chế phẩm vi sinh. Sau đó, anh Đường bỏ độc canh cà phê, chuyển sang trồng các loại cây như bơ, sầu riêng, hồ tiêu, xoài, mít, mãng cầu, muồng, đinh lăng, đến những cây ngắn ngày như chuối, đậu đen… để tạo nhiều tầng, tán cho khu vườn. Trên những nhánh cây ngang tầm với, anh Đường còn cấy nhiều loại lan rừng với mong muốn tạo ra một hệ sinh thái phong phú như trong tự nhiên.

Cấy lan rừng lên thân cây làm đa dạng hệ sinh thái khu vườn của anh Vũ Mạnh Đường (huyện Krông Ana).

Các loại cây cao, tán lớn thường xuyên được anh Đường cắt tỉa và tận dụng làm phân hữu cơ. Cỏ dại được nuôi để tủ ẩm gốc cây và giữ lớp keo đất, chống xói mòn. Phía cuối vườn, anh Đường nuôi thêm ao cá và trồng lúa để sử dụng trong gia đình. “Nhờ vào hướng canh tác mới, khu vườn sinh thái đã cho ra nguồn nông sản sạch. Vụ mùa trước, tôi đã áp dụng cách thức thu hái, chế biến cà phê theo hướng làm cà phê đặc sản, giúp nâng cao giá trị gấp 3 lần so với cách làm truyền thống” - anh Đường cho hay.

Làm nông nghiệp thuận tự nhiên, anh Công, anh Đường là những “nhà nông hiện đại” đã trải nghiệm và thấy được hiệu quả với mô hình hệ sinh thái vườn rừng nông - lâm kết hợp các loại cây dài ngày, ngắn ngày, cây dược liệu, các loại rau, củ... Theo các anh, khi chất lượng nông sản được đề cao, không chỉ nâng cao giá trị nông nghiệp, mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

Thùy Linh

Doanh nghiệp cần đảm bảo quy định khi xuất khẩu sang Trung Quốc

Nguồn tin:  Báo Chính Phủ

Vụ Thị trường châu Á- châu Phi (Bộ Công Thương) cho biết, theo thông tin từ Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc), thời gian gần đây, Chính quyền Quảng Tây áp dụng một số biện pháp tăng cường kiểm soát nguồn gốc và chất lượng của thực phẩm trên địa bàn.

Theo đó, thực hiện nghiêm chế độ quản lý hàng hóa đưa vào tiêu thụ tại các chợ, siêu thị; tăng cường kiểm tra các loại giấy tờ như chứng nhận đạt chuẩn chất lượng, chứng nhận nguồn gốc xuất xứ, chứng từ mua hàng đối với hàng nông sản dùng làm thực phẩm; cấm mua bán, tàng trữ các loại thực phẩm không phù hợp với tiêu chuẩn an toàn thực phẩm; các trường hợp kinh doanh thực phẩm nhập khẩu phải cung cấp chứng từ kiểm nghiệm kiểm dịch của cơ quan hải quan.

Mặt khác, tăng cường giám sát quản lý và loại trừ rủi ro dịch bệnh đối với các mặt hàng trọng điểm (tươi sống và động lạnh) như thủy sản và chế phẩm từ thủy sản, các loại thịt gia súc gia cầm như thịt lợn, thịt bò, thịt cừu. Nghiêm cấm giao dịch, mua bán các loại động vật hoang dã; tăng cường tổ chức lấy mẫu kiểm tra đối với các loại thực phẩm trọng điểm.

Theo Vụ Thị trường châu Á-châu Phi, Chính quyền thành phố Đông Hưng (có chung đường biên giới với Móng Cái, Quảng Ninh) gần đây cũng tăng cường tổng kiểm tra về nguồn gốc xuất xứ và chất lượng sản phẩm đối với thủy sản, các loại thịt tại các chợ nông sản, siêu thị, khách sạn trên địa bàn.

Trước tình hình đó, Bộ Công Thương một lần nữa khuyến nghị các doanh nghiệp, hộ sản xuất hàng nông sản, thủy sản xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tăng cường giám sát chất lượng, chủ động phối hợp chặt chẽ với đối tác nhập khẩu tuân thủ nghiêm các quy định của Trung Quốc về tiêu chuẩn chất lượng, kiểm nghiệm kiểm dịch, an toàn thực thẩm, truy xuất nguồn gốc… đối với hàng nhập khẩu.

Cùng với đó, tích cực theo dõi, nắm bắt thông tin về thị trường để chủ động việc đưa hàng lên các cửa khẩu biên giới nhằm góp phần giảm thiểu rủi ro và thời gian thông quan hàng hóa tại các cửa khẩu biên giới.

Theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam, hai năm vừa qua, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc đều đạt trên ngưỡng 100 tỷ USD. Riêng 5 tháng đầu năm nay, trong bối cảnh dịch COVID-19 bùng phát và diễn biễn phức tạp, hai nước đã kịp thời trao đổi nhiều biện pháp duy trì thông thương cũng như thực hiện các sáng kiến thúc đẩy giao lưu doanh nghiệp trên môi trường trực tuyến, đưa tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 44,35 tỷ USD, tăng gần 2% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 15,975 tỷ USD, tăng 17,4% và kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường này đạt 28,375 tỷ USD, giảm hơn 5%.

Mặc dù xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng trong 5 tháng đầu năm nay nhưng kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản lại giảm: thủy sản đạt 373,19 triệu USD, giảm 2,3%; rau quả đạt 906,15 triệu USD, giảm 29,1%; hạt điều đạt 117,9 triệu USD, giảm 30,9%; cao su đạt 307,37 triệu USD, giảm 28,2% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong bối cảnh đó, nhằm tăng cường xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thực phẩm và hàng tiêu dùng sang thị trường Trung Quốc, Bộ Công Thương đã tổ chức nhiều chương trình giao thương trực tuyến với thị trường Trung Quốc: Hội nghị giao thương trực tuyến hàng nông sản, thực phẩm với tỉnh Quảng Tây; Hội nghị giao thương trực tuyến nông sản, thực phẩm với tỉnh Vân Nam; Hội nghị giao thương trực tuyến vật liệu xây dựng và đồ nội thất với Quảng Tây; Hội nghị giao thương trực tuyến nông sản, thực phẩm với tỉnh Sơn Đông; Hội nghị giao thương trực tuyến nông sản, thủy sản và thực phẩm với doanh nghiệp thành phố Trùng Khánh.

Tại các chương trình giao thương trực tuyến, nhiều doanh nghiệp Việt đã kết nối, hợp tác và ký kết hợp đồng với nhà nhập khẩu Trung Quốc. Đây là những tín hiệu tích cực giúp cho các doanh nghiệp có động lực sản xuất để đẩy mạnh xuất khẩu.

Thanh Hằng

Đẩy mạnh xuất khẩu nông thủy sản Việt bằng chất lượng và thương hiệu

Nguồn tin:  VOV

Muốn đẩy mạnh xuất khẩu, buộc phải nâng cao chất lượng nông thủy sản, xây dựng thương hiệu và truy xuất được nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa.

Hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩu nông thủy sản đến hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều nhóm hàng xuất khẩu trị giá trên 1 tỉ USD, như: cà phê, gạo, rau quả, tôm, cá tra…

Năm 2020, ngành nông nghiệp Việt Nam đặt mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu nông thủy sản trên 43 tỷ USD. Tuy nhiên, đến hết tháng 5/2020, con số này mới đạt 15,49 tỷ USD, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân là ngay từ đầu năm, xuất khẩu nông, thủy sản của nước ta bị tác động tiêu cực bởi dịch bệnh Covid-19 lan rộng tại các nước tiêu thụ nông, thủy sản lớn của Việt Nam như: Trung Quốc, Mỹ, Nhật và một số quốc gia châu Âu.

Tọa đàm “Tìm giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông thủy sản Việt Nam” diễn ra sáng 26/6 tại TPHCM.

Tại tọa đàm “Tìm giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông thủy sản Việt Nam” diễn ra sáng 26/6 tại TPHCM, các đại biểu cho rằng, doanh nghiệp muốn đẩy mạnh xuất khẩu thì yếu tố quan trọng là nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và truy xuất được nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa.

Trong đó, chất lượng hàng hóa phải theo các tiêu chuẩn như Viet GAP, Local GAP…. thì nông thủy sản Việt Nam mới có thể đi nhanh ra thế giới và ổn định. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hóa bằng việc ứng dụng công nghệ trong chế biến và bảo quản sản phẩm.

Việt Nam đang xuất khẩu nhiều nông sản sang Trung Quốc. Thời gian qua, nhiều nông sản của Việt Nam xuất thô qua Trung Quốc gặp khó khăn, nhiều lúc ùn ứ ở cửa khẩu.

Theo các đại biểu, thị trường này hiện đã thay đổi do phía Trung Quốc muốn doanh nghiệp xuất khẩu chính ngạch thay vì tiểu ngạch. Họ yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn, chất lượng và hàng hóa phải truy xuất nguồn gốc.

Do đó, ông Vi Công Tường, Phó Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn lưu ý doanh nghiệp khi buôn bán với đối tác nước ngoài phải buôn bán thông qua hợp đồng, tránh tình trạng buôn bán hàng chợ (tiểu ngạch).

“Trung Quốc đang truy xuất nguồn gốc, trước đây chỉ cần dán tem truy xuất trên bao bì. Hiện nay, họ yêu cầu in nội dung truy xuất hàng hóa trên bao bì, việc in doanh nghiệp phải chuẩn bị sẵn nếu lên cửa khẩu mới làm thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa và thời gian làm thủ tục ở cửa khẩu”, ông Tường cho biết thêm./.

Lệ Hằng/VOV-TPHCM

Quyết định 655 hỗ trợ phát triển nông nghiệp đô thị ở Cần Giờ

Nguồn tin:  Khoa Học Phổ Thông

Chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp (Quyết định 655) được triển khai trên địa bàn huyện Cần Giờ (TPHCM) giúp nhiều tổ chức, cá nhân được tiếp cận vốn vay, hỗ trợ lãi vay để đầu tư phát triển các mô hình có giá trị kinh tế cao, từ đó giúp nông nghiệp huyện phát triển nhanh hơn.

Chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp (Quyết định 655) đã tiếp sức giúp các tổ chức, cá nhân đầu tư vào các mô hình có vốn đầu tư lớn, thế mạnh của huyện, từ đó có hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn. Theo thống kê của Chi cục phát triển nông thôn TP.HCM, từ năm 2011 đến tháng 6/2020, ngân sách thành phố đã hỗ trợ lãi vay cho các chủ đầu tư tại huyện Cần Giờ với kinh phí lên tới 179 tỷ 50 triệu đồng để phát triển mô hình nuôi tôm, nghêu, heo. Nhờ được tiếp sức, nhiều hợp tác xã (HTX) (trong số 12 HTX với 207 thành viên hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp) của huyện Cần Giờ được đánh giá hoạt động hiệu quả và xếp loại tốt. Trong đó, với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản có HTX Thuận Yến, HTX Long Hòa; ở lĩnh vực diêm nghiệp có HTX muối Thiềng Liềng, HTX nông nghiệp - dịch vụ - du lịch Nhạn Trắng.

Trong đó, HTX Thuận Yến là một trong những mô hình kinh tế tập thể hoạt động hiệu quả, đem lại giá trị kinh tế cao. Với diện tích 8 ha, HTX nuôi luân canh giữa hai đối tượng cá dứa và tôm thẻ chân trắng theo mô hình công nghệ cao. Với mô hình nuôi tôm, HTX áp dụng công nghệ Biofloc, kết nối với các công ty và doanh nghiệp phát triển theo chuỗi liên kết. Ngoài ra, HTX cũng phát triển thêm 2 nhà yến, đạt sản lượng trung bình 75 - 100 kg/năm.

Cùng với chủ trương khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố, huyện Cần Giờ tiếp tục tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân phát triển các mô hình nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao. Theo đó, tiếp tục đẩy mạnh nghề chăn nuôi tôm theo hướng bền vững, năng suất cao, quản lý chặt chẽ các hình thức quảng canh dưới tán rừng để không gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng ngập mặn. Tập trung thâm canh, ứng dụng công nghệ cao, phát huy thế mạnh thủy sản gắn với nông nghiệp sinh thái của huyện Cần Giờ.

Chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị được triển khai nhiều năm qua trên địa bàn huyện Cần Giờ, góp phần phát triển kinh tế địa phương, tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống người dân.

Bài và ảnh: HOÀI AN

Phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ

Nguồn tin:  Báo Chính Phủ

Phát triển nền nông nghiệp hữu cơ có giá trị gia tăng cao, bền vững, thân thiện với môi trường sinh thái, gắn với kinh tế nông nghiệp tuần hoàn phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ của khu vực và thế giới; đưa Việt Nam trở thành quốc gia có trình độ sản xuất nông nghiệp hữu cơ ngang bằng các nước tiên tiến trên thế giới.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký quyết định phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 - 2030.

Cụ thể, mục tiêu đến năm 2025, diện tích nhóm đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 1,5 - 2% tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp; diện tích đất trồng trọt hữu cơ đạt khoảng trên 1% tổng diện tích đất trồng trọt với các cây trồng chủ lực như: lúa, rau đậu các loại, cây ăn quả, chè, hồ tiêu, cà phê, điều, dừa...

Tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi hữu cơ đạt khoảng 1 - 2% tính trên tổng sản phẩm chăn nuôi sản xuất trong nước. Các sản phẩm chăn nuôi được chứng nhận hữu cơ theo tiềm năng thế mạnh được ưu tiên như sữa, sản phẩm mật ong, sản phẩm yến sào, thịt gia súc gia cầm.

Diện tích nuôi trồng thủy sản hữu cơ đạt khoảng 0,5 - 1,5% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản, trong đó một số loài thủy đặc sản có giá trị kinh tế như: tôm nước lợ, tôm càng xanh, các loài thủy sản bản địa...

Nâng cao hiệu quả của sản xuất hữu cơ trên một đơn vị diện tích; giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản hữu cơ cao gấp 1,3-1,5 lần so với sản xuất phi hữu cơ...

Nhiệm vụ chủ yếu đặt ra để đạt được các mục tiêu trên là phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ tập trung và các sản phẩm hữu cơ chủ lực; phát triển đa dạng các hình thức tổ chức sản xuất sản phẩm hữu cơ; nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp hữu cơ; phát triển các tổ chức chứng nhận, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy trình kỹ thuật; tăng cường chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩn hữu cơ.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Đề án; chủ động lồng ghép các mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án với các chương trình mục tiêu quốc gia và các đề án của các bộ, ngành và địa phương khác có liên quan; lựa chọn và xác định các yếu tố hoàn thiện mô hình thí điểm sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại các địa phương theo danh mục đã phê duyệt; chỉ định các đơn vị có năng lực nghiên cứu, chứng nhận và liên kết chuỗi giá trị tham gia triển khai các mô hình thí điểm, xây dựng kế hoạch triển khai và từng bước nhân rộng mô hình; tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá và định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc triển khai Đề án.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định sản phẩm lợi thế, lĩnh vực chủ lực, vùng có lợi thế về sản xuất hữu cơ, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng đề án, dự án phát triển nông nghiệp hữu cơ đáp ứng yêu cầu và phù hợp với tiêu chuẩn ngành nông nghiệp. Xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù của địa phương như: đất đai, hạ tầng, giống, công nghệ sản xuất hữu cơ... phục vụ cho phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Bên cạnh đó, bố trí kinh phí từ ngân sách địa phương và huy động các nguồn vốn hợp pháp để thực hiện các dự án phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn; thường xuyên tổ chức kiểm tra việc thực hiện đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ của địa phương, hàng năm tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện đề án của địa phương gửi về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tổng hợp báo cáo Chính phủ.

Chí Kiên

Thanh trà rớt giá, người trồng vẫn vui

Nguồn tin: Báo Thừa Thiên Huế

Phải hơn tháng rưỡi nữa mới đến thời điểm thu hoạch, nhưng hiện 22ha (gần 5.300 gốc) thanh trà cho quả đại trà trong tổng số 49,5ha thanh trà trên địa bàn xã Dương Hòa (thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế) đã được thương lái đặt mua tại vườn từ trước.

Ông Nguyễn Vinh ước tính thu nhập từ thanh trà năm nay gấp đôi năm ngoái

Nếu như năm 2019, giá mỗi quả thanh trà thương lái thu mua tại vườn trung bình 13 - 14 ngàn đồng thì năm nay, giá chỉ còn khoảng 10-11 ngàn đồng/quả.

Ngược với câu chuyện giá “rớt” khiến thu nhập của những người trồng thanh trà giảm theo, thì năm nay, nhờ việc mỗi gốc cho năng suất gấp đôi, gấp ba năm ngoái (từ 350 – 450 quả/gốc) nên hiện, những người trồng thanh trà ở Dương Hòa đều có mức thu nhập gấp rưỡi, gấp đôi, có hộ gấp ba.

Ông Nguyễn Vinh ở thôn Buồng Tằm – thôn có số hộ trồng thanh trà nhiều nhất xã Dương Hòa (70/80 hộ)- phấn khởi: “Gia đình tôi có 70 gốc thanh trà đang trong thời kỳ ra quả ổn định, mỗi năm cho thu nhập chừng 100 triệu đồng/mùa. Tuy nhiên năm nay, nhờ sản lượng quả gấp 3 nên dù giá có giảm thì thu nhập vẫn gấp đôi năm ngoái”.

Trên thanh trà, dưới gà đồi: “Chúng tôi đang ấp ủ mô hình “trên thanh trà – dưới gà đồi”. Bên cạnh những kỹ thuật về tưới tiêu, chăm sóc… qua nhiều lần thử nghiệm đã cho thấy, nếu khoảnh vườn trồng thanh trà nào có thả gà thì ở đó cây thanh trà rất tốt, có sản lượng và chất lượng cao hơn, đồng thời, gà được nuôi dưới những tán thanh trà thì nhanh lớn, thịt chắc, ngọt và thơm hơn. Nguyên nhân có thể thanh trà hợp với phân gà, đất được gà bươi khi tìm thức ăn sẽ tơi xốp, ít cỏ dại hơn, còn gà khi nuôi dưới tán cây thì vận động thoải mái, ăn thức ăn tự nhiên nhiều hơn”, ông La Đành, Chủ tịch Hội Nông dân xã Dương Hòa tiết lộ.

Để có một mùa thanh trà có chất lượng cao, đồng thời cho sản lượng gấp đôi, gấp ba – điều chưa từng xảy ra kể từ khi người dân Dương Hòa bắt đầu trồng thanh trà - bên cạnh nhờ có vài “cơn mưa vàng” đúng thời điểm từ đầu năm đến nay, nguyên nhân chủ yếu do người trồng thanh trà ở Dương Hòa đã biết thâm canh, chăm sóc đúng kỹ thuật, loại trừ sâu bệnh, chủ động phân, thuốc và áp dụng công nghệ vào tưới tiêu.

“Thông qua các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc thanh trà, đồng thời mới đây được Hội Nông dân tỉnh hỗ trợ lắp đặt bét tưới bán tự động cho một số hộ chưa đủ điều kiện, đến nay, bà con đã kiểm soát được bệnh sâu đục thân, rầy chủng cánh, chảy gôm – xì mủ… cũng như khoan giếng, đào ao để chủ động nước tưới”, ông La Đành, Chủ tịch Hội Nông dân xã Dương Hòa cho biết.

Theo ông Nguyễn Văn Thức, Phó Chủ tịch UBND xã Dương Hòa, bên cạnh 22ha thanh trà đang trong thời kỳ cho quả ổn định, từ năm 2021-2025, Dương Hòa sẽ tăng thêm từ 10-12 ha thanh trà cho thu hoạch đại trà. Hướng đến tính bền vững, sắp tới chúng tôi sẽ ra mắt Tổ hợp tác thanh trà của xã. Tổ hợp tác này có vai trò kết nối, chia sẻ kinh nghiệm trồng, chăm sóc cũng như nâng cao chất lượng, sản lượng quả để tiến đến xây dựng thương hiệu thanh trà Dương Hòa.

“Qua những lần tham gia Hội thi thanh trà, Dương Hòa có 2 lần đạt giải nhì. Để tiếp tục nâng cao chất lượng loại quả này, hiện chúng tôi đã phối hợp với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên TX. Hương Thủy mở lớp sơ cấp nghề 3 tháng về kỹ thuật trồng cây ăn quả cho bà con trên địa bàn. Bên cạnh hướng dẫn kỹ thuật quy hoạch, xây dựng vườn cây ăn quả có múi, tính toán chi phí đầu vào, đầu ra, giá thành khi tiêu thụ sản phẩm…, sau khóa học, bà con sẽ nhận biết được đâu là cây thanh trà đầu dòng có chất lượng, để từ đó áp dụng kỹ thuật nhân giống nhằm giúp thanh trà có chất lượng cao, đồng đều hơn”, ông Thức thông tin.

Bài, ảnh: HÀN ĐĂNG

Bến Tre: Châu Bình khôi phục vườn dừa sau hạn mặn

Nguồn tin: Báo Đồng Khởi

So với nhiều loại cây trồng khác, dừa là cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu, với sức chịu đựng hạn mặn cao hơn (ở ngưỡng từ 5 - 10%o). Vì thế, sau hạn mặn gay gắt và kéo dài 6 tháng vừa qua là chưa từng có trong lịch sử nhưng cây dừa vẫn duy trì sức sống vượt qua giai đoạn khó khăn nhất và đang từng bước khôi phục.

Lãnh đạo xã Châu Bình khảo sát vườn dừa của ông Ngô Văn Tĩnh (bìa phải).

Xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm (tỉnh Bến Tre) là một trong những xã có diện tích trồng dừa lớn nhất của huyện và luôn được đánh giá cao về năng suất, chất lượng. Xã hiện có khoảng 1.665ha đất nông nghiệp, trong đó phần lớn trồng dừa.

Ông Nguyễn Thanh Tâm - Phó chủ tịch UBND xã Châu Bình cho hay, cây trồng chủ lực của xã là dừa, kế đến là các loại cây ăn quả và lúa. Ảnh hưởng của đợt hạn mặn vừa qua, 100% diện tích trồng lúa vụ 3 (14,6ha) đã thiệt hại hoàn toàn. 9,6ha rau màu thiệt hại gần 100%. Riêng cây ăn trái, qua thống kê sơ bộ có 43,7ha, tỷ lệ thiệt hại trên 70%. Có trên 65 - 80% diện tích dừa (cả dừa khô và dừa uống nước) bị thiệt hại, với tỷ lệ thiệt hại 30 - 70%.

Sau hạn mặn, cây dừa chịu thiệt hại ít hơn các loại cây trồng khác. Tuy nhiên, năng suất dừa đang có biểu hiện giảm so với thời điểm bình thường, chất lượng trái cũng giảm đáng kể. Riêng dừa uống nước, do kích cỡ trái quá nhỏ nên được người dân gọi là dừa “gòn” hay dừa “xoài”. Thương lái xếp loại dừa này là loại dừa “dạt” (tức là dừa nhỏ không đủ chuẩn kích cỡ), hoặc tính gộp 2 hoặc 3 trái thành 1 trái, thậm chí không mua. Để chăm sóc, khôi phục vườn dừa, nhiều nhà vườn đã mạnh dạn chặt bỏ tất cả các buồng (với nhiều lứa) trên cây để vệ sinh cây và bón phân. Vì thế, hiện tại giá dừa uống nước trên thị trường 140 ngàn đồng/chục (12 trái) nhưng nhà vườn không có bán, dẫn đến thu nhập hộ trồng dừa giảm đáng kể. Dừa khô có giá mua từ 120 - 130 ngàn đồng/chục (12 trái), năng suất giảm 50%.

Anh Đỗ Văn Thủ, ấp Bình An, xã Châu Bình có hơn 3ha dừa uống nước và dừa khô. “Hiện giá dừa rất cao nhưng riêng dừa uống nước bán thương lái không mua. Tôi vận chuyển đến các huyện bán với giá 1 - 2 ngàn đồng/trái, chi phí không đủ đâu vào đâu. Trước đây, gia đình thu nhập từ 15 - 20 triệu đồng/tháng thì nay còn dưới 10 triệu đồng/tháng.

Tương tự, hộ ông Ngô Văn Tĩnh, ấp Bình An, xã Châu Bình có 1,3ha đất trồng dừa, trong đó chủ yếu là dừa khô. Ông cho hay, riêng 1 công đất trồng dừa uống nước là không bán được, giờ còn thu nhập từ dừa khô. “Dừa uống nước có thể phải mất từ 5 - 6 tháng mới có thể thu hoạch lại lứa cho trái mới. Đối với dừa khô, tôi cũng bắt đầu lo lắng các đợt cho trái tiếp theo”.

Để người dân có giải pháp khôi phục cây trồng sau hạn mặn, UBND xã Châu Bình đã phát tờ tin, tài liệu hướng dẫn do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cung cấp đến người dân tận các tổ nhân dân tự quản.

Hiện nay, hầu hết các hộ trồng dừa đều biết cách chăm sóc, bón phân cho cây. Riêng đối với hộ trồng dừa uống nước đã chọn phương án cắt bỏ trái, để cây có thể sinh trưởng tốt hơn và tiếp tục trông chờ vào các lứa dừa sau, có đủ nước ngọt và chăm bón tốt hơn để vườn dừa nhanh chóng phục hồi.

Theo các chuyên gia, mặc dù cây dừa cho trái có giảm năng suất, chất lượng nhưng cây dừa có khả năng duy trì, thích ứng cao và mang lại những hiệu quả kinh tế nhất định. Thời gian tới, việc chọn ra các giống dừa mới thích ứng với biến đổi khí hậu tốt hơn, cùng với các giải pháp về liên kết, kết nối cung cầu thị trường… là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của cây dừa ở Bến Tre.

Bài, ảnh: Cẩm Trúc

Bắc Giang: Tiêu thụ gần 130 nghìn tấn vải thiều

Nguồn tin: Báo Bắc Giang

Thông tin từ Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại (Sở Công Thương), tính đến hết ngày 27/6, toàn tỉnh Bắc Giang tiêu thụ được gần 130 nghìn tấn vải thiều, giá bán từ 22 đến 48 nghìn đồng/kg.

Điểm thu mua vải thiều tại phố Kim, xã Phượng Sơn (Lục Ngạn).

Trong đó, huyện Lục Ngạn tiêu thụ được hơn 72 nghìn tấn, Lục Nam hơn 25 nghìn tấn, Tân Yên hơn 15 nghìn tấn, Lạng Giang 4,6 nghìn tấn, Yên Thế 7,8 nghìn tấn và huyện Sơn Động 4,3 nghìn tấn. Trên địa bàn tỉnh có khoảng 600 điểm cân vải thiều, trong đó tập trung chủ yếu tại huyện Lục Ngạn. Ngoài thương nhân, doanh nghiệp trong nước, hiện có 113 thương nhân Trung Quốc sau thời gian cách ly phòng dịch Covid-19 đã tham gia thu mua vải thiều.

Vườn vải thiều đủ điều kiện xuất sang Nhật Bản tại xã Nam Dương (Lục Ngạn).

Theo đại diện lãnh đạo Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại, năm nay, vải thiều tiêu thụ thuận lợi ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu. Tại thị trường nội địa khoảng 60% sản lượng tiêu thụ ở các tỉnh phía Nam.

Đặc biệt, điểm mới của hoạt động tiêu thụ vải thiều năm nay là đến thời điểm này đã xuất khẩu được hơn 50 tấn quả sang thị trường Nhật Bản, nước có đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật thuộc nhóm cao nhất thế giới.

Đây là cơ hội để khẳng định chất lượng vải thiều của tỉnh; đồng thời tạo điều kiện cho việc mở rộng thị trường ở các quốc gia khác trong những năm tiếp theo. Dự kiến vụ vải năm nay Nhật Bản sẽ tiêu thụ khoảng 100 tấn vải thiều Bắc Giang.

Theo kế hoạch và căn cứ vào tình hình sản xuất thực tế, dự kiến khoảng 15-20 ngày nữa nông dân trong tỉnh sẽ cơ bản thu hoạch xong vải thiều.

Hoàng Phương

Trên 1.000ha lúa áp dụng gói công nghệ giảm phát thải khí nhà kính ở vụ xuân năm 2020

Nguồn tin: Báo Thái Bình

Đó là thông tin được đưa ra tại hội thảo chia sẻ kết quả thực hiện 3 vụ mở rộng 2019 - 2020 của Dự án “Sản xuất lúa bền vững và giảm phát thải khí nhà kính AgResults (AVERP)” do Ban Quản lý dự án AVERP tỉnh Thái Bình phối hợp với Tổ chức phát triển Hà Lan SNV tổ chức sáng ngày 25/6.

Ông Trần Minh Hưng, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Thái Bình, Trưởng ban quản lý Dự án AVERP Thái Bình phát biểu khai mạc hội thảo.

Dự án AVERP tại Việt Nam do Tổ chức phát triển Hà Lan SNV quản lý được thực hiện tại Thái Bình trong thời gian từ năm 2016 - 2021 với mục tiêu tìm ra các giải pháp trong canh tác lúa nhằm làm giảm khí phát thải nhà kính, tạo môi trường an toàn và bền vững trong sản xuất nông nghiệp. Dự án gồm 2 giai đoạn: thử nghiệm và nhân rộng. Đến nay, giai đoạn nhân rộng của dự án đã thực hiện được 3 vụ: vụ xuân, vụ mùa năm 2019 và vụ xuân năm 2020 với 4 đơn vị dự thi.

Theo đánh giá của Ban Quản lý dự án, quy mô thực hiện dự án ngày càng được mở rộng cả về số xã, số nông hộ và diện tích áp dụng các gói công nghệ. Vụ xuân năm 2020 có 52 xã tham gia với diện tích trên 1.000ha. Dự án bước đầu cho hiệu quả thiết thực về kinh tế, xã hội, môi trường.

Tại hội thảo, đại biểu các xã đã và đang tham gia áp dụng các gói công nghệ của 4 đơn vị tham gia dự án đã thảo luận, chia sẻ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án qua 3 vụ mở rộng; từ đó Ban Quản lý dự án, các đơn vị tham gia dự thi có những điều chỉnh cho phù hợp để triển khai trong vụ mùa năm 2020.

Ngân Huyền

Sóc Trăng: Đến cuối năm 2020 sản lượng lúa đặc sản trên 1 triệu tấn

Nguồn tin: Báo Sóc Trăng

Đó là một trong những mục tiêu chung của ngành nông nghiệp nêu ra tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và đề ra phương hướng, nhiệm vụ các tháng còn lại trong năm 2020, vào ngày 25-6. Đồng chí Lương Minh Quyết - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) Sóc Trăng chủ trì hội nghị.

Giám đốc Sở NN-PTNT Lương Minh Quyết phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Thúy Liễu

Theo lãnh đạo Sở NN-PTNT, tính đến thời điểm hiện tại, diện tích xuống giống lúa toàn tỉnh là 294.279ha/330.000ha, đã thu hoạch 189.902ha, ước sản lượng hơn 1,2 triệu tấn, trong đó, lúa đặc sản, lúa thơm các loại chiếm gần 53% diện tích, sản lượng chiếm hơn 52%. Về lĩnh vực thủy sản đã thả nuôi 36.563ha thủy sản các loại, trong đó diện tích nuôi tôm nước lợ là 28.007ha, còn lại là cá các loại và thủy sản khác. Riêng về diện tích cây ăn trái là 28.237ha và để nhà vườn thuận tiện trong việc đưa các loại trái cây vào thị trường cao cấp, ngành nông nghiệp đã xây dựng 10 vùng trồng được cấp 36 mã code; xây dựng được 4 chuỗi liên kết giá trị sản phẩm trên cây vú sữa, xoài, bưởi, nhãn, duy trì hơn 373ha cây ăn trái sản xuất VietGAP.

Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp đã làm tốt công tác phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn ngay từ đầu mùa khô; khuyến cáo hộ dân khung lịch mùa vụ; kiểm soát tốt dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm, nhất là bệnh dịch tả heo châu Phi…

Tại hội nghị, đại biểu thảo luận về tình hình sản xuất nông nghiệp tại địa phương cũng như công tác phối hợp giữa các đơn vị liên quan trực thuộc sở; các mô hình hiệu quả trong trồng trọt, chăn nuôi; công tác triển khai các công trình, dự án do ngành nông nghiệp thực hiện; vấn đề tái đàn heo; phát triển các sản phẩm OCOP tiềm năng; công tác bảo vệ rừng; hoạt động trung tâm dịch vụ nông nghiệp sau quá trình thành lập tại huyện…

Thông qua ý kiến các đại biểu, Giám đốc Sở NN-PTNT đề nghị các đơn vị chuyên môn trực thuộc sở cùng các địa phương tiếp tục theo dõi và chăm sóc vụ Hè - Thu và Thu - Đông năm 2020 nhằm đạt mục tiêu sản lượng trên 2 triệu tấn/năm cũng như theo dõi tình hình dịch hại trên cây trồng. Đồng thời, nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả như VietGAP theo hướng hữu cơ, liên kết sản xuất... Bên cạnh đó, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm; nhân rộng các mô hình nuôi tôm hiệu quả theo quy chuẩn VietGAP, GlobalGAP, ASC...; tăng cường công tác kiểm tra bảo vệ rừng; kiểm tra, rà soát hệ thống đê, kè, cống; tổ chức giới thiệu sản phẩm OCOP trong và ngoài tỉnh; đẩy mạnh việc thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm nông lâm sản và thủy sản...

Thúy Liễu

Hậu Giang: Rắn ri voi hút hàng, tăng giá

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Nếu đầu vụ, giá mỗi con rắn ri voi giống 3 ngày tuổi chỉ 60.000 đồng/con, loại 1 tháng tuổi 80.000 đồng/con thì hiện tăng gần 20.000 đồng/con và tăng gần 30.000 đồng/con so với năm trước. Theo nhiều nông hộ nuôi rắn ri voi sinh sản ở huyện Phụng Hiệp (tỉnh Hậu Giang), rắn ri voi hiện có giá trị kinh tế cao, nên nhiều nông hộ thả nuôi. Từ đó, nguồn con giống rất hút hàng, thậm chí có trường hợp rắn chưa đẻ người dân đã cọc mua con.

Mỗi con rắn ri voi giống tăng gần 30.000 đồng/con so với năm rồi.

Rắn con sau 18 tháng nuôi sẽ bắt đầu cho sinh sản, mỗi năm đẻ từ 8-15 con, thu nhập trên 600.000 đồng/con rắn sinh sản. Riêng rắn thịt có giá từ 600.000-700.000 đồng/kg.

Tin, ảnh: QUỐC THỊNH

Vĩnh Phúc: Hướng tới xây dựng thương hiệu ‘Gà Tam Đảo’

Nguồn tin: Báo Vĩnh Phúc

Từ lâu, gà đồi Tam Đảo trở thành một trong những món ăn hấp dẫn, khiến du khách gần xa không thể bỏ qua mỗi khi đặt chân tới vùng đất này. Tuy nhiên, dù chất lượng đã được khẳng định, nhưng đến nay, thương hiệu gà Tam Đảo vẫn chưa được gây dựng. Nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế, nâng tầm giá trị cũng như chất lượng đàn gà, huyện Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) xây dựng kế hoạch triển khai mô hình chăn nuôi gà an toàn sinh học, hướng tới xây dựng thương hiệu “Gà Tam Đảo”.

Do chưa có thương hiệu nên giá gà thả đồi của gia đình ông Lăng Văn Bình, thôn Làng Chanh, xã Tam Quan, huyện Tam Đảo còn bấp bênh, đầu ra thiếu ổn định. Ảnh: Nguyễn Lượng

Tận dụng hơn 1ha đất vườn đồi, gia đình ông Lăng Văn Bình, thôn Làng Chanh, xã Tam Quan chăn thả hơn 1,3 vạn gà thịt. Từ lâu, nghề nuôi gà thả đồi đã tạo việc làm, góp phần nâng cao đời sống cho gia đình ông. Gà được nuôi thả tự nhiên trên đồi, chất lượng thịt săn chắc và thơm ngon nên được người tiêu dùng, các thương lái trong và ngoài tỉnh ưa chuộng.

Tuy nhiên, những năm gần đây, giá gà bấp bênh khiến ông Bình không khỏi băn khoăn. Ông chia sẻ: “Do chăn nuôi tự phát nên giống gà nuôi cũng không cố định. Hơn nữa, gà chưa có thương hiệu nên giá bán chưa cao và đầu ra thiếu ổn định, khó vào các kênh tiêu thụ lớn”.

Với những đặc điểm về điều kiện đất đai và địa hình, Tam Đảo có những ưu thế nhất định để phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gà. Cuối năm 2019, tổng đàn gà trên địa bàn huyện có khoảng 1,8 triệu con.

Tuy nhiên, việc phát triển chăn nuôi gà còn mang tính tự phát, việc kiểm soát chất lượng chưa được chú trọng nên dịch bệnh thường xảy ra, thị trường, giá cả không ổn định. Nhằm khắc phục tình trạng trên, huyện Tam Đảo xây dựng kế hoạch triển khai mô hình chăn nuôi gà an toàn sinh học, hướng tới xây dựng thương hiệu “Gà Tam Đảo”.

Từ nay đến hết năm 2022, huyện sẽ lựa chọn các hộ trên địa bàn có điều kiện phát triển chăn nuôi gà để hỗ trợ kinh phí, kỹ thuật và một số điều kiện cần thiết xây dựng mô hình điểm trong chăn nuôi gà theo hướng hữu cơ, từng bước xây dựng thương hiệu “Gà Tam Đảo”.

Giống gà dự kiến lựa chọn để xây dựng thương hiệu là gà Lạc Thủy và gà rừng lai Tam Đảo. Thức ăn chăn nuôi, thiết bị vật tư áp dụng tại mô hình phải đảm bảo chất lượng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, được mua tại cơ sở uy tín, có tiêu chuẩn cơ sở.

Dự kiến sau khi các mô hình điểm chăn nuôi gà an toàn sinh học, hướng tới xây dựng thương hiệu “Gà Tam Đảo” đạt kết quả tốt, huyện sẽ phát triển chăn nuôi ở các hộ vệ tinh để thuận tiện cho việc tham gia học hỏi kinh nghiệm, trao đổi kiến thức chăn nuôi; hỗ trợ một phần chi phí giống, vắc xin...

Cán bộ ngành Nông nghiệp sẽ trực tiếp hỗ trợ, hướng dẫn người dân kỹ thuật để quy trình chăn nuôi đạt hiệu quả cao nhất. Phấn đấu đến hết năm 2022, trên địa bàn huyện phát triển trên 20 vạn gà được nuôi theo hướng xây dựng thương hiệu “Gà Tam Đảo”.

Ngoài ra, huyện sẽ hỗ trợ xây dựng 2 cơ sở giết mổ gia cầm với đầy đủ các hạng mục: Lò giết mổ với quy mô tối thiểu 500 con/ngày; hệ thống xử lý chất thải, nước thải; chuồng trại phục vụ nuôi dưỡng gia cầm chờ giết mổ.

Đồng thời, tổ chức quảng bá, giới thiệu sản phẩm ra thị trường thông qua các hội chợ triển lãm; hỗ trợ các hộ chăn nuôi đăng ký chất lượng VietGAP, sản phẩm OCOP và xây dựng thương hiệu “Gà Tam Đảo”; hỗ trợ tem, nhãn và một số dụng cụ đóng gói sản phẩm để xuất ra thị trường; xây dựng các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, thành lập các tổ hợp tác hoặc HTX để điều hành hoạt động, quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Để kế hoạch đạt hiệu quả cao, huyện khuyến khích và tạo điều kiện cho các hộ tự dồn điền đổi thửa nhằm thuận tiện cho việc xây dựng các khu chăn nuôi tập trung, đáp ứng nhu cầu phát triển, giảm thiểu ô nhiễm môi trường; tăng cường chỉ đạo, hỗ trợ phát triển chăn nuôi theo chuỗi khép kín; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, kịp thời cung cấp thông tin thị trường cho người chăn nuôi thông qua các phương tiện truyền thông, các buổi tập huấn, hội nghị; tăng cường sự hợp tác giữa 4 nhà, đảm bảo việc cung cấp giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm được chặt chẽ.

Cùng với đó, khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào giết mổ, chế biến tập trung; tăng cường năng lực cho các hộ chăn nuôi nhằm hạn chế rủi ro; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong chăn nuôi, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm gia cầm không rõ nguồn gốc, làm ảnh hưởng tới uy tín và chất lượng của sản phẩm gà Tam Đảo.

Phùng Hải

Bỏ phố về quê, khởi nghiệp nuôi dê lấy sữa

Nguồn tin: Báo Đắk Lắk

Từng làm chủ một doanh nghiệp start-up về viễn thông tại TP. Hồ Chí Minh, đã có chi nhánh tại một số nước Đông Nam Á, thế nhưng cách đây hai năm, anh Nguyễn Văn Hải (sinh năm 1984, quê ở Quảng Trị) đã quyết định chuyển hướng, về Đắk Lắk đầu tư nuôi dê lấy sữa.

Bước sang một lĩnh vực mới, anh Hải phải tự mày mò, tìm hiểu từ dê giống, quy trình kỹ thuật, chăm sóc thú y… Anh xin học việc tại các trang trại nuôi dê ở Tiền Giang, Lâm Đồng rồi về quê vợ ở xã Ea Bar (huyện Buôn Đôn) mua đất lập nghiệp. Anh phải bỏ ra gần 1 năm ròng để tự tay xây dựng hạ tầng, chuồng trại, trồng cỏ voi trên 1 ha đất vừa mua. Làm nông vất vả, trong khi gia đình không ủng hộ mà vẫn thuyết phục anh theo đuổi sự nghiệp viễn thông đúng với ngành đã học, anh Hải từng chịu áp lực đến mức gần như “ở ẩn”, không dám tham gia mạng xã hội để có thể an định với mục tiêu mình đặt ra.

Anh Nguyễn Văn Hải khai thác sữa dê vào mỗi buổi sáng trong ngày.

Do chưa có kinh nghiệm về chăm sóc, những lứa dê đầu tiên bị ốm, chết khá nhiều, tỷ lệ hao hụt dê con lên đến 30%, tỷ lệ cho sữa đạt thấp. Anh lại tự mày mò giáo trình hướng dẫn từ các trường đại học có uy tín, tham gia hội nhóm chăn nuôi để tham khảo cách thức xử lý. Bên cạnh việc mua dê giống chuyên sữa như Saanen, Nubian, anh còn tự lai tạo thêm với dòng dê Bách Thảo nhằm tăng dần tính thích nghi. Anh cũng ứng dụng đệm lót sinh học, tạo môi trường nuôi thông thoáng, chú trọng các giải pháp phòng bệnh, tiêm vắc xin định kỳ, nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho đàn dê. Đến tháng 9-2019, anh bắt đầu cung cấp sản phẩm sữa dê cho thị trường, với sản lượng mới chỉ đạt từ 1 - 2 lít/ngày.

Hiện đàn dê của gia đình anh đã phát triển lên 80 con, với bình quân gần 20 con cái đang khai thác sữa, sản lượng đạt trên 10 lít/ngày. Sữa dê sau khi vắt xong được đưa ngay vào máy thanh trùng, làm lạnh để đảm bảo dinh dưỡng. Sản phẩm Sữa dê thanh trùng Ban Mê do trang trại sản xuất đã được anh Hải đưa đi kiểm nghiệm và đạt các tiêu chí: không có dư lượng thuốc trừ sâu, không có dư lượng kháng sinh, không độc tố vi nấm, không chứa kim loại nặng. Sản phẩm được vợ chồng anh trực tiếp đóng gói, giao đến tận tay khách hàng và các đầu mối tiêu thụ trong ngày.

Thanh trùng sữa dê tươi bằng máy trước khi đóng chai.

Sản phẩm Sữa dê Ban Mê hiện đã có mặt tại 4 cửa hàng thực phẩm sạch ở TP. Buôn Ma Thuột và một số đại lý ở Đà Nẵng, Quảng Trị, Bình Dương… với giá thành sữa dê thanh trùng đến tay người tiêu dùng là 100.000 đồng/lít. Anh Hải cũng đang liên kết với Công ty Thương mại điện tử FoodMart để phát triển bán hàng trực tuyến tại TP. Hồ Chí Minh và bán hàng lưu động bằng xe tải chuyên dụng tại khu vực chợ Trung tâm Buôn Ma Thuột, tích cực giới thiệu sản phẩm dinh dưỡng mới đến khách hàng địa phương.

Anh Hải tâm sự, những kết quả này chỉ là 10% khởi đầu của lộ trình anh vạch ra với ước mơ xây dựng vùng sản xuất sữa dê lên đến hàng chục héc-ta, quy mô trên 1.000 con. Trước mắt, anh tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất theo hướng hữu cơ, nghiên cứu thêm các sản phẩm mới như sữa chua, bánh plan… và tích cực xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ. Anh cũng tìm thêm các bạn trẻ có cùng đam mê khởi nghiệp trong lĩnh vực nuôi dê lấy sữa, tạo điều kiện thực tập ngay tại trang trại để xây dựng một chuỗi cung ứng ổn định, lâu dài với nguồn sữa chất lượng cao cho thị trường.

Đinh Nga

Hiếu Giang tổng hợp

Chăm sóc khách hàng

(84-28) 37445447-(84-28) 3898 9090
Yahoo:
Skype:
Yahoo:
Skype:
Địa chỉ: 22-24 đường số 9, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

FANPAGE FACEBOOK

Thông tin cần biết

backtop